BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ HỒNG HÀ
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG
ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CẤP GIẤY CHỨNG
NHẬN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
TẠI BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ HỒNG HÀ
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG
ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CẤP GIẤY CHỨNG
NHẬN QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
TẠI BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.4 Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................2
1.5 Phương pháp nghiên cứu................................................................................3
1.6 Kết cấu đề tài ...................................................................................................3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Các khái niệm ................................................................................................4
2.1.1 Dịch vụ .......................................................................................................4
2.1.2 Chất lượng dịch vụ.....................................................................................4
2.1.3 Khái niệm về sự hài lòng ...........................................................................7
2.2 Dịch vụ hành chính công ................................................................................7
2.2.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công...........................................................7
2.2.2 Đo lường chất lượng dịch vụ công.............................................................8
2.3 Dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất .........8
2.3.1 Dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất .........8
2.3.2. Khái niệm đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất ........................................................................................................................9
2.4 Mô hình SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ Parasuraman và cộng
sự (1985)................................................................................................................16
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về dịch vụ công............................20
2.5.1. Năng lực phục vụ ....................................................................................20
2.5.2. Sự cảm thông..........................................................................................21
2.5.3 Sự đáp ứng ...............................................................................................22
2.5.4. Mức độ độ tin cậy ...................................................................................23
2.5.5 Tài sản hữu hình.......................................................................................23
2.6. Mô hình nghiên cứu .....................................................................................24
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Bảng khảo sát.................................................................................................26
3.1.1 Thiết kế bảng khảo sát .............................................................................26
3.1.2 Điều tra thử ..............................................................................................31
5.2.2 Hàm ý chính sách đối với nhân tố sự cảm thông .....................................59
5.2.3 Hàm ý nhân tố sự đáp ứng .......................................................................60
5.2.4 Hàm ý nhân tố tài sản hữu hình ...............................................................60
5.2.5 Hàm ý nhân tố năng lực phục vụ .............................................................61
5.3 Hạn chế nghiên cứu.......................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
PAPI
Giải thích
Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt
Nam
UNDP
Tổ chức phát triển liên hợp quốc
GCN QSH
Giấy chứng nhận quyền sở hữu
EFA
Phân tích nhân tố khám phá
CLDV
Bảng 4.14 Kiểm định One Way Anova ....................................................................56
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ mô hình chất lượng dịch vụ Parasuraman (1985)...........................18
Hình 2.2. Sơ đồ thang đo chất lượng dịch vụ SERVQUAL .....................................19
Hình 4.1 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa.......................................................53
Hình 4.2 Biểu đồ phân tán phần dư...........................................................................54
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do nghiên cứu
Với một quốc gia, hoạt động của bộ máy hành chính, chất lượng của các dịch
vụ công do các cấp chính quyền cung ứng là một trong những nhân tố vô cùng quan
trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tại Việt Nam, gần
đây đã có một số công trình nghiên cứu ý kiến đánh giá của người dân, doanh
nghiệp về chất lượng quản trị công của chính quyền cấp tỉnh, điển hình như nghiên
cứu điều tra của Tổ chức phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp với Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng về “chỉ
số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI)” được thực
hiện hàng năm và bắt đầu từ năm 2009. Chỉ số PAPI ngày càng được ghi nhận là
công cụ phản ánh tiếng nói chung của người dân về mức độ hiệu quả của bộ máy
nhà nước và chất lượng cung ứng dịch vụ của chính quyền các cấp. Chỉ số PAPI đã
và đang tạo động lực để lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành
nâng cao hiệu quả điều hành, quản lý nhà nư ớc, cung cứng dịch vụ công, với mục
tiêu phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, đóng góp vào sự phát triển chung của đất
nước tại tỉnh Bình Đ ịnh theo Chỉ thị số 13/CT ngày 08/8/2013.
Theo chỉ số PAPI, chất lượng quản trị và hành chính công có thể được đo
sự đá p ứng, mức độ tin cậy, tài sản hữu hình dẫn đến sự hài lòng trong chất lượng
dịch vụ công.
- Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hà i lòng của khách hàng về
chất lượng dịch vụ
1.3 Đối tượng
- Đối tượng nghiên cứu là chất lượng dịch vụ và ảnh hưởng của các nhân tố
đến chất lượng dịch vụ cấp GCN QSH tài sản gắn liền với đất.
- Đối tượng khảo sát là khách hàng thực hiện dịch vụ nộp hồ sơ cấp GCN.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: nghiên cứu này tập trung khảo sát tại tỉnh Bình Đ sịnh.
Về thời gian: Thời gian khảo sát và thu thập số liệu trong vòng 2 tháng từ
tháng 7 đến tháng 8 năm 2016.
3
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, khảo sát khách hàng
của dịch vụ cấp GCN QSH tài sản gắn liền với đất bằng bảng hỏi và thang đo Likert
Scale. Sau khi thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để phân tích ảnh
hưởng của các nhân tố năng lực phục vụ, sự cảm thông, sự đá p ứng , mức độ tin cậy,
tài sản hữu hình dẫn đến sự hài lòng trong chất lượng dịch vụ công.
1.6 Kết cấu đề tài
Luận văn gồm 5 chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu;
Chương 2: Cơ sở lý thuyết;
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu;
Chương 4: Kết quả nghiên cứu;
và chưa có chiến lược quản lý hiệu quả. Vấn đề nhận thức, kiểm tra, kiểm soát chất
lượng trong dịch vụ là vấn đề lớn đặt ra đối với các nhà nghiên cứu. Chất lượng
thực tế và những yếu tố chi phối nó hiện nay chưa lượng hóa được. Tầm quan trọng
của chất lượng dịch vụ đối với doanh nghiệp và khách hàng có sự khác nhau rất lớn.
5
Chất lượng dịch vụ chi phối mạnh đến việc tăng thị phần, tăng khả năng thu hồi vốn
đầu tư, tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất và cuối cùng là tăng lợi
nhuận. Đó là những lợi ích có tính chiến lược lâu dài đối với doanh nghiệp dịch vụ.
Chúng ta không thể sử dụng phương pháp kiểm tra, kiểm soát và quản trị chất lượng
của hàng hóa hiện hữu sang áp dụng cho dịch vụ bởi vì dịch vụ có những đặc tính
riêng biệt nó chi phối quá trình hình thành, vận động chất lượng.
Theo Zeithaml (1987): Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về
tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái
độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về
những thứ ta nhận được.
Lewis và Booms (1984, Tr.99-107) phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lường
mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng
tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của
khách hàng một cách đồng nhất.
Chất lượng là một sự so sánh giữa sự mong đợi về giá trị một dịch vụ trong
khách hàng với giá trị thực tế nhận được (sự thỏa mãn) do doanh nghiệp cung cấp.
Các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý các doanh nghiệp dịch vụ đều thống nhất
quan điểm cho rằng chất lượng dịch vụ bao hàm một sự so sánh giữa sự mong đợi
và thực tế (Baker và Lamb, 1993, tr.89-106). Đó là sự đo lường phân phối dịch vụ
phù hợp với sự mong đợi của khách hàng tốt tới một mức nào đó. Phân phối dịch vụ
có nghĩa là thực hiện sự chuyển giao dịch vụ sao cho phù hợp với những mong đợi
của khách hàng trên một nền tảng tương thích với mức độ mong đợi. Từ suy nghĩ
hài lòng. Chất lượng dịch vụ cao, mức độ thỏa mãn đạt được sự mong đợi, khách
hàng cảm thấy vui vẻ hài lòng. Ngược lại, nếu chất lượng dịch vụ thấp, mức độ thỏa
mãn thấp hơn giá trị mong đợi, khách hàng sẽ thất vọng. Giá trị khách hàng nhận
được do chuỗi giá trị của dịch vụ tổng thể mà đơn vị chuyển giao phụ thuộc vào
một số yếu tố như: dịch vụ tổng thể được cung cấp, nhân viên cung cấp dịch vụ,
những hoạt động của các đối thủ cạnh tranh, các mức độ đơn vị mong đợi, tầm hiểu
biết và sự am tường về dịch vụ của người tiêu dùng dịch vụ.
