Giọng điệu trong di cảo thơ chế lan viên - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN ANH TUẤN

NGUYỄN ANH TUẤN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

GIỌNG ĐIỆU
TRONG DI CẢO THƠ CHẾ LAN VIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

KHÓA: 19
HÀ NỘI, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN ANH TUẤN

GIỌNG ĐIỆU
TRONG DI CẢO THƠ CHẾ LAN VIÊN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. La Nguyệt Anh
(Chữ ký của người hướng dẫn)

Nguyễn Anh Tuấn


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài

1

2. Lịch sử vấn đề

3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7

4. Mục đích nghiên cứu

7

5. Phương pháp nghiên cứu

12

1.2. Chế Lan Viên và hành trình kiến tạo giọng điệu nghệ thuật

15

1.3. Vị trí Di cảo thơ trong sự nghiệp thi ca của Chế Lan Viên

20

Chương 2. Những sắc thái giọng điệu đặc trưng
trong Di cảo thơ Chế Lan Viên

23

2.1. Giọng suy tư, chiêm nghiệm

23

2.1.1. Suy tư, chiêm nghiệm về bản thể

23

2.2.2. Suy tư, chiêm nghiệm về thế sự, đời thường

32

2.2. Giọng chất vấn, đối thoại

36


3.2.1. So sánh

59

3.2.2. Đối lập, tương phản và tương đồng

62

3.2.3. Câu hỏi tu từ

66

3.3. Thể thơ và nhịp điệu

68

3.3.1. Sự đa dạng trong nhịp điệu thơ tứ tuyệt

68

3.3.2. Cách tạo nhịp lạ trong thể thơ tự do

71

KẾT LUẬN

77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

thời kỳ: thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, thời kỳ kháng chiến và
thời kỳ sau 1975. Thơ ông luôn có sự tìm tòi, khám phá và sáng tạo, gắn với một
phong cách đặc sắc và có vẻ đẹp riêng. Thơ Chế Lan Viên được đánh giá là đạt
đến đỉnh cao về tư tưởng, nghệ thuật và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn
học nước nhà. Trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại, hiếm có
một nhà thơ nào chiếm lĩnh được cả ba đỉnh cao ở cả ba thời kỳ sáng tác như
Chế Lan Viên. Chính tài năng và những thành tựu to lớn trong sự nghiệp sáng
tác mà Chế Lan Viên đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt là


2
những vần thơ Di cảo được người bạn đời của ông - nhà văn Vũ Thị Thường
miệt mài sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu cùng bạn đọc ba tập Di cảo thơ vào
các năm 1992, 1993, 1996. Mặc dù phần lớn Di cảo thơ mới chỉ ở dạng phác
thảo nhưng tác phẩm đã cho ta thấy một Chế Lan Viên chân thực, luôn trăn
trở không ngừng để đổi mới bản thân, một con người dám sống thật với chính
mình, dám nói lên tiếng nói của mình.
1.3. Trong thế giới nghệ thuật của Di cảo thơ Chế Lan Viên thì vấn đề
“giọng điệu” giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Nó đã góp phần tạo nên chân
dung một Chế Lan Viên mới, mang lại cho Di cảo thơ những giá trị riêng. Giọng
điệu nghệ thuật thơ Chế Lan Viên đã được nghiên cứu ở nhiều mức độ khác
nhau. Nhưng việc nghiên cứu chuyên sâu giọng điệu Chế Lan Viên ở từng giai
đoạn sáng tác vẫn còn nhiều bỏ ngỏ với nhiều khía cạnh cần được kiến giải thấu
đáo, thấy được những đặc sắc nghệ thuật trong từng giai đoạn sáng tác của tác
giả. Bởi vậy, nghiên cứu giọng điệu trong Di cảo thơ Chế Lan Viên là một việc
làm hữu hiệu để thấy được nét độc đáo trong phong cách, sự ổn định, vận động,
biến đổi cùng những đóng góp của Chế Lan Viên trong tiến trình thơ Việt Nam
hiện đại.
1.4. Thơ Chế Lan Viên “là một minh chứng cho sức nghĩ, sức cảm của một
tâm hồn thơ không ngừng tỏa sáng trong suốt cuộc đời từ những vần thơ tài

