1
LỜI CẢM ƠN
Sau hơn 6 tháng thực hiện, dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS.Trần Viết
Ổn, được sự ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cùng với sự nỗ
lực phấn đấu của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ kỹ thuật chuyên
ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước đúng thời hạn và nhiệm vụ với đề tài: “Nghiên
cứu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mức tưới cho lúa vùng
Trung du miền núi phía Bắc” Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã có cơ hội
học hỏi và tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu phục vụ cho
công việc của mình. Tuy nhiên do thời gian có hạn, trình độ còn hạn chế, số liệu và
công tác xử lý số liệu với khối lượng lớn nên những thiếu sót của Luận văn là
không thể tránh khỏi. Do đó, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự chỉ bảo giúp đỡ
của các thầy cô giáo cũng như những ý kiến đóng góp của bạn bè và đồng nghiệp.
Qua đây tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Trần Viết
Ổn, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những tài liệu,
những thông tin cần thiết cho tác giả hoàn thành Luận văn này. Tác giả xin chân
thành cảm ơn Trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài
nguyên nước, các thầy cô giáo các bộ môn đã truyền đạt những kiến thức chuyên
môn trong suốt quá trình học tập. Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các cơ quan,
đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra thu thập tài liệu cho
Luận văn này. Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, cơ quan,
bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện và khích lệ tác giả trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn. Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 9 tháng 03 năm 2015
Tác Giả
Triệu Thị Thu Thủy
2
làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt.
Biến đổi khí hậu có khả năng làm giảm năng suất của một số cây trồng chính. Vùng
trung du miền núi phía Bắc có năng suất lúa Đông Xuân giảm mạnh nhất. Năng suất
Hè Thu cũng giảm nhưng ở mức độ nhẹ hơn so với lúa Đông Xuân. Năng suất và
sản xuất lúa giảm mạnh nhất tại vùng miền núi phía Bắc, do vùng này sẽ bị thiếu
nước trầm trọng cho sản xuất lúa nước.
Hậu quả của BĐKH, là mục tiêu của phát triển bền vững; thúc đẩy sản xuất;
đem lại lợi ích. Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về những tác động của BĐKH
một nhiệm vụ khó khăn và đầy thử thách.
Khí hậu ảnh hưởng tới đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, bốc hơi. Biến đổi khí hậu
gây rối loạn chế độ mưa, thay đổi nhiệt độ làm ảnh hưởng đến chế độ tưới của cây
lúa, nhận thức được vấn đề và tầm quan trọng của nhu cầu nước đến chế độ tưới cho
cây lúa nói chung và cây trồng nói riêng ,để ứng phó và làm giảm thiệt hại của
BĐKH, đưa ra giải pháp có tính khả thi ứng phó hiệu quả với BĐKH nhằm đảm bảo
cho sự phát triển bền vững của ngàng nông nghiệp là vô cùng cần thiết
Hiện nay, có rất ít nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới mức tưới của lúa
trong ngàng trồng trọt. Đặc biệt khu vùng trung du miền núi phía Bắc một trong
những vùng có nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nhưng chưa có một nghiên cứu
nào về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mức tưới cho lúa
4
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi thấy rằng việc nghiên cứu: “Nghiên cứu đánh
giá ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến mức tưới cho lúa vùng trung du miền
núi phía Bắc ” là hết sức cần thiết. Với kết quả của đề tài, chúng ta sẽ có biện pháp,
kế hoạch cụ thể cho ngành sản xuất nông nghiệp, chủ động trước những ảnh hưởng
của BĐKH hiện nay cũng như các kịch bản BĐKH trong tương lai.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu xác định mức tưới cho lúa ứng với các kịch bản biến đổi khí
1.2.1. Loại tác động của BĐKH.......................................................................................................13
1.2.2. Tác động của BĐKH trên thế giới:........................................................................................16
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam......................................................................18
1.3. Tác động của Biến đổi khí hậu đến vùng trung du miền núi phía Bắc..............................21