Tiền đề cơ sở của chất lượng dịch vụ là sự chuyển giao dịch vụ với khách
hàng và các yếu tố trong tổ chức dịch vụ, sự hiểu biết nói chung của khách hàng và
sự hiểu biết về dịch vụ của họ. Cũng t ừ tiền đề này có thể tiếp cận chất lượng dịch
vụ với ba mảng lớn: chất lượng vật lý (vật chất) của dịch vụ bao gồm trang thiết bị,
dụng cụ, quầy giao dịch…chính là môi trường vật chất của dịch vụ; chất lượng tổ
chức bao gồm phương thức quản lý tổ chức điều hành, uy tín, hình ảnh …; chất
lượng chuyển giao dịch vụ bao gồm những tác động qua lại giữa nhân viên cung
cấp và khách hàng.
Mittal và Kamakura (2001,tr.131-142) định nghĩa : “Chất lượng dịch vụ là
mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ, là
dịch vụ tổng thể của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất
giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân
phối dịch vụ ở đầu ra”.
Qua phân tích về chất lượng dịch vụ có thể thấy những đặc trưng cơ bản sau:
- Khó khăn hơn trong việc đánh giá chất lượng của dịch vụ so chất lượng
của hàng hoá hữu hình.
- Nhận thức về chấ t lượng dịch vụ là kết quả của quá trình so sánh giữa sự
mong đợi của khách hàng về chất lượng mà dịch vụ cụ thể mang lại nhằm đáp ứng
những mong đợi đó.
Đối với những dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho người
dân, gắn liền thực hiện chức năng quản lý nhà nước, đáp ứng sự mong đợi của một
nhóm lợi ích và mục tiêu tổ chức. Vì vậy, loại chất lượng dịch vụ này được đánh giá
nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên qui định
của pháp luật. Các công việc do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nằm trong
phạm trù dịch vụ công, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, trong mối
8
quan hệ này công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải nhận
những dịch vụ bắt buộc do nhà nước quy định. Sản phẩm dịch vụ d ưới dạng phổ
biến là các loại văn bản mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu được đáp ứng. (Lê Chi Mai,
2006).
2.2.2 Đo lường chất lượng dịch vụ công
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm về dịch vụ công cũng như đo
lường các yếu tố thành phần của dịch vụ này. Brysland và Curry (2001) cho rằng
việc sử dụng Thang đo SERVQUAL trong khu vực công là rất phổ biến. Anderson
(1995) cũng đo chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi một phòng y tế trường đại
học công bằng thước của Thang đo SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự , 1988),
bệnh nhân đã được tìm thấy thường được không hài lòng với kích thước của tính
Thang đo SERVQUAL. Sự không hài lòng được cảm nhận bằng sự bảo đảm. Mặt
khác, hữu hình và sự đồng cảm trưng bày mức thấp nhất của sự bất mãn. Sử dụng
các phương pháp tiếp cận Thang đo SERVQUAL, Wisniewski (2001) đã tiến hành
một nghiên cứu để đánh giá sự hài lòng của khách hàng trong lĩnh vực công phân
tích điểm số chênh lệch tiết lộ rằng hữu hình và độ tin cậy đã có khoảng cách tiêu
cực mà sự mong đợi của khách hàng k hông được đáp ứng. Mặt khác, sự đáp ứng và
đảm bảo chưa đáp ứng sự mong đợi của khách hàng đã thực sự vượt qua các dịch
vụ được cung cấp. Agus và cộng sự (2007) đã tiến hành một nghiên cứu chất lượng
dịch vụ trong lĩnh vực công cộng Malaysia. Điều quan trọ ng cần lưu ý là trong khi
các mô hình Thang đo SERVQUAL tập trung vào việc xác định "khoảng trống"
giữa kỳ vọng và thực tế, mô hình của họ chỉ tập trung vào nhận thức cung cấp dịch
vụ thực tế. Họ sử dụng chín của mười khía cạnh dịch vụ xác định bởi Parasur aman
đặc biệt của đất đai còn được thể hiện ở giá đất và luôn có xu hướng tăng lên.
* Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân; người đăng ký chỉ được hưởng quyền sử
dụng đất; trong khi đó quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật lại không
đồng nhất giữa các thửa đất có mục đích sử dụng khác nhau, do loại đối tượng (tổ
chức, cá nhân) khác nhau sử dụng;
* Đất đai thường có các tài sản gắn liền (gồm: nhà, công trình xây dựng, cây
rừng, cây lâu năm) mà các tài sản này chỉ có giá trị nếu gắn liền với một thửa đất tại
vị trí nhất định; tr ong thực tế đời sống xã hội có nhiều trường hợp tài sản gắn liền
với đất không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất;
10
Ba là: Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất phải
thực hiện đồng thời cả hai việc: vừa ghi vào hồ sơ địa ch ính của cơ quan nhà nước
để phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và theo
pháp luật; vừa cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào việc
sử dụng đất và có điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất t heo pháp
luật.
* Đăng ký lần đầu và đăng ký biến động v ề sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất
Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu là việc đăng ký quyền sử dụng đất thực
hiện đối với thửa đất đang có người sử dụng, chưa đăng ký, chưa được cấp mộ t loại
Giấy chứng nhận nào (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) hoặc Nhà nước giao đất, cho thuê đất
để sử dụng;
Đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu có
đặc điểm khác biệt với đăng ký biến động:
Một là: tính chất công việc là Nhà nước xem xét công nhận quyền sử dụng
vụ” hoặc “Đăng ký: Thể thức ghi chép vào sổ sách nhà nước đặt ra như: đăng ký
kết hôn, đăng ký kinh doanh, đăng ký chứng khoán... Những sự kiện được nghi chép
vào sổ là không thể chối cãi đư ợc”... Khi định nghĩa v ề đăng ký quyền sở hữu,
trong Từ điển luật học có nêu: “Đăng ký quyền sở hữu: (Cơ quan nhà nước có thẩm
quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý các quyền của chủ sở hữu
đối với tài sản trong quan hệ dân sự” và “Đăng ký quyền sử dụng đất: Thủ tục kê
khai, đăng ký chính xác, trung thực tình hình, hiện trạng sử dụng đất của các chủ sử
dụng đất với các thông tin về diện tích, loại hạng đất, nguồn gốc đất đai theo các
mẫu phiếu kê khai, vào sổ sách địa chính với sự hướng dẫn của cơ quan thực hiện
đăng ký, thống kê đất đai”. Tổng hợp từ các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nh ận
thấy khái niệm “đăng ký” có các đặc điểm chủ yếu như: (i) Đăng ký là hành vi
được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) Đăng ký được ghi nhận
trên cơ sở nội dung kê khai (khai báo) của cá nhân, tổ chức (iii) Nội dung đăng ký
có tính khách quan, là chứng cứ để các chủ thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
12
Trong khi đó, khái niệm về đăng ký đất đai bước đầu mới chỉ nhìn nhận ở
góc độ quản lý hành chính nhà nước, ví dụ như: “Đăng ký đất đai là một thủ tục
hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp Giấy chứng nhận cho người sử
dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và
người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai theo pháp luật
và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất”. Cách tiếp cận nêu trên chưa
thực sự phù hợp với tính chất của quyền sử dụng đất (một loại hàng hóa đặc biệt),
cũng như chưa ph ản ánh đúng bản chất của mối quan hệ giữa Nhà nước với người
sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay, vì khoa học pháp lý đã thừa nhận rộng rãi về
mục tiêu của cơ chế đăng ký bất động sản phải là “sự an toàn của việc lưu chuyển
bất động sản, đó là “mảnh ghép mang tính chìa khóa” để tăng cường Nhà nước
của khái niệm được quy định thì việc sử dụng từ ngữ “đăng ký đất đai, nhà ở, tài
sản khác gắn liền với đất” của Luật Đất đai năm 2013 dễ dẫn đến cách hiểu đối
tượng đăng ký trong trường hợp này chính là hiện trạng vật lý của bất động sản (đất
đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất), trong khi thực chất của đăng ký chính là
xác định được rõ ràng về tình trạng pháp lý của bất động sản (quyền sở hữu và các
dịch chuyển quyền liên quan đến bất động sản).