sáng suốt và đáng tin cậy nhất bao giờ cũng là của thời gian và các thế hệ độc
giả hôm nay và mai sau” [25, tr.32].
Trần Thanh Đạm đã viết: “những bài thơ đang còn dở dang anh để lại trong
Di cảo phần lớn là những chiếc lá thơm hái lúc về già, mỗi chiếc mang một chút
hương tư tưởng từ cuộc đời anh như cây đó lâu năm ruột hóa thành trầm và
hương trầm đó đã chuyển chất thơm lên lá. Đó là những mảnh suy tư và xúc cảm
về vũ trụ, về nhân sinh, về nghệ thuật, về thơ”. Đồng thời ông khẳng định:
“Trong các nhà thơ của thế kỉ chúng ta, Chế Lan Viên vẫn là nhà thơ giàu chất
triết lí hơn cả” [48, tr.106].
Tác giả Võ Tấn Cường viết bài Di cảo thơ Chế Lan Viên coi đó là “di chúc
thơ về cuộc đời và nghệ thuật... đã gây nên những dao động về cảm xúc thẩm mỹ
trong người đọc” và nhà thơ “hướng về những triết lý nhân sinh sâu thẳm và sinh


4
tồn của nhân loại”. Tác giả Trần Hoài Anh với bài viết Nhà thơ trong quan niệm
thơ Chế Lan Viên đã nhận xét: “trong tư duy của Chế Lan Viên nhà thơ không
phải là người bình thường mà vẫn là người nghệ sĩ có phẩm chất khác thường.
Song cái khác thường ở đây không phải là một kiểu lập dị, xa lạ đối với thế giới
con người mà đó là cái khác thường cần có và phải có trong phẩm chất mỗi thi
nhân.” [45, tr.93]. Tác giả Huỳnh Văn Hoa trong bài Chế Lan Viên với cái nhìn
nghệ thuật trong viết cho rằng: “vấn đề sống chết, ý nghĩa thời gian, về công
nghiệp một đời người, về cõi quên là những vấn đề triết học muôn đời của con
người” [40, tr.287]. Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong bài Chế Lan Viên
- Người đi tìm mặt nhận xét: “Thành thực giãi bày và thừa nhận những góc khuất
đời thật của mình, đó là điểm khá thú của Di cảo thơ Chế Lan Viên” [48, tr.216].
Những ý kiến trên cho thấy sự chuyển hướng trong tư duy thơ, bản lĩnh
nghệ thuật của Chế Lan Viên, khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của
Chế Lan Viên qua những vần thơ được tiếp tục công bố sau khi tác giả qua đời.
Vấn đề giọng điệu nghệ thuật ở thơ Chế Lan Viên sau 1975, đặc biệt là

Viên trong Di cảo đã viết: “Đọc các tập Di cảo... chúng ta được biết thêm một
thế giới khác nữa của Chế Lan Viên. Đây chính là thơ bổ sung, thế giới bổ sung
vào đời thơ Chế Lan Viên. Chúng ta sẽ còn tốn nhiều bút mực về các thi phẩm
này” [46, tr.218]. Đánh giá về những bài thơ trong Di cảo, nhà thơ Vũ Quần
Phương nhận xét: “Về kết cấu bài có thể chưa hoàn chỉnh, đôi câu, đôi đoạn còn
non lép hoặc trùng chất liệu với các bài khác, nhưng chủ đề, ý tứ đã rõ và chúng
như có riêng một giọng thơ, một cách nói. Cái cách nói như đang chuyện trò,
đang lập luận, bình dị, bình dân” [46, tr.220-221]. Tác giả nhận thấy ở những
vần thơ Di cảo, Chế Lan Viên “Không lạc quan mà là chiêm nghiệm những
chiêm nghiệm trụi trần, không màu mè mỹ tự nhưng sâu sắc” [47, tr.223].
Đoàn Trọng Huy trong nhiều bài viết đã đề cập đến vấn đề giọng điệu thơ
Chế Lan Viên sau 1975, nhất là giọng điệu Di cảo thơ. Khi tìm hiểu Khuynh
hướng vận động thơ Chế Lan Viên từ sau 1975, tác giả Đoàn Trọng Huy nhận
thấy: “Chế Lan Viên luôn tỉnh táo lựa chọn giọng điệu phù hợp với thời sự” [20,
tr.113]. Tác giả cho rằng: “Sự chuyển giọng đâu chỉ là yêu cầu của hình thức
nghệ thuật đơn thuần. Giọng thơ nói lên chính chuyển biến điệu tâm hồn nghệ


