Một số giải pháp phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty rau quả,nông sản Việt Nam - Pdf 44

Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Lương thực, thực phẩm là những nhu cầu cấp thiết hàng ngày đối với sự sống và
phát triển của con người. Theo đà phát triển của xã hội, đời sống của con người càng
cao thì yêu cầu về chất lượng lương thực càng cao. Chất lượng thức ăn không đơn
thuần chỉ là ăn no mà càng ngày càng cần phải ngon và đa dạng. Chính vì vậy tạo ra
xu hướng giảm khẩu phần lương thực đồng thời tăng khẩu phần rau quả trong các
bữa ăn.
Trên thế giới, các nước có mức sống cao cũng là những nước có nhu cầu sản
phẩm rau quả rất lớn bao gồm cả rau quả tươi và rau quả chế biến. Rau quả ngoài tác
dụng cung cấp lượng lớn chất khoáng và vitamin cho cơ thể con người nó còn có tác
dụng quan trọng khác như làm các loại dược liệu.Vì thế ở những nước này rau quả là
một ngành kinh tế quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng
và nền kinh tế xã hội nói chung. Nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số
nước không có đủ điều kiện để phát triển ngành rau quả đáp ứng đủ nhu cầu và đa
dạng chủng loại mà thị trường yêu cầu vì thế những nước này đã dung chính sách
nhập khẩu rau quả hàng năm. Nó đã kích thích phát triển ngành rau quả trên toàn thế
giới.
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới và ôn đới với 7 vùng sinh thái khác nhau.Nên có
khả năng trồng luân canh rau quả một cách phong phú đa dạng. Là một tiềm năng
phát triển kinh tế quan trọng.
Nhu cầu về rau quả của thị trường trong nước và quốc tế đang tăng lên nhanh
chóng từng ngày.Phát triển sản xuất rau quả gắn với công nghiệp chế biến phục vụ
tiêu dùng và xuất khẩu đã trở thành một trong các mục tiêu của trương trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.Nhưng ngành chế biến rau quả ở Việt Nam nói
chung và Tổng công ty rau quả, nông sản nói riêng vẫn chưa theo kịp yêu cầu của thị
trường. Do vậy ngành rau quả cần đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu đặt ra.
Muốn làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải có nguồn cung cấp nguyên liệu
hợp lý.
Trên thực tế, việc cung cấp nguyên liệu ở Tổng công ty rau quả,nông sản luôn

-Thu thập số liệu qua tình hình sản xuất và chế biến của các nhà máy trong
Tổng công ty.
5.Bố cục chuyên đề gồm 3 phần chính.
-Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển vùng nguyên liệu ray quả
phục vụ cho công nghiệp chế biến.
-Phần 2: Thực trạng cung cấp nguyên liệu phục vụ cho các nhà máy chế biến
rau quả thuộc Tổng công ty rau quả,nông sản Việt Nam.
-Phần 3: Phương hướng và giải pháp phát triển vùng nguyên liệu rau quả phục
vụ cho các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty rau quả, nông sản Việt Nam.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
2
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Vũ Thị Minh cùng các cô chú trong
phòng Kế hoạch - Tổng hợp của Tổng công ty rau quả, nông sản đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này.
Do thời gian nghiên cứu và trình độ bản thân có hạn nên bài viết của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô và các
bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Vũ Minh Đức
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
3
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN
LIỆU RAU QUẢ PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
1. Tầm quan trọng của rau quả
1.1 Vai trò của rau quả đối với nền kinh tế

1997
%
1998
%
1999
%
2000
%
Bình quân giai
đoạn 1996- 2000
%
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Trong đó
Cây lương thực 65,9 63,6 64,1 62,5 63,9 64
Cây công nghiệp 16,7 28,3 18,4 19,5 19,1 18,1
Cây rau quả
15,2 15,9 15,5 15,5 15,1 15,4
(Nguồn: Theo số liệu thống kê nông - lâm - thuỷ sản Việt Nam 1999 – 2000)
1.2 Vai trò của rau quả đối với đời sống con người
Trước đây, trong nền kinh tế tự cấp tự túc hàng hoá khan hiếm không có sẵn
bán trên thị trường, hầu hết gia đình nào cũng có một khoảnh đất để trồng rau quả vì
như ta đã biết nó là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con
người. Rau quả có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại của con
người. Các loại rau quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và
ngành nghề khác nhau. Trong rau quả có các loại đường dễ tiêu, axit hữu cơ, prôtêin,
lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác, có nhiều loại
vitamin như: A, B1, B2, B6, PP. Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể con
người, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong khẩu phần ăn của con người không
những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt
chất khác để các hoạt động sinh lý được tiến hành bình thường. Nhu cầu về calo dựa

1.3 Sự cần thiết phải chế biến rau quả
Rau quả là sản phẩm của ngành nông nghiệp mang tính sinh học rất đậm nét.
Trong quá trình sản xuất ra các loại rau quả người nông dân thường xuyên phải sử
dụng các chất hoá học để kích thích sự tăng trưởng của cây trồng cũng như bảo vệ
nó. Bởi vì để có được các loại rau quả xanh, tươi cung cấp cho người tiêu dùng thì
người sản xuất phải trải qua một quá trình chống chọi với thiên nhiên dịch bệnh. Để
hạn chế được sự tấn công của sâu bệnh thì người sản xuất phải sử dụng các loại thuốc
hoá học cho cây trồng. Vì vậy trong nhiều loại rau quả vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các
chất hoá học này và đôi khi còn gây ngộ độc nguy hại cho sức khoẻ con người.
Mặt khác, rau quả là sản phẩm tươi sống nên rất dễ hư hỏng và thời gian bảo
quản thường ngắn. Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau quả
nói riêng có tính thời vụ rất sâu sắc. Khi đến mùa vụ thì sản phẩm nhiều, ứ đọng, giá
rẻ đôi khi không bán được hoặc có bán được thì vẫn lỗ. Điều này đã gây tâm lý chán
nản cho người nông dân làm cho cuộc sống của họ vốn đã khó khăn lại càng khó hơn.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
6
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Đứng trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải có các nhà máy chế biến rau
quả. Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao, họ không
chỉ có nhu cầu về sản phẩm tươi sống mà còn có nhu cầu về các sản phẩm chế biến từ
rau quả. Vả lại, do tính mùa vụ nên một số loại rau quả chỉ thu hoạch được ở những
thời điểm nhất định trong năm mà nhu cầu về sản phẩm đó thì lại ở mọi thời điểm.
Việc hình thành công nghiệp chế biến rau quả sẽ tạo thêm việc làm thu hút lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn.
Mặt khác thông qua chế biến, sẽ làm tăng giá trị và tăng khả năng tiêu thụ của sản
phẩm rau quả do đó cũng góp phần làm tăng lợi nhuận cho người sản xuất.
Do vậy trong tương lai ngành rau quả sẽ có triển vọng phát triển rất lớn.
Nhưng để nâng cao hiệu quả của ngành rau quả thì vấn đề đặt ra là phải phát triển
công nghiệp chế biến. Chỉ bằng con đường đó thì người sản xuất mới tăng được lợi
nhuận và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng rau quả ngày càng cao và đa dạng trong

“Chế biến rau quả là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong công
nghiệp áp dụng vào nông nghiệp nhằm tạo ra sự đa dạng về mẫu mã và đảm bảo về
chất lượng các sản phẩm rau quả đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường”.
Hiện nay hoạt động chế biến nông, lâm, thuỷ sản ở nước ta chưa phát triển
theo kịp với nhu cầu chế biến nông, lâm, thuỷ sản và nhu cầu việc làm trong nông
thôn. Cả ở quy mô chế biến công nghiệp tập trung và chế biến quy mô nhỏ trang trại
gia đình đều còn trì trệ, mặc dù đây là khâu quan trọng để tạo ra hàng hoá nông sản
đủ tiêu chuẩn chất lượng tham gia vào thị trường nông sản trong và ngoài nước. Vì
vậy, cần phải tạo ra các mô hình “mẫu” có hàm lượng khoa học cao, làm động lực
thúc đẩy nông nghiệp phát triển có định hướng, ổn định và có hiệu quả kinh tế cao.
Qua khái niệm trên, công nghiệp chế biến rau quả gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sơ chế và bảo quản. Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khi
thu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công truyền
thống với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng. Nó quyết định mức độ
tổn thất sau khi thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến. Đây
là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau.
Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp. Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệp
công nghiệp chế biến. Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc thiết bị công
nghệ cần thiết. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức độ chất lượng sản phẩm
chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm.
2.2. Đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.2.1 Công nghiệp chế biến rau quả đòi hỏi các nhà máy chế biến phải gắn với
vùng nguyên liệu
Bất kỳ ngành công nghiệp chế biến nào cũng cần phải có nguyên liệu. Việc
đưa nguyên liệu đến các nhà máy là vấn đề mà bất cứ lĩnh vực nào cũng phải đặt ra.
Nhất là đối với rau quả là những sản phẩm tươi sống, cồng kềnh và dễ dập nát. Vùng
nguyên liệu và công nghiệp chế biến rau quả có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ trên các
lĩnh vực đặc tính kỹ thuật của dây chuyền sản xuất và tính hiệu quả kinh tế.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
8

đa dạng hoá các cây nguyên liệu để làm sao nhà máy có thể hoạt động quanh năm.
Bởi vì các cây nông nghiệp mang tính thời vụ cho nên phải tránh tình trạng tập trung
vào một hai nguyên liệu chính thì thời gian sản xuất ngắn do đó nhà máy hoạt động
không liên tục trong năm sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề khác kéo theo: Công nhân
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
9
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
không có việc làm, họ không đảm bảo được đời sống, công nhân bỏ nhà máy đến khi
nhà máy có nguyên liệu hoạt động trở lại thì lại không có công nhân làm.
Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các dây
chuyền máy móc thiết bị ngày càng được cải tiến theo hướng hiện đại. Cho nên khi
mua máy móc về chúng ta phải làm sao hoạt động với thời gian lớn nhất để tránh sự
hao mòn vô hình. Nhưng thực tế hiện nay ở nước ta máy móc thiết bị chúng ta mua
về thường là đồ thải của các nước tiên tiến, khi đưa vào sản xuất lại hoạt động không
hết công suất thiết kế. Nhìn chung, các dây chuyền thiết bị chế biến nước ta là lạc hậu
so với thế giới. Như vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải quy hoạch vùng
nguyên liệu hợp lý để làm sao các nhà máy chế biến hoạt động với công suất tối đa.
Điều đó, trước mắt là đảm bảo được đời sống của người lao động, sau là góp phần
vào việc tăng trưởng nền kinh tế.
2.3 Vai trò của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.3.1 Đối với nền nông nghiệp hàng hoá
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ phận chủ
yếu của sản xuất vật chất, sản xuất lương thực thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu
cung cấp cho công nghiệp chế biến.
Công nghiệp và nông nghiệp có quan hệ với nhau rất khăng khít. Công nghiệp có
nhiệm vụ của công nghiệp, nông nghiệp có nhiệm vụ của nông nghiệp, mỗi ngành sản
xuất ra những sản phẩm khác nhau và đáp ứng yêu cầu khác nhau của nền kinh tế, song
hai ngành phát triển không tách rời nhau mà có quan hệ với nhau rất hữu cơ, ngành này
phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy ngành kia phát triển và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường ví công nghiệp và nông nghiệp như “hai chân của con người”, “hai chân

trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia. Riêng Việt Nam một nước
có diện tích trồng rau quả dồi dào và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các
loại rau quả, công nghiệp chế biến rau quả đã góp một phần không nhỏ vào sự phát
triển kinh tế nước nhà. Hàng năm ngành rau quả đã góp vào tổng sản phẩm quốc dân
(GDP) thông qua tổng giá trị sản lượng của ngành.
Ngoài việc góp phần trực tiếp vào việc gia tăng GDP của nền kinh tế, ngành
công nghiệp chế biến rau quả còn gián tiếp làm thay đổi những quan niệm về cuộc
sống, làm tăng trình độ văn hóa đó chính là những động lực thúc đẩy quá trình tăng
trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó với việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả ngành công nghiệp chế
biến rau quả đã tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, tăng thêm khả
năng chi tiêu cho Chính phủ, cho các công trình khác phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước.
Hơn nữa đối với Việt Nam có dân số khoảng 80 triệu người, có nguồn lao
động khoảng 40 triệu người, với tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn là rất cao. Vì vậy việc
phát triển công nghiệp chế biến là hết sức cần thiết góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp
tăng thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
11
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Như vậy có thể nói ngành công nghiệp chế biến rau quả có vai trò quan trọng
trong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân. Ngành chế biến rau quả phát triển
là một trong những yếu tố chính đảm bảo sự ổn định trên thị trường hàng hoá tiêu
dùng cũng như thị trường nguyên liệu cho sản xuất.
3. Sự cần thiết phải xây dựng vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau
quả
3.1. Khái niệm vùng nguyên liệu
Vùng nguyên liệu là một khái niệm tổng quát về vùng mà trong đó có thể xác
định được những phần diện tích thích hợp với mục đích kinh doanh, phát triển các
cây để làm nguyên liệu. Ranh giới vùng nguyên liệu được hoạch định theo địa giới

có hạn thì dễ dẫn đến tình trạng đưa cả nguyên liệu không đủ chất lượng vào bán.
Khi quy mô của mỗi cơ sở trồng nguyên liệu quá nhỏ, thì mối quan hệ giữa các nhà
máy chế biến và người trồng nguyên liệu không đem lại lợi ích lớn cho cả hai phía.
Khi lợi ích này không mang tính kinh tế tích cực thì nhà máy chế biến khó phát triển
và cơ sở trồng rau quả sẽ chú trọng hoạt động sản xuất khác.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất chung cho cả khâu chế biến và khâu
trồng nguyên liệu đòi hỏi khi xây dựng vùng nguyên liệu rau quả cần giảm đến mức
tối thiểu số cơ sở trồng nguyên liệu manh mún nhỏ lẻ, các cơ sở trồng nguyên liệu
cần đạt quy mô càng lớn càng tốt, tránh việc có quá nhiều cơ sở trồng nguyên liệu có
quy mô nhỏ và phân tán. Chỉ có như vậy thì ngành chế biến rau quả mới phát triển
lên tầm cao mới góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển vùng nguyên liệu
4.1. Nhân tố tự nhiên
Sản xuất rau quả hiện nay chủ yếu vẫn được tiến hành ngoài trời lệ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên và mang tính khu vực rõ rệt. Mặt khác, rau quả là những
cơ thể sống, chúng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật sinh học nhất định.
Do đó chúng rất nhạy cảm với môi trường tự nhiên.
Các yếu tố tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý, đất đai, thời tiết khí hậu, địa hình là
những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển vùng nguyên liệu rau quả.
4.1.1. Vị trí địa lý
Lãnh thổ nước ta kéo dài suốt sườn Đông và sườn Nam của bán đảo Đông
Dương, chiếm phần lớn diện tích của bán đảo này và nằm ở vị trí gần trung tâm của
khu vực Đông Nam Á, đồng thời có những nét riêng biệt độc đáo.
Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều loài động thực vật từ Trung Hoa xuống, Ấn
Độ sang làm cho lớp động thực vật của nước ta ngày càng phong phú trong đó có
những loài rau quả mà không phải nước nào cũng có như: dứa, xoài, vải, nhãn…
4.1.2. Đất đai
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, đất nước có chiều dài trên 15 vĩ độ
với mấy ngàn km giáp biển Đông. Đất đai nước ta phong phú, cả nước có 13 nhóm

lợi thế sinh thái so với nhiều nước khác. Các hệ thống giao thông đường bộ, đường
biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá quốc tế và khu vực.
Những đặc điểm tự nhiên hết sức vốn có của Việt Nam đã tạo cho nền nông
nghiệp nước ta một lợi thế so sánh hơn hẳn nước khác. Vì nó đã tạo cho nước ta
những mặt hàng rau quả có giá trị xuất khẩu cao, xuất khẩu tương đối thuận lợi và
được khách hàng thế giới ưa chuộng, có uy tín về nhiều mặt
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
14
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
4.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
4.2.1. Lao động
Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định tới sự phát triển của mọi ngành sản
xuất trong đó có ngành sản xuất rau quả. Nguồn lực lao động là tổng thể sức lao động
tham gia vào hoạt động sản xuất.
Nguồn lực lao động có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nói chung.
Trong nông nghiệp, nguồn lực lao động bao gồm người trong độ tuổi từ 16 – 60 đối
với nam và từ 16 – 55 đối với nữ, những người ngoài độ tuổi trên cũng có thể tham
gia vào sản xuất nông nghiệp.
Về chất lượng của nguồn lực lao động bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực
được biểu hiện thông qua sức khoẻ, sự dẻo dai của người lao động. Còn trí lực thể
hiện thông qua trình độ chuyên môn của người lao động.
Đặc biệt trong sản xuất rau quả yêu cầu của lao động phải đủ số lượng, có sức
khoẻ, có khả năng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật, có thái độ nghiêm
túc trong sản xuất.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại gần 80% dân số cả nước sống ở
nông thôn và khoảng 68% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực
này. Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và có thể cung cấp
đủ lao động cho sản xuất rau quả.
Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua thế hệ đã tích luỹ được nhiều
kinh nghiệm trồng trọt các giống rau, bưởi, cam, quýt, hồng, xoài, thanh long... Nông

phương pháp khác nhau mà không cần sử dụng hoá chất như bảo quản bằng kho lạnh…
cho phép đảm bảo độ an toàn vệ sinh thực phẩm.
Như vậy, tiến bộ khoa học công nghệ là nhân tố thúc đẩy sản xuất phát triển.
4.2.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển vùng nguyên liệu rau
quả. Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng: Điện, đường, hệ thống
thuỷ lợi kênh mương.
4.2.5. Phong tục tập quán
Sản xuất rau quả nước ta vẫn còn mang tính tự phát, sản xuất nhỏ, phân tán
theo tập quán. Ruộng đất phân chia nhỏ theo từng hộ nông dân, vốn liếng ít ỏi nhất là
ở phía Bắc, người dân ngại rủi ro, chưa dám mạnh dạn đầu tư và thích ứng kịp thời
với sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường. Do vậy, có những trường hợp nông dân
bị tác động bởi giá cao hơn, không đảm bảo chữ tín hợp đồng. Đây là một trở ngại
lớn trong tổ chức sản xuất rau quả với khối lượng lớn phục vụ cho công nghiệp chế
biến.
4.2.6. Cơ chế chính sách, các nhân tố vĩ mô.
Là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất rau quả.
Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát triển sản
xuất và tăng khối lượng xuất khẩu. Nhưng ngược lại nếu cơ chế chính sách mà không
đúng nó sẽ cản trở việc phát triển sản xuất rau quả.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
16
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
Gồm các chủ trương chính sách của Nhà nước, các cấp tác động trực tiếp vào
sản xuất hoặc gắn trực tiếp thông qua thị trường. Sự can thiệp có chủ định của Nhà
nước có thể thông qua thuế, trợ giá, điều hoà giá, ra quyết định thành lập… Các chính
sách đó đều có tác động đến giá, đến sự hình thành các vùng sản xuất, cụ thể chính
sách trong sản xuất rau quả như khi thời vụ thì Nhà nước áp dụng biện pháp trợ giá
để cho hoạt động này diễn ra liên tục và kịp thời.
4.2.7. Những nhân tố thuộc quản lý vi mô

Tỷ suất nông sản
Tổng GTSP thực bán ra
hàng hoá

Tổng GTSP sản xuất ra
- Giá trị sản lượng trên 1ha đất nông nghiệp
GTSL trên 1ha Tổng GTSL
đất NN Tổng diện tích đất NN
- Thu nhập trên 1000 đ chi phí sản xuất
Thu nhập trên 1000 đ Tổng thu nhập
CPSX Tổng chi phí sản xuất
- Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận =
Tổng chi phí
- Møc ®é ®¸p øng yªu cÇu vÒ nguyªn liÖu
Mức độ đáp ứng yêu cầu Khối lượng nguyên liệu cung cấp
về nguyên liệu Tổng nhu cầu nguyên liệu
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
18
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
PHẦN 2
THỰC TRẠNG CUNG CẤP NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ CHO CÁC
NHÀ MÁY CHẾ BIẾN RAU QUẢ THUỘC TỔNG CÔNG TY RAU
QUẢ, NÔNG SẢN
1. Tổng quan về Tổng công ty rau quả, nông sản
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty rau quả, nông sản
Tổng công ty rau quả, nông sản được thành lập và chính thức đi vào hoạt động
từ ngày 01/7/2003, trên cơ sở sáp nhập Tổng công ty Nông sản và TPCB và Tổng
công ty rau quả Việt Nam theo quyết định số 66/2003/QĐ/BNN - TCCB ngày

quả sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức quản lý kinh doanh
+ Tổ chức bộ máy kinh doanh phù hợp đổi mới trang thiết bị đặt chi nhánh
văn phòng đại diện của Tổng công ty trong và ngoài nước.
+ Mở rộng kinh doanh lựa chọn thị trường, thống nhất thị trường giữa các
đơn vị thành viên được xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Nhà nước.
+ Quy định khung giá, xây dựng và áp dụng các định mức lao động mới và
các đối tác nước ngoài.
+ Tổ chức công tác tiếp thị, hoạch định chiến lược mặt hàng, giá cả nhằm
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Quản lý sử dụng vốn đất đai tài nguyên các nguồn lực khác, đầu tư, liên
doanh, liên kết, chuyển nhượng, thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản.
1.2.2. Nhiệm vụ
- Phải đăng kí kinh doanh theo đúng ngành nghề kinh doanh đã đăng kí trong
điều lệ của Tổng công ty, các quy định và pháp luật hiện hành của Nhà nước và pháp
luật hiện hành.
- Bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước giao
- Nộp ngân sách Nhà nước và các địa phương
- Thực hiện chế độ thu chi, hoá đơn chứng từ theo chế độ hạch toán Nhà nước.
- Chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của Nhà nước trong quá trình hoạt động
kinh doanh. Thực hiện đường lối chính sách của Nhà nước.
- Kinh doanh trong phạm vi ngành nghề đăng kí. Nghiêm chỉnh thực hiện chế
độ bảo hộ lao động, môi trường của Nhà nước.
1.2.3. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Tổng công ty
* Sản xuất, chế biến, kinh doanh và xuất nhập khẩu trực tiếp:
- Rau, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản, thực phẩm đồ uống.
- Giống: Rau, hoa, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản.
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
20
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN

Trung tâm CBQR
Công suất
tấn/năm
Nhu cầu nl
tấn/năm
1. Công ty TPXK Đồng Giao 18.500 90.750
- Dứa cô đặc 5.000 50.000
- Đồ hộp 10.000 30.000
- Đông lạnh 2.000 10.000
- Nước quả 1.500 750
2. Công ty TPXK Bắc Giang 3.000 9.000
- Đồ hộp 3.000 9.000
3. Công ty CBTPXK Kiên Giang 8.000 59.000
- Dứa cô đặc 5.000 50.000
- Đồ hộp 3.000 9.000
4. Công ty TPXK Tân Bình 10.000 34.000
- Đồ hộp 8.000 24.000
- Dứa đông lạnh 2.000 10.000
5. Công ty CBTPXK Quảng Ngãi 1.500 750
- Nước quả 1.500 750
6. Công ty XNK rau quả I 3.000 9.000
- Đồ hộp 3000 9.000
7. Công ty rau quả Hà Tĩnh 3.000 9.000
- Đồ hộp 3.000 9.000
8. Công ty GN và XNK Hải Phòng 4.000 40.000
- Cà chua cô đặc 4.000 40.000
9. Công ty CPTPXK Hưng yên 3.000 9.000
- Đồ hộp 3.000 9.000
10. Công ty XNK nông sản Đà Nẵng 3.000 30.000
- Nước dứa cô đặc 3.000 30.000

Tổng công ty có thể làm được thậm chí còn hơn thế nữa. Nhưng hiện nay mức độ đáp
ứng nhu cầu nguyên liệu của Tổng công ty là rất thấp do đó Tổng công ty cần có kế
hoạch xây dựng phát triển vùng nguyên liệu trong cũng như ngoài Tổng công ty
nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến.
1.4.2. Chủng loại mặt hàng
Cùng với xu hướng tiêu dùng ngày càng cao của thị trường trong nước cũng
như xuất khẩu Tổng công ty đã không ngừng mở rộng chủng loại mặt hàng, nâng cao
chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường khó tính như: Mỹ,
Nhật, EU…
Cơ cấu chủng loại sản phẩm của Tổng công ty rất đa dạng phong phú bao
gồm:
- Sản phẩm đóng hộp
- Sản phẩm đông lạnh
- Sản phẩm sấy khô
- Sản phẩm muối và dầm dấm
- Sản phẩm nước quả cô đặc
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
24
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa: BĐS & KTTN
- Gia vị các loại.
Bảng 3: Định hướng sản phẩm và thị trường của Tổng công ty
Sản phẩm chủ lực Sản phẩm đa dạng khác Thị trường chính
1. Rau quả tươi
- Bắp cải, khoai tây, hành
tây, cà rốt, dưa hấu, gừng,
tỏi, nghệ
- Chuối tiêu, vải
- Hoa lay ơn, loa kèn,
phong lan…
- Su hào, súp lơ, tỏi tây, đậu

Liên bang Nga, Tây Bắc
Âu, Đông Âu, Mỹ, Nhật
Bản, Trung Quốc và một
số nước á, úc
Mỹ, Đức
3. Rau quả sấy muối
- Chuối sấy, nhân hạt điều
- Dưa chuột, nấm muối
Các loại hoa quả sấy khác
Các loại rau quả muối khác
Liên bang Nga, Nhật , Mỹ
và một số nước Bắc Mỹ
4. Gia vị
- Hạt tiêu, ớt, tỏi, gừng Nghệ, quế, hồi, riềng
Châu Phi, Liên bang Nga,
Trung Đông…
5. Giống rau
- Hạt rau muống, cải các
loại, tỏi củ
Các hạt giống rau,đậu, gia
vị nhiệt đới khác
Châu Phi, Châu á, Châu
Mỹ La Tinh…
(Nguồn: Tổng công ty rau quả, nông sản)
Như vậy để các nhà máy chế biến hoạt động với công suất tối đa, chủng loại
mặt hàng ngày càng đa dạng phong phú thì vấn đề cần thiết nhất là phải cung cấp
Vũ Minh Đức Lớp KTNN&PTNT 48
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status