1.3.1. Các tác động chính của biến đổi khí hậu.............................................................................21
1.3.2. Kịch bản Biến đổi khí hậu đối khu vực miền núi phía Bắc:..................................................22
CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN NHU CẦU TƯỚI
CHO LÚA CHO VÙNG TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC........................................28
2.1. Nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố khí hậu đến nhu cầu tưới cho lúa.....................28
2.1.1. Định nghĩa.............................................................................................................................28
2.1.2. Các thành phần cấu thành nên nhu cầu tưới.......................................................................28
2.1.3. Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến các thành phần cấu thành nhu cầu nước..............29
2.2. Nghiên cứu sự biến đổi của các yếu tố khí tượng..............................................................33
2.2.1. Nghiên cứu xác định lượng mưa tưới và các yếu tố ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu.....33
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NHU
CẦU NƯỚC CHO LÚA KHU VỰC TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG
HIỆN TẠI VÀ ỨNG VỚI KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.........................................45
3.1. Giới thiệu tổng quan về trung du miền núi phía Bắc..........................................................45
3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên:................................................................................................45
3.1.2. Đặc trưng khí hậu và thủy văn:.............................................................................................47
3.1.3. Định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội:................................................................................49
3.2. Tính toán nhu cầu nước cho lúa trong điều kiện hiện tại...................................................50
3.3. Tính toán nhu cầu nước cho diện tích cây lúa khu vực Điện Biên, Bắc Cạn, Phú Thọ
trong điều kiện nền........................................................................................................................ 54
3.4. Nghiên cứu xác định nhu cầu nước cho diện tích cây lúa khu vực Điện Biên, Bắc Cạn,
Phú Thọ ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai (2030 và 2050).....................54
3.4.1. Mốc thời gian năm 2030.......................................................................................................54
3.4.2. Mốc thời gian năm 2050 ( giữa thế kỷ 21)...........................................................................55
đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Nguyên nhân:
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt
động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp
thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.
Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định
sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.
Do các hoạt động của con người đã làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển,
tạo ra một bức xạ cưỡng bức (tăng thêm) là 2,3 w/m 2, làm cho bề mặt trái đất và lớp
khí quyển tầng thấp nóng lên, mực nước biển của toàn cầu tăng. BDKH trong thế kỷ
XX đến nay gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BDKH (hoặc còn được
gọi là sự ấm lên toàn cầu- global warming) được coi là đồng nghĩa với BDKH hiện
đại.
1.1.2. Biến đổi khí hậu hàng chục vạn năm.
Lịch sử khí hậu trái đất đã trải qua nhiều biến động với nhiều nguyên nhân
khác nhau. Những vụ núi lửa phun trào mạnh, đưa vào khí quyển một lượng khói
bụi khổng lồ ngăn cản bức xạ mặt trời xuống trái đất, làm lạnh bề mặt trái đất trong
8
một thời gian dài. Một núi lửa phun ra có thể ngăn chặn một phần bức xạ mặt trời
đến trái đất, đồng thời làm các lớp hấp thụ nhiệt trong tầng bình lưu nóng lên tới vài
độ. Điều này có thể thấy rõ qua quan sát hoạt động của núi lửa Pinatubô (Philippin)
vào các năm 1982 và 1991. Trong thời gian núi lửa phun, bức xạ mặt trời giảm đi rõ
rệt.
Trong thời gian dài hàng chục vạn năm, khí hậu trái đất đã trải qua những thời
kỳ băng hà và những thời kỳ ấm lên. Đáng chú ý là các chu kỳ băng hà xảy ra trong
từng khoảng hàng chục năm, với khí hậu lạnh hơn hiện nay.
Trong các chu kỳ này, nhiệt độ bề mặt trái đất thường lạnh đi 5-70C, thậm chí
cứu của IPCC (2007)dựa trên các dự báo về sự phát thải khí nhà kính từ thấp đến
cao và dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế-xã hội toàn cầu. IPCC đã đưa ra một
nhóm 6 kịch bản (dựa trên 4 kịch bản gốc) xác định những lộ trình phát thải có thể
xảy ra cho thế kỷ 21. Các kịch bản này khác nhau về các giả định liên quan đến:
(i)sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (ii)dân số thế giới và mức độ tiêu dùng;
(iii) chuẩn mực cuộc sống và lối sống; (iv) tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng
lượng; (v)chuyển giao công nghệ; và(vi) thay đổi sử dụng đất[4]. Bốn kịch bản gốc
là A1, A2, B1, B2, với các ký hiệu A: chú trọng phát triển kinh tế; B: chú trọng bảo
vệ môi trường; 1: chú trọng tính toàn cầu, và 2: chú trọng tính khu vực. Các kịch
bản phát thải khí nhà kính - cơ sở của việc dự báo về tình trạng biến đổi khí hậu
trong tương lai - của IPCC (2007) được được tóm tắt ở Bảng 1-1 dưới đây:
Bảng 1- : Các kịch bản phát thải khí nhà kính
Kịch bản gốc A1
Kịch bản gốc A2
• Kinh tế thế giới tăng trưởng nhanh
• Kinh tế thế giới tăng trưởng thấp hơn
• Dân số thế giới tăng, đạt đỉnh vào năm so với các kịch bản khác và phát triển
theo định hướng khu vực
2050 và sau đó giảm dần
• Dân số thế giới tiếp tục tăng
• Các công nghệ mới phát triển nhanh và
• Thay đổi về công nghệ chậm hơn
hiệu quả
so với các họ kịch bản khác.
• Thế giới có sự tương đồng về thu nhập và • Thế giới không đồng nhất, các quốc
gia hoạt động độc lập, tự cung tự cấp
cách sống
(mức độ toàn cầu hóa thấp)
• Có sự tương đồng giữa các khu vực: tăng
cường giao lưu về văn hóa xã hội và thu
• Phát triển các công nghệ sạch và sử dụng
hiệu quả tài nguyên, giảm cường độ tiêu
hao nguyên vật liệu
• Chú trọng các giải pháp toàn cầu về bền
vững kinh tế, xã hội và môi trường
(Nguồn: Kịch bản Biến đổi khí hậu, Nước biển dâng cho Việt Nam;
Bộ Tài nguyên &MT, 2012)
IPCC khuyến cáo sử dụng các kịch bản phát thải được sắp xếp từ thấp đến
cao là: B1 và A1T(các kịch bản phát thải thấp); B2 và A1B (các kịch bản phát thải
trung bình); A2 và A1F1 (các kịch bản phát thải cao).Tuy nhiên, tùy thuộc vào nhu
cầu thực tiễn và khả năng tính toán của từng nước, IPCC cũng khuyến cáo các quốc
gia lựa chọn các kịch bản phát thải phù hợp trong số các kịch bản trên để xây dựng
kịch bản biến đổi khí hậu cho từng quốc gia. Các kịch bản phát thải chính là cơ sở
để dự đoán xu hướng biến đổi khí hậu trong tương lai.
2. Biến đổi khí hậu trong tương lai
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước
biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21.
Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi
trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh
chưa từng có và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới.
Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi
trường trên phạm vi toàn thế giới: đến năm 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 24%, giá sẽ tăng 13-45%, số người bị ảnh hưởng của nạn đói 36-50%; mực nước
biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông
nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế-xã hội trong
11
tương lai. Các công trình hạ tầng được thiết kế theo các tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó
12
Bảng 1-2: Mức tăng lượng mưa (%) so thời kỳ 1980-1990 ở vùng trung du
miền núi phía bắc theo kịch bản phát thải trung bình (B2)
Tỉnh ,tp
Lai châu
Điện Biên
Sơn La
Hòa bình
Hà Giang
Cao Bằng
Lào Cai
Yên Bái
Tuyên
Quang
Bắc Cạn
Thái
Nguyên
Lạng Sơn
Phú Thọ
Bắc Giang
Quảng
Ninh
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020
2030
2040
2050
2,6
3,3(2,0-2,4)
2060
3,5
3,7
3,1
3,6
4,0
1,5
1,6
1,5
2070
4,1
4,3
3,6
4,2
4,7
4,1
4,0
4,7
2080
4,6
4,8
4,1
4,7
5,3
4,6
1,7
3,3
3,7
4,1
5,5(4,0-6,0)
0,9
1,3
1,8
2,4(2,0-2,4)
1,5
3,4
3,8
4,2
5,8(4,0-7,0)
1,4
3,5(2,0-2,4)
3,3(2,0-2,4)
1,6
1,7
1,7
3,4
4,4
4,8
3,9
5,0
5,4
4,3
5,5
6,0
5,6(4,0-6,0)
5,5(4,0-6,0)
5,8(4,0-7,0)
1,3
0,7
2,7
3,4(2,0-2,4)
1,0
1,3(1,0 -1,6)
Sơn La
0,6
0,8
1,1
1,5 (1,0 - 1,8)
Hòa bình
0,5
0,7
1,0
1,2(1,0 -1,4)
Hà Giang
0,5
0,7
1,1
1,2 (1,0 - 1,6)
Cao Bằng
0,5
0,7
1,0
1,2(1,0 -1,4)
Lào Cai
0,5
0,7
1,0
1,2 (1,0 - 1,6)
Yên Bái
0,5
0,7
Quảng Ninh 0,5
0,7
1,0
1,3 (1,2 - 1,4)
2060
1,5
1,6
1,8
1,5
1,7
1,5
1,6
1,5
1,7
1,5
1,6
1,6
1,7
1,7
1,6
2070
1,7
1,9
2,1
1,8
2,0
1,7
1,8
2,2
2,5
2,2
2,3
2,1
2,4
2,2
2,3
2,3
2,5
2,5
2,3
2100
2,3 (1,9-2,8)
2,6 (1,9-2,8)
2,8 (2,2-3,4)
2,4 (2,2-2,8)
2,7(2,4-2,8)
2,4(2,2-2,8)
2,5(2,2-3,1)
2,3(2,2-3,1)
2,7(2,2-2,8)
2,4(2,2-2,8)
2,5(2,2-2,8)
2,7(2,2-2,8)
2,7(2,5-2,8)
2,7(2,5-2,8)
2,5(2,2-2,8)
được thải ra từ sau thời kỳ công nghiệp hóa cũng góp phần gây nên hiệu ứng nhà
kính.
Trong số các khí chính gây hiệu ứng nhà kính, CO 2 được coi là khí có ảnh hưởng
nhiều nhất. Nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng từ 280ppm vào những năm trước
thời kỳ công nghiệp hóa lên 379 ppm năm 2005. Tổng lượng KNK được ước tính
vào khoảng 433-477ppm CO2 tương đương.
Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái Đất nói chung: trong giai đoạn 1900-2005,
nhiệt độ bề mặt Trái Đất đã tăng khoảng 0.78oC, nhiệt độ đại dương tăng 0.45oC.
15
Hình 1- : Thay đổi nhiệt độ bề mặt Trái Đất theo thời gian
(Nguồn: IPCC, 2007)
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống
của con người và các sinh vật trên Trái Đất: nồng độ các khí trong khí quyển thay
đổi theo chiều hướng tăng nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính. Nồng độ CO 2
tăng khoảng 31%; nồng độ N2O tăng khoảng 151%; nồng độ CH 4 tăng 248%; các
khí khác cũng có nồng độ tăng đáng kể so với thời kỳ trước công nghiệp hóa; một
số khí như các dạng khác nhau của khí HFC, PFC, SF là những khí chỉ mới xuất
hiện sau cuộc cách mạng công nghiệp.
16
Hình 1- : Xu hướng biến đổi một số khí nhà kính đến 1/2003
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng
khác nhau của Trái Đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ
sinh thái và hoạt động của con người: thay đổi khí hậu gây hiện tượng di cư của các
các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4 oC đến 5,8oC từ 1990
đến 2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng
sống của con người.
Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng.
Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan cao; là các hiện tượng thời
tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến
thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc,
gia cầm…
Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi tệ sau
đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão tố và lũ
lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng
sinh học và phá huỷ hệ sinh thái. Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu
hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như đã có
khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và
Mexico. Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn
tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy
ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá
mùa đông khốc liệt. Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ...có nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua.
Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không
thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc
biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ân Độ Dương, bắc Đại Tây Dương. Một
nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh
thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất.
Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nước biển dâng cao. Nếu
khoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng
1,8mm/năm, thì từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm. Tổng cộng, trong 100 năm
qua, mực nước biển đã tăng 0,31m. Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng
ở Bắc cực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi băng ở Trung Quốc đang dần
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến Việt Nam
1. Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong 40 năm qua, các nhà khoa học đã quan sát thấy các hiện tượng
thời tiết cực đoan, thiên tai, bão lũ xảy ra nhiều hơn ở nước ta, đây là một trong
số những biểu hiện về BĐKH được khẳng định. Ngoài ra, còn có các biểu hiện
khác là (BTNMT, 2009):
- Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng 0,1oC mỗi thập kỷ trong giai
19
o
đoạn từ 1931 tới 2000, và tăng trong khoảng từ 0,4 – 0,8 C ở 3 thành phố lớn
của Việt Nam (gồm Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 1991
tới 2000.
- Lượng mưa thay đổi khác nhau tùy từng vùng, nhưng nhìn chung
lượng mưa cả năm vẫn tương đối ổn định. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều trận
mưa bất thường với cường độ lớn xảy ra hơn, gây ra lũ lụt.
- Hạn hán xảy ra thường xuyên hơn ở khu vực phía Nam trong những
năm gần đây và có xu hướng kéo dài hơn.
- Trong 50 năm qua, mực nước biển tăng trung bình từ 2,5 – 3cm, tùy
từng khu vực.
- Bão nhiệt đới giảm về số lượng trong 40 năm qua, nhưng ghi nhận
được những cơn bão mạnh hơn ở khu vực phía Nam.
- El Nino và La Nina xảy ra với cường độ mạnh hơn trong 50 năm
qua, gây ra nhiều cơn bão nhiệt đới, lũ lụt và hạn hán thường xuyên.
2. Tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) Việt Nam là một trong những
nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trong
đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất.
núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa. Thu nhập của cộng đồng ngư dân ven
biển Việt Nam chủ yếu là từ hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Do vậy,
thiên tai xảy ra hàng năm làm cho công cụ sản xuất bị hư hỏng, lao động sản xuất bị
khó khăn. Điều này làm cho ngư dân vốn đã nghèo lại nghèo thêm. Ngoài khó khăn
về vốn, việc tiếp cận với các nguồn thông tin, các tiến bộ kỹ thuật về sản xuất tuy
được Nhà nước quan tâm nhưng do nghèo nàn về kiến thức và nhận thức kém nên
hoạt động này còn nhiều hạn chế đối với cộng đồng ngư dân.
Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển
nông nghiệp: BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ
gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng. BĐKH ảnh hưởng đ ến
sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch
của gia súc, gia cầm. BĐKH và nước biển dâng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử
dụng nông nghiệp: gây mất diện tích đất, đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn và bị suy
thoái cả về chất và lượng do các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các hiện tượng
lũ lụt, hạn hán, hoang mạc hóa, sạt lở đất…đang gia tăng cả về tần số và cường độ
gây nguy cơ thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Một phần đáng kể diện tích đất nông
nghiệp ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, bị ngập mặn do nước biển dâng, diện
tích ngập úng mở rộng và kéo dài hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản
21
xuất nông nghiệp. Có thể nói, Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ tác động nghiêm
trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Biến đổi khí
hậu đã làm cho thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng về số lượng, cường độ và
mức độ ảnh hưởng, ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất và phát triển kinh
tế xã hội. Và trong đó, tác động của BĐKH đối với nước ta là rất nghiêm trọng, và
là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục
tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước
1.3. Tác động của Biến đổi khí hậu đến vùng trung du miền núi phía Bắc
khô) có thể dẫn đến:
- Tăng dòng chảy lũ và ngập lụt
- Tăng khả năng sản xuất thủy điện
- Tăng nguy cơ xói mòn và sạt lở đất
- Tăng hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô
- Thay đổi hệ sinh thái lưu vực sông và các vùng ngập nước
3. Tăng cường độ và tần suất bão có thể gây tác động:
- Tăng ngập lụt vùng ven biển và ven sông
- Tăng nguy cơ tổn thất về người , cơ sở hạ tầng và các hoạt
động kinh tế xã hội
- Tăng nguy cơ tàn phá các hệ sinh thái ven biển
4. Nước biển dâng có thể gây ra:
- Tăng ngập lụt vùng ven biển và ven sông
- Xâm nhập mặn sâu hơn làm ảnh hưởng tới các hoạt động cung cấp nước,
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
1.3.2. Kịch bản Biến đổi khí hậu đối khu vực miền núi phía Bắc:
Ở khu vực miền núi phía Bắc, biến đổi khí hậu được thể hiện qua hiện tượng
nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan như sự thay đổi cực nhiệt độ,
nắng nóng kéo dài hơn, rét đậm kéo dài hơn, mưa lớn tập trung hơn nhưng cũng có
những đợt khô hạn kéo dài hơn. Mưa lớn tập trung dễ dẫn đến lũ lụt, lũ ống, lũ quét.
Hiện tượng núi lở hay sạt lở đất có nguyên nhân sâu xa từ tính chất thiếu ổn định
của cấu trúc địa chất, nhưng mưa lớn tập trung thường là giọt nước cuối cùng làm
tràn ly thúc đẩy quá trình diễn ra nhanh hơn. Điều đó đã được chứng minh qua các
sự kiện sạt lở đất ở xã Phìn Ngan (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) tháng 9 năm 2004
hay ở xã Chế Cu Nha (huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái) tháng 10 năm 2010. Cực
nhiệt độ thay đổi mà biểu hiện cụ thể là các đợt rét đậm, rét hại kéo dài liên tiếp xảy
ra trong các năm 2008 và 2010 thực sự đã trở thành thảm họa thiên tai với hàng vạn
con trâu bò bị chết, hàng ngàn héc-ta lúa và hoa màu bị mất trắng. Kết hợp với các
Cơ cấu thiện hại
trong GDP
(%)
0,67
Triệu us
4,2
178,5
124,4
20,4
40,3
32,2
5,5
61,2
27,7
54,9
Tất cả các lĩnh vực
Triệu
triệu đồng
us
1129434,0
82,1
7798410,0
565,1
7730047,0
556,1
1797249,0
128,4
5427139,0
năm đối với sản xuất nông nghiệp chiếm 0,67% giá trị GDP ngàng, trong khi tổng
thiệt hại tất cả thiệt hại tất cả các ngàng chiếm 1,24 %.Kết quả cho thấy cơ cấu thiệt
hại do thiên tai trong giá trị ngàng nông nghiệp thấp hơn so với cơ cấu tổng thiệt hại
trong GDP. Tuy nhiên, do giá trị nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp trong GDP và lại
nguồn sống trên 71,41% dân số,do vậy bất cứ thiệt hại nào do thiên tai đối với nông
nghiệp sẽ mang tổn thương nhiều hơn đối với nông dân nghèo và khả năng phục hồi
khó khăn cần trong thời gian dài.
Cơ cấu thiệt hại trong nông nghiệp đối với tổng thiệt hại do thiên tai của tất cả
các ngành có xu hướng giảm trong giai đoạn 1996-2007. Kết quả phân tích tại Hình
2 cho thấy thiệt hại thiên tai cho tất cả các lĩnh vực ngày càng tăng nhưng thiệt hại
đối với nông nghiệp có xu hướng giảm. Ví dụ năm 1996, thiệt hại của ngành nông
nghiệp tương đương 2.463 tỷ đồng (31.6% tổng thiệt hại) thì đến năm 2007 chỉ còn
432 tỷ đồng tương đương 3.8%. Kết quả này cho thấy đây là dấu hiệu đáng mừng
24
của ngành nông nghiệp trong việc duy trì và áp dụng các biện pháp phòng chống
thiên tai bởi lẽ cơ cấu của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế chỉ giảm nhẹ,
22.27% năm 1995 xuống 18,14% năm 2008 (giảm 0,6% năm)
1. Tác động của biến đổi lượng mưa và nhiệt độ đến nhu cầu nước :
Từ năm 1951 đến năm 2000, nhiệt độ trung bình năm ở VN đã tăng lên 0.70C.
Nhiệt độ trung bình năm từ 1961 đến 2000 cao hơn trung bình năm từ 1931 đến
1960. Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong thời gian
từ 1990 đến 2010. Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng
56% trung bình nhiều năm. Biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối
cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày
trong tháng 1 và 2 năm 2008.
Kết quả nghiên cứu ở Bắc Cạn cho biết nhiệt độ không khí cao được xác
định vào tháng 12 năm 2002 và năm 2007, lần lượt là 20.6OC và 18.1OC, cao hơn
Theo các kịch bản, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất
cả các vùng khí hậu. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn so với
các vùng khí hậu phía Nam. Theo kịch bản trung bình (B2) vào cuối thế kỷ 21,
nhiệt độ trung bình năm tăng lên 2.6OC ở Tây Bắc, 2.5OC ở Đông Bắc bộ, so với
trung bình thời kỳ 1980 - 1999. Lượng mưa mùa khô giảm ở hầu hết 32 các vùng
khí hậu của nước ta, đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa
và lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu. Theo kịch bản trung bình
(B2) vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm có thể tăng khoảng 7 - 8% ở Tây Bắc,
Đông Bắc bộ, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ và từ 2 - 3% ở Nam Trung bộ, Tây
Nguyên, Nam bộ so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999.
2 . Tác động của biến đổi thiên tai, sạt lở đất, động đất
Vùng núi phía Bắc thường xảy ra hiện tưởng lũ quét, sạt lở đất và động đất
trong khi đó các vùng khác như vùng miền Trung thường xảy ra nhiểm mặn, xâm
thực, hạn hán, lũ lụt... Thống kê của từ năm 2000 đến 2009 có tổng cộng 96 đợt lũ
quét diễn ra ở khu vực miền núi Phía Bắc, Ven biển miền Trung và Tây nguyên, đặc
biệt là các đợt lũ quét diễn ra ở tỉnh Lai Châu và Sơn La năm 1994, 1996, 2000 và
2002; ở tỉnh Lào Cai, Hà Giang, và Cao Bằng năm 2000, 2001, 2002 và 2004. Kết
quả nghiên cứu ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang cho biết rét đậm rét hại, ngập
úng, sạt lở đất, lũ quét, hạn hán là những hiện tượng thời tiết cực đoan thường diễn
ra trên địa bàn huyện. Ở tỉnh Lào cai cho biết lũ quét là loại thiên tai nguy hiểm
nhất, tiếp đến là rét đậm, rét hại và sạt lở đất. Nghiên cứu đã đề cập cụ thể đến đợt