6
sĩ” [20, tr.115]. Cụ thể hơn, trong bài viết Đọc những trang để lại, thêm hiểu
một hồn thơ Di cảo, Đoàn Trọng Huy nhận thấy: “Những tập thơ tiếp theo nhau
từ sau 1975 Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình đã đánh dấu một
chặng đường sáng tác mới của Chế Lan Viên, chặng đường thơ chuyển mạnh
vào loại đề tài thế sự đời thường với giọng trầm tư sâu lắng” [21, tr.209]. Trong
bài viết Chế Lan Viên - Độc đáo một tiếng thơ giàu sắc điệu, tác giả Đoàn Trọng
Huy đã khái quát Sự vận động và biến hoá giọng điệu thơ Chế Lan Viên. Theo
tác giả: “một cách tóm lược, ta có thể nhận diện được giọng điệu cơ bản như âm
hưởng thơ của một thời”. Theo đó, tác giả đã phác thảo “một cái nhìn đại thể”
về giọng điệu thơ Chế Lan Viên:
“- Thời kỳ đầu đời: Giọng điệu sầu hận, kinh hoàng, gay gắt.

sánh với các tập thơ khác của Chế Lan Viên và của các nhà thơ cùng thời.
4. Mục đích nghiên cứu
Về mặt lí luận, chúng tôi cố gắng khẳng định thêm vai trò của giọng điệu
trong sáng tác văn chương. Trên cơ sở đó, luận văn thực hành nghiên cứu ba tập
Di cảo thơ và tập trung vào vấn đề trọng tâm là giọng điệu - một trong những
phương diện quan trọng thể hiện phong cách nghệ thuật.
Từ đó, chúng tôi hi vọng có thể góp thêm tiếng nói khẳng định vị trí đặc
biệt của ba tập Di cảo thơ trong hành trình nghệ thuật thơ Chế Lan Viên và phần
nào nhận diện toàn vẹn, chính xác hơn chân dung của nhà thơ. Qua đó làm nổi
bật giá trị nội dung Di cảo thơ cùng bước phát triển về phong cách nghệ thuật
thơ Chế Lan Viên, chỉ ra quá trình vận động của thơ Chế Lan Viên.
Mục đích cuối cùng mà đề tài hướng tới là nhằm vận dụng vào việc học tập,
nghiên cứu của sinh viên, đặc biệt là sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 cùng những người yêu thích thơ Chế Lan Viên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này có sự phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này giúp chúng tôi thống kê, tập hợp những bài thơ của Chế
Lan Viên trong ba tập Di cảo thơ, sau đó tiến hành phân loại theo những tiêu chí
khác nhau gắn với mục đích nghiên cứu của đề tài.


8
5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Đánh giá, khẳng định một vấn đề bất kì, người nghiên cứu bao giờ cũng phải
đặt vấn đề ấy trong mối quan hệ với những vấn đề khác và chỉ trong quan hệ so
sánh đối chiếu, vị trí, giá trị của vấn đề mới được khẳng định. Với phương pháp
này, tác giả luận văn sẽ làm rõ hơn quá trình vận động, chuyển biến tất yếu trong
thơ Chế Lan Viên, làm rõ được nét độc đáo của giọng điệu trong Di cảo thơ.
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu chủ yếu trên bình diện lịch đại nghĩa là