Luận giải về vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng nếu như động sản được chủ sở hữu
chiếm hữu trực tiếp thông qua các hành vi cầm, nắm... (hành vi thực tế), thì bất
động sản chỉ có thể chiếm hữu được thông qua việc thiết lập quyền lên bất động sản
(tính chất vô hình). Khoa học pháp lý thừa nhận nguyên tắc suy đoán trong việc xác
định chủ sở hữu động sản. Điều này có nghĩa là chủ thể nào đang chiếm hữu thực tế
động sản thì chủ thể đó được suy đoán là chủ sở hữu của chính động sản đó. Đồng
thời, việc chiếm hữu trực tiếp động sản cũng là cách thức để chủ sở hữu công khai
quyền của mình đối với người thứ ba. Về vấn đề này, chế độ pháp lý áp dụng với
bất động sản lại hoàn toàn khác với động sản. Do việc chiếm hữu bất động sản
không thể thực hiện trực tiếp thông qua hành vi cầm, nắm... nên việc công khai
quyền của chủ sở hữu bất động sản phải được thực hiện thông qua hệ thống đăng
ký. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì bất động sản là đối tượng của giao
dịch và việc chuyển dịch quyền liên quan đến bất động sản thường xuyên diễn ra.
Thực tế đó đòi hỏi hệ thống đăng ký không chỉ ghi nhận để công khai, minh thị về
quyền sở hữu, mà còn bao gồm cả các vật quyền khác liên quan đến bất động sản
14
(ví dụ: quyền thế chấp, quyền thuê, quyền góp vốn, quyền hưởng dụng, quyền bề
mặt, các hạn chế quyền...). Như vậy, thông qua hệ thống đăng ký, chủ sở hữu bất
động sản sẽ xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba và thời điểm đăng ký chính
là căn cứ để xác định thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng. Nếu bất động sản
không được đăng ký thì ngư ời thứ ba sẽ không biết và không thể biết được tình
"Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này
và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải
đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Đăng ký quyền sở hữu tài sản là việc chính thức ghi vào văn bản của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết liên quan đ ến tài sản đề làm cơ
sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý của chủ sở hữu tài sản đối với
một tài sản nhất định
Từ các quy định của pháp luật về việc đăng ký quyền sở hữu tài sản trên đây,
có thể nhận xét rằng:
Thứ nhất, Các quy định của pháp luật về đăng ký quyền sở hữu tài sản nằm
rải rác ở nhiều văn bản khác nhau (kể cả đối với cùng một loại tài sản), điều này
làm cho việc thực hiện các quy định trên rất khó khăn. Thậm chí, ngay trong các
văn bản này cũng chưa quy định đầy đủ, thiếu hướng dẫn cụ thể.
Thứ hai, theo quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký quyền sở hữu tài
sản, thì việc đăng ký còn quá nhấn mạnh mục tiêu quản lý nhà nước đối với tài sản
phải đăng ký quyền sở hữu, và coi nhẹ ý nghĩa bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của
chủ sở hữu. Đây là một vấn đề cấp bách đòi hỏi Nhà nước sớm ban hành một văn
bản pháp luật chung quy định về việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, trong đó coi
trọng đúng mức ý nghĩa bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu, tạo điều
kiện thuận lợi cho chủ sở hữu dễ dàng đăng ký quyền sở hữu.
Quyền sở hữu:
– Quyền sở hữu là một phạm trù gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh những quan hệ vế sở hữu đối với các quan hệ vật chất trong xã hội
– Quan hệ sở hữu là mối quan hệ giữa người với người về một tài sản nào đó.
16
– Khách quan: Quan hệ sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà
nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng