Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, đi lên từ nông nghiệp nông thôn và
đang từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế của mình. Chính vì vậy,
ngành nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các sản phẩm xuất khẩu và sự ổn định
về an ninh luơng thực trong nước và góp phần bảo tồn môi trường sinh thái trên thế
giới. Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quyết định tính đa dạng,
quy mô và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp. Trong thời đại hiện nay, đất dành cho
nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp lại do sự gia tăng dân số, sự phát triển của
các ngành công nghiệp và yêu cầu mở rộng, tu bổ cơ sở hạ tầng cho đất nước. Chính
vì vậy việc quản lý và phân bổ sử dụng đất hiệu quả đang trở thành mục tiêu trọng
yếu của tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Chính vì thế, từ khi
giành được độc lập đến nay, chính sách đất đai luôn giữ một vị trí quan trọng trong
hệ thống chính sách của Đảng và nhà nước ta. Đặc biệt, nước ta còn có hơn 70% dân
số sống ở nông thôn nên chính sách đất đai còn mang ý nghĩa về chính trị xã hôi.
Cho đến trước những năm 1980, nông nghiệp Việt Nam ở trong thời kỳ bao
cấp và tập thể hóa. Hầu hết đất đai được sở hữu bởi tập thể (sử dụng trong các hợp
tác xã) và chỉ có khoảng 5% sở hữu bởi các hộ gia đình. Hệ thống sở hữu này dẫn
đến sự suy giảm trong sản xuất lúa gạo và gây ra thiếu hụt lương thực một cách
nghiêm trọng. Những chính sách mới kể từ năm 1981, đánh dấu bước chuyển hóa từ
cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, mang lại những hiệu quả đáng kể
cho nông nghiệp Việt Nam. Việt Nam không những ổn định an ninh lương thực mà
còn trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Bên cạnh những hiệu quả đáng kể, chính sách đất nông nghiệp vẫn còn nhiều
vấn đề cần phải xem xét một cách thấu đáo hơn. Đặc biệt là từ khi đổi mới quản lý
kinh tế đến nay, việc nhà nước can thiệp vào việc phân bổ và sử dụng đất nông
nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều
lúng túng. Trên thực tế đã nảy sinh nhiều hiện tượng phức tạp ảnh hưởng đến năng
suất và sự phát triển của nền nông nghiệp như là nông dân mất đất, phản đối chính
đất đai ở Việt Nam. Phần II nêu ảnh hưởng của một số chính sách đất đai đến phát
triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Phần III đề xuất các quan điểm và giải pháp
tiếp tục đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP, ĐẤT ĐAI VÀ
CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
I. Một số khái niệm
1. Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để
trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao
động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên vật liệu cho công
nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng
trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và thủy
sản.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều
nước, đặc biệt trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển.
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp
thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
• Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra hạn chế chủ yếu phục vụ cho nhu cầu
của chính gia đình người nông dân. Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh
nhai.
• Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực nông nghiệp được chuyên môn hóa trong
tất cả các khâu của quá trình sản xuất bao gồm sử dụng máy móc trong trồng trọt,
chăn nuôi hoặc trong chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có
đầu vào rất lớn bao gồm việc sử dụng các hóa chất tiêu diệt sâu bệnh và cỏ dại;
nghiên cứu lai tạo giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phầm đầu ra chủ yếu
phục vụ cho mục đích thương mại hay xuất khẩu. Đây chính là mục tiêu lâu dài cho
từ đó có thể hiểu rằng: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương
diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu và chính phủ muốn đạt được và
cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường.
Trên cơ sở quan niệm như vậy, chính sách đất đai trong nông nghiệp nông
thôn là tổng thể quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp và công cụ mà nhà
nước sử dụng để tác động vào lĩnh vực đất nông nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu
mà nhà nước mong muốn.
II. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó
không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà là tổng hợp các ngành kinh tế - sinh
học – kĩ thuật. Hiểu theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp bao gồm các ngành trồng trọt,
chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp (dịch vụ cung cấp giống, dịch vụ tài
chính…). Hiểu theo nghĩa rộng thì nông nghiệp còn bao gồm những ngành nông
nghiệp đơn thuần, lâm nghiệp và thủy sản (thường được hiểu theo nghĩa rộng nông –
lâm – ngư)
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con
người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong
tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài
người, không ngành nào có thể thay thế được. Trên 40% số lao động trên thế giới
đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu
phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế.
1. Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho con người
Sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và ổn định
đời sống kinh tế xã hội của đất nước.Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản,
trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
3. Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thị sản phẩm rộng lớn của
công nghiệp và dịch vụ
Thị trường nông thôn nước ta rất rộng lớn chiếm tới 80% dân số cả nước,
nhưng còn đang ở dạng tiềm năng. Chính vì vậy mà sản phẩm công nghiệp bao gồm
tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ trước hết từ thị trường nông thôn.
Sự thay đổi trong cầu của khu vực nông nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức sản
xuất của khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu
nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm nhu
cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng
cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và cạnh tranh với thế giới.
4. Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của cong người ngày càng được nâng
cao thì nhu cầu về các sản phẩm thiết yếu cũng ngày càng tăng về số lượng và chất
lượng đặc biệt là các loại lương thực, thực phẩm. Nông nghiệp được coi là ngành
đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông lâm thủy sản dễ ra nhập thị
trường quốc tế hơn là hàng công nghiệp. Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn
xuất khẩu để có ngoại tệ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Xu hướng chung là các
nước trong quá trình công nghiệp hóa, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu sau đó sẽ giảm dần do
sự phát triển của nền kinh tế.
Bảng 1. Tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp trên tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tỷ USD)
Năm Kim ngạch XK nông nghiệp Kim ngạch XK cả nước
2005 5.8 30
2006 7.1 40
2007 11.5 72
của mọi ngành, tham gia vào mọi ngành.
Nguồn lực đất đai rất có hạn, trong điều kiện nước ta, mức diện tích tự nhiên
theo đầu người thấp hơn thế giới 6 lần (0,55ha/3,36ha) xếp vào hàng thứ 135, thuộc
nhóm các nước có bình quân đất đai thấp nhất thế giới. Trong đó bình quân đất nông
nghiệp nước ta đạt 0,1ha/người, bằng 1\3 mức bình quân thế giới. Đất tham gia và
sản xuất nông nghiệp được gọi là ruộng đất hay đất nông nghiệp, với tư cách không
chỉ là yếu tố sản xuất thông thường mà còn là yếu tố sản xuất tích cực và là tư liệu
sản xuất không thể thay thế được vì:
- Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên có trước lao động và là điều kiện của lao
động nhưng cũng là sản phẩm lao động của con người.
-Ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động và chính sự kết
hợp giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư
liệu lao động chủ yếu không thể thay thế được. Nó vừa là địa bàn để bố trí sản xuất
vừa là nơi dự trữ và cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển cây trồng và vật
nuôi phát triển thông qua độ phì của đất.
Khác với các tư liệu sản xuất khác, ruộng đất – tư liệu sản xuất chủ yếu trong
nông nghiệp có những đặc điểm như sau:
- Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động. Khi
con người khai phá đất để đưa vào sản xuất thì quá trình đó biến đất từ không tốt
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thành tốt, từ sản phẩm ít thành nhiều sản phẩm. Từ đó ruộng đất trở thành sản phẩm
của con người.
- Ruộng đất có giới hạn về mặt diện tích nhưng sức sản xuất là không có giới
hạn. Số lượng diện tích đất đưa vào sử dụng chỉ có giới hạn tuyệt đối và giới hạn
tương đối. Bởi không phải mọi loại đất đai đều được đưa vào sản xuất nông nghiệp.
Ở nước ta diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất tự nhiên và
có xu hướng ngày càng giảm
- Ruộng đất có vị trí cố định và không đồng đều gắn với đặc điểm tự nhiên
sử dụng đất có hiệu quả phải tuân theo.
b. Đặc điểm:
Chính sách đất đai khác với những chính sách khác của nông nghiệp và nông
thôn do dối tượng mà nó tác động và mục đích của những tác động đó. Chính sách
đất đai trong nông nghiệp có ba đặc điểm lớn:
− Chính sách đất đai tác động đến một loại tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông
nghiệp là đất đai. Tài nguyên đất đai mang đặc trưng là có giới hạn, cố định theo
vùng, chịu ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết, khí hậu và có độ phì khác nhau. Vì vậy
chính sách đất nông nghiệp phải được thiết kế phù hợp với các đặc tính của các loại
đất theo từng vùng.
− Chính sách đất đai liên quan đến vấn đề nông dân, dân tộc và truyền thốnglịch
sử. Quan hệ đất đai đã có từ lâu đời và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau tùy
theo trình độ phát triển của từng quốc gia. Chính sách đất đai hiện đại phải hóa giải
các quan hệ ruộng đất sẵn có theo chế độ kinh tế - xã hội mà nhà nước xây dựng.
Đồng thời chính sách đất đai cũng liên quan đến thái độ chính trị, văn hóa của nông
dân và sự ủng hộ của họ đối với nhà nước.
− Chính sách đất đai liên quan đến đất đai với tư cách là hàng hóa đặc biệt. Bản
thân thị trường đất đai đã có đặc tính không hoàn hảo do nhiều nguyên nhân như
cung đất nhìn chung cố định, giá trị sử dụng đất không mất đi mà còn có thể tăng lên
nếu sử dụng và đầu tư đúng cách. Ở Việt Nam, chỉ có quyền sử dụng đất mới là hàng
hóa.
Tóm lại, chính sách đất đai trong nông nghiệp vừa mang tính chất đặc thù của
chính sách công tác động đến nguồn lực quan trọng nhất của sự sống và phát triển
đồng thời mang tính giai cấp chính trị và xã hội sâu sắc.
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Vai trò của chính sách đất đai
Ở Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ trọng thấp ( khoảng 20% diện
tích đất tự nhiên của cả nước). Trong những năm gần đây, do quá trình đô thị hóa, đất
Chính sách đất đai luôn là trung tâm của hệ thống các chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn. Một chính sách đất đai hợp lí có vai trò hết sức quan trọng
trong việc hoàn thiện các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn khác. Cụ thể:
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
− Chính sách đất đai hợp lí sẽ tạo động lực để sử dụng đầy đủ, hợp lí và có hiệu
quả đất đai trong điều kiện đất đai bình quân đầu người thấp, chất lượng có xu hướng
giảm sút.
− Thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Hiện
nay, nông nghiệp nông thôn còn mang tính thuần nông, chăn nuôi chưa phát triển cân
đối với trồng trọt, nhiều tiềm năng chưa được khai thác, ngành công nghiệp và dịch
vụ phát triển chậm. Mục tiêu đặt ra đến năm 2010 tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm
xuống còn 15 – 16%, công nghiệp và xây dựng tăng lên 40 – 43%, dịch vụ tăng 40 –
41% GDP cả nước. Để đạt được mục tiêu trên cần giải quyết rất nhiều vấn đề, trong
đó sự đổi mới và hoàn thiện Luật đất đai và các chính sách về đất đai là một trong
những vấn đề cơ bản và cấp bách
− Chính sách đất đai có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển nền nông
nghiệp nước ta từ sản xuất nhỏ lẻ thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo
cơ chế thị trường. Trong quá trình chuyển đổi từ những năm gần đây, chính sách đất
đai của nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đưa người nông dân quay về với
đất đai, yên tâm đầu tư, khai thác, bảo vệ và nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng
đất. Tuy vậy, hiện nay đất đai vẫn còn trong tình trạng hết sức manh mún và nhiều
nơi chưa được khai thác đầy đủ và hợp lí.
− Chính sách đất đai hợp lí là một trong những biện pháp chủ yếu và quan trọng
để giải quyết các vấn đề tranh chấp đất đai, tuy đã được hạn chế những vẫn còn xảy
ra ở nông thôn nước ta.
3. Sơ lược về lịch sử phát triển chính sách đất đai
a. Thời kì trước Đổi mới (trước Cách mạng tháng Tám đến 1992)
• Thời kì 1945 - 1981
(khoảng 2%) cùng với tốc độ gia tăng dân số cao (2.2 – 2.35% / năm) làm cho đa số
dân cư trở nên đói nghèo và chính phủ phải nhập khẩu hơn 1 triệu tấn lương thực
trong suốt những năm sau chiến tranh.
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 3. Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và sản lượng một số cây trồng
chủ yếu (%)
Thời kì
Tổng sản lượng
nông nghiệp
Lúa Mía Đậu tương Chè Cà phê Cao su
1976-1980 2.0 -0.4 9.9 11.6 5.1 8.8 0.6
1981-1985 5.5 6.3 8.8 9.5 7.4 23.4 2.4
1986-1988 2.2 3.1 7.1 0.4 -0.4 29.0 -0.3
1989-1993 4.8 4.7 3.3 6.6 5.7 35.1 17.6
1994-1999 6.7 5.9 18.2 3.0 9.0 22.0 14.1
2000-2003 4.6 2.4 1.8 11.8 11.7 8.7 6.2
1981-1988 (TB) 4.5 4.6 5.3 6.5 5.0 28.9 1.9
1989-2003(TB ) 5.4 4.4 8.4 7.5 7.9 23.3 14.6
Với giá cố định năm 2004. Nguồn: niên giám thống kê 1999, 2000, 2001 và 2004
Nhìn từ số liệu bảng trên ta thấy rõ do những hậu quả nặng nề của chiến tranh
tổng sản lượng nông nghiệp tăng 2% nhưng mức tăng đáng kể lại ở các sản phẩm
công nghiệp như mía tăng 11.6%. Tốc độ tăng trưởng của cây lúa trong giai đoạn
1976 – 1980 là – 0.4 dẫn đến tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng kéo dài cho
đến cả những năm sau.
• Thời kì 1981 – 1988
Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là Chỉ thị 100 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100 ra đời năm 1981 với mục đích là khoán
sản phẩm đến người lao động. Dưới chính sách Khoán 100, hợp tác xã giao đất cho
phát triển kinh tế-xã hội nông thôn. Nghị quyết là cơ sở cho việc thông qua Luật Đất
đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IX ngày 14-
07- năm 1993. Luật Đất đai 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đất đai cho phù
hợp với yêu cầu kinh tế-xã hội đặt ra.
Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và
nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Đồng
thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyển đổi,
quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằm tăng
cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người
sử dụng đất.
Tuy nhiên, kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nên
phức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và mua bán quyền sử dụng đất (thực chất là mua bán
đất đai) trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mà Luật Đất đai năm
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1993 khó giải quyết. Vì thế, năm 1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
Đất đai được ban hành và năm 2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất đai.
Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý
nhà nước đối với đất đai. Điều đó được thể hiện bởi những qui định về khung giá các
loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giao đất hoặc khi nhà
nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất…
Năm 2003, Luật Đất đai lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa được ban hành và có hiệu lực ngày 01-07- 2004,
thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật Đất đai đã thừa nhận quyền sử dụng đất
trong thị trường bất động sản.
Như vậy, chính sách giai đoạn 1993 đến nay đã có những ưu điểm như quyền
sử dụng đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và đảm bảo thực hiện; đồng thời,
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Bên cạnh đó vẫn còn có những
đọng của thời kì Khoán 10, nông dân được giao đất lâu dài với năm quyền: chuyển
nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Nguyên tắc quan trọng nhất của việc
giao đất là sự công bằng, chính vì vậy mỗi hộ được giao nhiều mảnh với chất lượng
khác nhau ở những khu vực khác nhau gây ra tình trạng manh mún đất đai. Manh
mún đất đai nghĩa là một hộ canh tác từ hai thửa đất riêng lẻ trở lên. Đây là một đặc
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
điểm của của nông nghiệp ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, đặc biệt
ở các tỉnh phía Bắc. Manh mún đất đai được xem như một rào cản của quá trình sản
xuất nông nghiệp nên nước ta cũng đang có những biện pháp, chính sách khuyến
khích tập trung đất đai.
Sau cải cách, ở Việt Nam ước tính có khoảng 75 đến 100 triệu thửa đất, trung
bình mỗi hộ có từ 7 đến8 thửa và khoảng 10% số thửa ruộng có diện tích khoảng
100m2 hoặc ít hơn. Tình trang manh mún đất đai diễn ra phổ biến nhất ở Đồng bằng
sông Hồng với 90% hộ gia đình có diện tích đất nông nghiệp từ 0.2-0.5ha trong khi
đó tại đồng bằng sông Cửu Long các hộ nông nghiệp có diện tích đất lớn hơn. (bảng
4)
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguồn: Epprecht, M. and Robison, T.P.(Eds) 2007.
Nguyễn Thị Cẩm Nhung Lớp Kinh tế nông nghiệp 48
19
Bảng 4. Diện tích trung bình của hộ nông nghiệp (ha).
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyên nhân gây ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam
Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết hầu hết những khó khăn còn tồn
đọng của thời kì Khoán 10, nông dân được giao đất lâu dài với năm quyền: chuyển
nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Nguyên tắc quan trọng nhất của việc