1.1.1. Giọng và giọng điệu
Theo Từ điển văn học, giọng được xác định: “Độ cao thấp mạnh yếu của
lời nói, tiếng hát, cách phát âm riêng của một địa phương, cách diễn đạt bằng
ngôn ngữ, biểu thị tình cảm thái độ nhất định, gam đã xác định âm chủ”[15,
tr.298]. Cũng theo Từ điển văn học, giọng điệu được hiểu là: “Giọng nói, lối nói
biểu thị một thái độ nhất định; Ngữ điệu” [15, tr.295].
Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: giọng điệu vốn được ghép trên cơ sở hai thành
tố: giọng và điệu. Về cơ bản giọng “biểu thị mặt âm thanh “khí lực” của người
nói”, điệu “chủ yếu biểu thị đường nét, màu sắc của giọng” [5, tr.34]. Như vậy,
điểm chung giữa giọng và giọng điệu là đều nhấn mạnh đặc tính âm thanh của lời
nói.
Khi đề cập đến vấn đề âm thanh (sound) của diễn ngôn, giới nghiên cứu
thường sử dụng hai khái niệm voice và tone. Trong đó voice được hiểu là giọng;
tone được hiểu là giọng điệu. Bách khoa thư Mỹ định nghĩa: “Voice là âm thanh
được sinh vật phát ra”, “Tone là âm thanh được xét trong sự can thiệp của
trường độ, cường độ, âm sắc và âm lượng của nó” [dẫn theo 11, tr.9].
K.Danzger và S.Johnson khẳng định giọng điệu (tone): “Là một phạm trù có
liên quan đến tất cả các yếu tố tạo nên văn phong (style) bao gồm: cách diễn
đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh và nhịp điệu, là biểu hiện của một thái độ về
phía đối tượng (object) được nêu rõ hay ngụ ý” [dẫn theo 11, tr.10]. Katie
Wales trong Từ điển phong cách học quan niệm: “Giọng được dùng để miêu tả
ai là người nói”. “Giọng điệu được dùng với nghĩa một phẩm chất âm thanh
đặc biệt nào đó có liên quan đến những xúc cảm hoặc tình cảm đặc biệt nào đó.
Đôi lúc giọng điệu được dùng để chỉ một chất giọng phổ quát được điều hành


10
bởi một tác giả ẩn” [dẫn theo 11, tr.11]. M. Bakhtin lại đưa ra khái niệm “đa
thanh” nhằm ghi nhận sự phát triển của giọng và giọng điệu.
Trong văn học, giọng điệu (hay giọng điệu nghệ thuật) là yếu tố quan trọng

phương diện phong cách: nóng, lạnh, nhu, cương, khoan thai hay dồn dập, sôi
nổi, trân trọng hay mỉa mai, khinh bỉ hay ngợi ca, yêu thương hay căm giận,
mềm mại, dịu dàng hay cứng cỏi, kiên quyết, tha thiết gắn bó hay thờ ơ, lãnh
đạm... Giọng điệu là âm hưởng chung toát lên từ toàn bộ tác phẩm nghệ thuật.
Nó là hình thức bộc lộ rõ nhất chủ quan người nghệ sĩ. Toàn bộ cách cảm, cách
nhìn, phương pháp tư duy, kiểu nhận thức thế giới, tình cảm, thái độ, lập trường,
quan điểm, đạo đức của nhà văn được thể hiện đậm nét qua giọng điệu, tạo nên
giọng nói riêng, phong cách riêng, mang dấu ấn của cá tính sáng tạo, không thể
bắt chước hoặc thay thế. Vì vậy mà giọng điệu văn chương còn có ý nghĩa như
một tiêu chí để xác định chân tài của nhà văn. Như thế đứng ở bình diện thi
pháp, chủ yếu chúng ta tìm hiểu các giọng điệu gắn với tình điệu, với văn khí,
với hơi văn, mạch văn, giọng văn, cái giai điệu, cái “hồn” chi phối toàn tác
phẩm và đây chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt nhà
văn này so với nhà văn khác.
Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Giọng điệu tác phẩm là biểu hiện cụ thể của
giọng điệu nhà văn, và đến lượt mình giọng điệu nhà văn là cơ sở tạo nên âm
hưởng chung của một thời đại văn học. Tuy nhiên, giọng điệu nhà văn, nhà thơ
không phải là một hiện tượng tĩnh tại, bất biến mà vận động, biến hóa. Mỗi một
nghệ sĩ lớn thường là một nghệ sĩ tạo ra được một dải phổ giọng điệu rộng lớn,
phong phú mà thống nhất. Đó là sự thống nhất của cái đa dạng” [5, tr.342]. Từ
đó nó đề cao, coi trọng vai trò chủ thể sáng tạo.
Có thể phân loại giọng điệu theo nhiều cách: Phân loại theo sắc thái tình
cảm: giọng trang trọng hay thân mật, giọng mến thương hay gay gắt, dịu dàng
hay dữ dội...; Theo nội dung tình cảm: bi, hài, anh hùng ca, lãng mạn hiện thực;
Theo khuynh hướng cảm hứng: thông cảm, phê phán, khẳng định, phủ định, yêu
thương, căm thù; Theo cấu trúc giọng: giọng đơn, giọng chính, giọng phụ; Theo
cấu trúc thể loại: tự sự, trữ tình, chủ quan, khách quan... Ngoài ra còn có thể


12

13
mượn lời thơ để nói với chính mình, để tự giải tỏa những xúc cảm, bức xúc đang
dồn dập trong lòng. Nó bộc lộ tất cả những gì trong sâu thẳm lòng người.
Giọng điệu nổi bật và bao trùm của thơ trữ tình là tự biểu hiện, thể hiện
trực tiếp, trực diện quan niệm, thái độ lập trường của nghệ sĩ mà giọng điệu thơ
mang tính chủ quan. Tự biểu hiện mình (và thời đại mình) qua niềm vui, nỗi
khổ, đớn đau, hạnh phúc, chua cay, ngọt bùi. Giọng điệu chung để thể hiện nội
dung thơ trữ tình là trình bày, giãi bày, tâm tình, thổ lộ các nỗi niềm, suy tư,
khát vọng để giải tỏa, giải thoát hoặc tìm sự đồng cảm, sẻ chia. Theo Bakhtin
“cả những cái xa lạ với mình nhà thơ cũng nói đến bằng tiếng nói của mình”
[dẫn theo 11, tr.34]. Nhà thơ trữ tình có thể viết về cái chung hay cái riêng,
nhưng dù là chung hay riêng bao giờ cũng phải gắn với một xúc cảm mãnh liệt,
chân thành tạo nên giọng điệu riêng của mình, thơ trữ tình là “bản tự thuật tâm
trạng”, là những mảng tâm trạng điển hình, những nhát cắt của dòng cảm xúc
mãnh liệt cho nên giọng điệu tác phẩm thường trùng khít, tương hợp với ý đồ tác
giả. Tâm trạng là trạng thái tâm hồn vừa cụ thể vừa trừu tượng không dễ gì gọi
tên ra được. Nó giống như một giai điệu đang vang lên trong tâm hồn. Giai điệu
ấy buồn hay vui, hạnh phúc hay đau khổ nó sẽ được biểu hiện ra bằng giọng
điệu tương tự, bằng nội dung tương tự.
Xuất phát từ quan điểm loại hình lịch sử, Nguyễn Đăng Điệp đã tiến hành
khảo sát các loại hình giọng điệu bao hàm từ thơ ca dân gian đến thơ ca trung
đại, thơ ca hiện đại và thơ lãng mạn, thơ siêu thực. Ông phát hiện giọng điệu
trong thơ dân gian là: “Giọng điệu của một tập thể, nó thể hiện cảm xúc, thái độ
của một lớp người, một tập thể nào đó chứ không phải là sản phẩm của một cá
tính sáng tạo đơn nhất, không lặp lại như thơ trữ tình sau này” [5, tr.343]. Thơ
trung đại: “Do tập trung thể hiện con người siêu cá thể, nhìn con người trong sự
tương thong với vũ trụ theo kiểu “tâm vật cảm ứng” nên giọng điệu chủ thể tuy
đã xuất hiện song chưa thật phát triển” [5, tr.343]. Thơ lãng mạn: “Do đặt lên
hàng đầu vai trò của cảm xúc cá nhân, nhìn thế giới qua lăng kính của cái tôi cá
nhân nên giọng điệu thơ ca đặc biệt nổi bật” [5, tr.344]. Còn thơ tượng trưng và

vào quãng cách như trong âm nhạc. Ngữ điệu trong thơ là âm thanh biểu thị ở
giọng lên cao hay xuống thấp, lời chậm và nhanh, giọng mạnh và yếu, ngắt hơi


15
nhiều ít. Ngữ điệu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tính gợi cảm. Tính gợi
cảm tự nó không có ý nghĩa độc lập mà nó sống trong một văn cảnh nhất định.
Trong thơ trữ tình, ngữ điệu là một dấu hiệu mang tính chủ quan của người nghệ
sĩ và nó cũng là dấu hiệu của giọng điệu. Ngữ điệu trong thơ chia thành hai nhóm
cơ bản: thơ trữ tình điệu nói và trữ tình điệu ngâm. Trữ tình điệu ngâm là sản
phẩm của tư duy thơ truyền thống, biểu hiện cái phi ngã. Trữ tình điệu nói lại
hướng tới cái bản ngã, cái cá nhân. Phải đến trữ tình điệu nói, giọng điệu cá nhân
nghệ sĩ mới thực sự có đường nét; Mỗi thể loại thơ hàm chứa trong nó những sức
mạnh nội tại riêng nên nó phát ra những giọng điệu riêng: lục bát thường ngọt
ngào, vỗ về, song thất lục bát ngâm nga, thống thiết, sâu lắng, thơ năm chữ nén
chặt và bay bổng, thơ tự do chân thành phóng khoáng... Tùy sở trường, tùy chất
giọng của mỗi nhà thơ mà các thể loại thơ khác nhau được sử dụng. Chế Lan Viên
hay viết theo thể thơ tự do nhưng ông cũng có nhiều bài tứ tuyệt.
Giọng điệu hiện ra như một yếu tố cơ bản thuộc phong cách nghệ thuật,
giọng điệu cho phép người đọc nhận ra vẻ riêng nghệ sĩ, vừa có ý nghĩa như một
tiêu chí xác định chân tài nhà văn. Xét ở tầng sâu, giọng điệu còn chi phối cả kết
cấu nghệ thuật. Đây thực sự là mối liên hệ bên trong và sự chi phối, tương liên
này góp phần làm nên sự thống nhất cơ bản của tác phẩm. Giọng điệu còn bộc lộ
ở việc tổ chức, bài trí điểm nhìn nghệ thuật. Chính ở đây người đọc nhận ra thái
độ cảm thụ, cự ly soi ngắm hiện tượng, khoảng cách giữa cái đang nói và cái
được nói, mức độ gần gũi, xa cách, thân sơ hay ngợi ca, châm biếm của giọng
điệu; Giọng điệu bao giờ cũng in đậm dấu ấn cá tính nghệ sĩ. Dấu vết môi
trường, vùng miền văn hóa, các quan hệ có liên quan đến nhà thơ cũng góp phần
tạo nên sự phong phú và màu sắc độc đáo của giọng điệu.
1.2. Chế Lan Viên và hành trình kiến tạo giọng điệu nghệ thuật

Viên luôn trăn trở giữa cái “Ta chung” và cái “Tôi cá nhân” kèm theo đó là sự
diễn biến đa dạng của các phương tiện biểu hiện trữ tình: thay đổi cảm hứng, sự
thay đổi của giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh thơ...
Trong thơ Chế Lan Viên nổi lên những giọng điệu cơ bản. Thời kỳ đầu là
giọng điệu ảo não pha màu sắc huyền bí trong Điêu tàn. Người thanh niên trẻ họ
Phan lúc ấy đã nhập vai một công dân Chàm, than khóc cho đất nước Chiêm


17
Thành. Tâm hồn nhà thơ trôi lạc vào dòng sông Linh hư ảo với những hồn ma
vất vưởng, những thành quách đổ nát trong một sắc màu tàn lụi, kinh dị. Nhà thơ
chìm đắm trong bóng tối cô đơn lạnh lẽo với những cơn mê sảng: “Mi nhớ gì,
tưởng gì trong đêm tối / Mi trông mong ao ước điều chi” (Cái sọ người) [46,
tr.28], “Ai kêu ta trong cùng thẳm Hư Vô? / Ai réo gọi trong muôn sao, chới
với?” (Ngủ trong sao) [46, tr.29]. Thậm chí “Ta” như hoảng loạn: “Hồn của ai
trú ẩn ở đầu ta?” (Ta) [46, tr.30]. Hỏi ngoại cảnh, không có lời đáp, thi sĩ đành
quay về hỏi lòng mình: “Mảnh hồn ta tiêu diệt tự bao giờ?” [46, tr.31]. Với hồn
thơ cô độc, Chế Lan Viên tìm tới cảnh ngộ buồn đau. Giọng điệu thơ Chế Lan
Viên mang sắc độ sầu bi, uất hận với thái độ quyết liệt chối bỏ hiện tại, chối bỏ
cả sự tồn tại của chính mình:“Ai bảo giùm: Ta có Ta không?”.
Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975, giọng điệu chủ
đạo trong thơ Chế Lan Viên là giọng hùng ca. Nếu tập Gửi các anh mới chỉ
đánh dấu sự chuyển giọng trong thơ Chế Lan Viên, thì Ánh sáng và phù sa là sự
định hình, phát lộ của một sắc điệu mới: hào sảng, say sưa ca ngợi đất nước và
cuộc đời mới. Đứng ở đỉnh cao của thời đại, với niềm tự hào của người dân làm
chủ đất nước, nhà thơ cất cao giọng hỏi: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”.
Chất giọng mới này là của con người gắn bó với cuộc sống hiện tại trong niềm
vui giữa muôn người. Cái tôi trữ tình hướng nội trong thế giới tưởng tượng của
riêng mình thời Điêu tàn đã nhường chỗ cho cái tôi trữ tình hướng ngoại. Thi
nhân trải lòng với đất nước, với cuộc đời chung rộng lớn, tạo nên giọng đa thanh

đi tìm hình của Nước, Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi…
Thời kỳ sau 1975 và những năm cuối đời là giọng điệu thâm trầm, suy
tưởng, day dứt của con người cá nhân thức dậy sau chiến tranh, của “cái tôi” thế
sự với bao trăn trở trong Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình, Di cảo
thơ. Đây là một sự hạ giọng cố ý kèm theo một chủ định tạo sắc giọng mới với
cảm hứng thế sự, đời thường. Ở những bài thơ, tập thơ viết ngay sau 1975, Chế
Lan Viên như một ca sĩ của thời đại, vẫn say sưa với giọng hát say mê, tự hào
khi ca ngợi Tổ quốc, nhân dân trong sự nghiệp chiến đấu anh hùng. Bên cạnh đó
là giọng phẫn nộ giận dữ, căm hờn như trút lửa để lên án, tố cáo, luận tội kẻ thù
với lời lẽ đanh thép về ý thức hệ như chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét


19
lại, chủ nghĩa thực dân và bọn bành trướng khi nêu cao lý tưởng chiến đấu: “Bịp
thế giới bằng số tỉ dân, bằng khối thịt biển người đồ sộ / Lũ “thái thú” tân trang
bằng một ngọn cờ hồng” (Thần chiến thắng) [47, tr.302]. Dù vậy, người đọc vẫn
dễ dàng nhận thấy sự hạ giọng trong thơ Chế Lan Viên. Sự chuyển giọng này
thể hiện trên cả lí luận lẫn thực hành thơ. Nhà thơ tuyên ngôn: “Giọng cao bao
nhiêu năm, giờ anh hát giọng trầm” (Giọng trầm) [62, tr.187]. Có thể thấy, thơ
Chế Lan Viên có sự chuyển giọng từ cao xuống thấp, chất hùng biện, chính luận
được thay bằng chất suy tưởng, triết luận. Từ vị thế của chiến sĩ - ca sĩ thời đại,
nhà thơ trở về với tư cách của một công dân giữa đời thường là con người trầm
tư. Chế Lan Viên nhìn đời với con mắt của người đã đi qua những trải nghiệm
và bằng một thế ứng xử mới. Với âm điệu chủ đạo là trầm lắng, giọng thơ Chế
Lan Viên vẫn thể hiện sự phong phú qua những cung bậc khác nhau. Có khi đều
là trầm ấm, lắng đọng nhân tình, có lúc là trầm buồn, đau xót. Có lúc Chế Lan
Viên phiêu diêu trong hư tưởng, trong hoài nghi: “Cuộc sống của vũ trụ là một
Bi Kịch Vui/ Hay đó là một nỗi Buồn vĩ đại làm ta phấn chấn” (Từ thế chi ca II)
[62, tr.27]; có khi lại rất trầm tĩnh, an nhiên, siêu thoát: “Anh còn một đêm, anh
còn một sáng/ Anh còn một tháng, anh còn một năm/ Đừng sợ mất gỗ đi, nếu


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status