Khảo sát trường ngữ nghĩa trong tác phẩm “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường - Pdf 45

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ học đề cập đến rất nhiều vấn đề: âm vị, hình vị, từ, câu...
khả năng kết hợp của từ, ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp... trường nghĩa là
một trong những lí thuyết quan trọng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm
nghiên cứu. Tìm hiểu về trường nghĩa, chúng ta có thể làm sáng tỏ nhiều vấn
đề của hệ thống từ vựng như mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong cùng
một hệ thống, hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ. Các
vấn đề nói trên đều gắn bó chặt chẽ với quá trình sử dụng ngôn ngữ, do đó
nghiên cứu về trường nghĩa sẽ giúp ta thấy rõ các đặc điểm của ngôn ngữ
trong hoạt động hành chức.
1.2. Theo cách cảm thụ truyền thống, người đọc thường chỉ chú ý đến
nhân vật, bối cảnh, tình huống, cốt truyện... mà ít chú ý đến ý nghĩa từ vựng,
ý nghĩa ngữ pháp của từ, khả năng kết hợp của từ, ý nghĩa của từ nằm trong
trường nghĩa nào... Việc dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay, dạy và
học ngôn ngữ không tách rời việc phân tích các tác phẩm văn học. Xu hướng
hiện nay dạy học theo quan điểm tích hợp ngữ - văn đang được đề cao, các lí
thuyết ngôn ngữ càng được quan tâm ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm, góp
phần giải mã tín hiệu ngôn ngữ ở một dạng đặc biệt - ngôn ngữ nghệ thuật.
Thực tế bấy lâu nay, người dạy và người học tiến hành phân tích cách sử dụng
từ ngữ của nhà văn trong các sáng tác văn chương đều phải dùng đến những
kiến thức có liên quan đến lí thuyết về trường nghĩa nhưng chưa thực sự ý
thức được điều đó. Cũng vì thế việc cảm thụ nhiều khi khó tránh khỏi cảm
tính, chưa có cơ sở khoa học rõ ràng hoặc chưa thấy hết những biểu hiện đặc
sắc cũng như các mối quan hệ trong lòng hệ thống của các từ ngữ. Bởi vậy,

1


nghiên cứu lí thuyết về trường nghĩa trong quan hệ với việc phân tích tác
phẩm văn học là điều cần thiết.


trong tâm thức con người và thế giới ma quỷ ngay trong cuộc sống đời
thường. Hai thế giới đó nhiều khi hòa lẫn vào nhau khiến người đọc khó nhận
biết đâu là thực, đâu là ảo, khó phân biệt được đâu là người, đâu là ma. Nhà
văn Nguyễn Khắc Trường vẫn có thể phản ánh được hiện thực của nông thôn
Việt Nam mà không cần sử dụng yếu tố kì ảo, nhưng chắc chắn hiệu quả thẩm
mỹ sẽ không cao bằng. Thế giới kì ảo trong truyện làm sống dậy cả chiều sâu
văn hóa tâm linh, văn hóa ứng xử sâu rễ bền gốc ở nông thôn và góp phần vẽ
lên bức tranh toàn cảnh về đời sống nông thôn thời kì đổi mới. Nhà văn đã
mượn thế giới ma quỷ để phản ánh thế giới thực tại mà chúng ta đang sống,
giúp chúng ta nhận thức hiện thực một cách tỉnh táo và sâu sắc, đặc biệt là
phản ánh được phần chìm khuất của tâm hồn con người.
Trên Webside: http: tusachvanhoc.com.vn ngày 9 tháng 5 năm 2011, có
đăng bài viết Bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết “Mảnh đất
lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường, của tác giả Lê Nguyên Cẩn,
khi bàn về nội dung, Lê Nguyên Cẩn đã tìm hiểu những yếu tố làm nên thành
công của tác phẩm là những câu chuyện li kì và những tín ngưỡng dân gian;
những mâu thuẫn họ tộc; là thân phận con người dưới đáy xã hội và khát vọng
dân chủ; là số phận người phụ nữ sau lũy tre làng... trước những thế lực tranh
giành địa vị, quyền lực, danh dự. Tất cả những tình huống bi kịch trong tiểu
thuyết được tác giả Nguyễn Khắc Trường giải thích dưới hình thức châm
biếm, hài hước. Đằng sau giọng điệu cười đùa bỡn cợt là một tấm lòng yêu
thương ưu ái với đời. Tác giả cũng đã rất thành công khi xây dựng tính cách
nhân vật đối lập nhau, những cảnh huống trái ngược nhau làm nổi bật vấn đề
được phản ánh.
Tác giả Lưu Thị Ngọc trong khóa luận tốt nghiệp Đại học tại trường Đại
học Quốc gia Hà Nội năm 2009, đã tìm hiểu đề tài Đặc điểm vai giao tiếp
trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường.

5

6


4. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn có những đóng góp sau:
- Về lí luận: Luận văn cố gắng làm rõ những vấn đề cơ bản về trường
nghĩa và khả năng ứng dụng lí thuyết này trong phân tích tác phẩm văn học.
- Về thực tiễn: Những kết quả chúng tôi thu được khi tìm hiểu tiểu thuyết
Mảnh đất lắm người nhiều ma dựa vào lý thuyết về trường nghĩa có thể áp
dụng vào quá trình dạy học theo hướng tích hợp Ngữ - văn ở nhà trường phổ
thông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại trường nghĩa về sự vật và trường nghĩa về hoạt
động, tính chất trong tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn
Khắc Trường.
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: phương pháp nghiên cứu này được
sử dụng để nghiên cứu, phân tích nội dung ý nghĩa các từ ngữ trong trường
nghĩa về sự vật và trường nghĩa về hoạt động, tính chất trong tiểu thuyết
“Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường và quá trình biến
đổi ý nghĩa của chúng.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để phân tích lời thoại, tổng kết các kết quả nghiên cứu.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương I : Cơ sở lí luận
Chương II : Trường nghĩa sự vật

tưởng chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định.
Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hoặc trái ngược trực

8


tiếp giữa chúng về ý nghĩa. Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các
từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý
nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng
biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hệ cú pháp giống nhau" [dt
9, 243]. Đặc biệt Ferdinand de Saussure - người được coi là cha đẻ của ngôn
ngữ học hiện đại đã đưa ra một luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận:
"ngôn ngữ là một hệ thống trong đó mọi yêu tố đều gắn bó khăng khít với
nhau, và trong đó giá trị của yếu tô này chỉ là hệ quả của sự tồn tại đồng thời
của những yếu tố khác" [46, 222]. Ông cũng cho rằng "chính phải xuất phát từ
cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mô nó chứa
đựng" [dt 9, 243]. Những luận điểm nói trên đã giúp những người nghiên cứu
ngôn ngữ sau này có cơ sở để xác lập các trường nghĩa dựa trên sự khảo sát từ
vựng một cách có hệ thống. Sau khi xuất hiện vào những năm 20 - 30 của thế
kỉ XX, khái niệm trường nghĩa nhanh chóng được phổ biến và đạt được
những thành tựu quan trọng. Lí thuyết về trường nghĩa gắn với tên tuổi các
nhà nghiên cứu như G. Ipsen (1924), J. Trier (1934), W. Porzig(1934),... Tư
tưởng cơ bản của lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống.
J. Trier là nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra thuật ngữ "trường" trong ngôn
ngữ học. Ông không dùng khái niệm trường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường
khái niệm và trường từ vựng. Trường khái niệm là một hệ thống rộng gồm
những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ chức lại xung quanh một khái
niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương
ứng với một khái niệm. Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một
trường khái niệm.

từ rời là thành viên của trường. Theo nhà nghiên cứu này, trong phạm vi một
trường từ vựng duy nhất, tức là trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ
thuộc cùng một phạm vi biểu tượng. Những trường như thế gọi là trường cấu
tạo từ.
Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất được gọi là nhóm từ vựng - ngữ nghĩa.
Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa có thể

12


rất khác nhau. Chẳng hạn, có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu
thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hòa. Từ này
mang ý nghĩa phạm trù chung, trên cơ sở đó, tập hợp tất cả các thành phần
còn lại của trường. Ví dụ như ta có từ mang ý nghĩa phạm trù chung là "thực
vật". Từ này sẽ có thể tập hợp quanh nó các từ chỉ các loại thực vật khác nhau
như: thông, sồi, ngô, lúa... Ngoài ra người ta cũng có thể tập hợp các từ thành
một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa trên cơ sở một khái niệm chung có mặt ở trong
mỗi một từ của nhóm này. Ví dụ các từ chỉ quan hệ thân tộc, những động từ
cảm nghĩ, nói năng... Một số người còn xếp cả từ loại và tiểu loại vào những
nhóm từ vựng - ngữ nghĩa do các từ thuộc vào một từ loại hoặc một tiểu loại
cũng có cùng một ý nghĩa khái quát chung (ý nghĩa sự vật ở danh từ , ý nghĩa
hoạt động ở động từ, ý nghĩa tính chất ở tính từ). Mỗi từ loại này lại có thể
chia ra thành các tiểu loại, mỗi tiểu loại cũng đều có các ý nghĩa khái quát
chung.
Dựa vào các từ mà người ta liên tưởng tới khi nghe một từ nào đó, người
ta lập thành các trường liên tưởng (quan điểm của Ch. Bally). Theo Bally, mỗi
từ phát ra là một kích thích có thể làm trung tâm của một trường liên tưởng
ngữ nghĩa, chẳng hạn từ "bò" trong tiếng Pháp có thể là trung tâm của một
trường liên tưởng: 1. Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ... 2.Sự cày bừa, cái
ách, cái cày... 3. Những ý niệm về tính thụ động... Như vậy dựa trên kết quả

thành các trường khác nhỏ hơn. Chẳng hạn trường biểu vật người trong tiểu
thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” có thể được chia thành các trường:
trường nghĩa giới tính, trường nghĩa nghề nghiệp, trường nghĩa tuổi tác,
trường các từ chỉ cấp bậc, chức vụ... Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật cho
nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau. Do đó các trường có thể
thẩm thấu, giao thoa nhau (chẳng hạn các từ "nỗi buồn","niềm vui" vừa thuộc
trường nghĩa người - trạng thái tinh thần con người, vừa thuộc trường các
khái niệm, phạm trù trừu tượng).

14


- Trường nghĩa biểu niệm: Căn cứ để phân lập các trường biểu niệm là các
ý nghĩa biểu niệm của từ. Trường nghĩa biểu niệm chính là tập hợp các từ có
chung một cấu trúc biểu niệm. Các trường biểu niệm có thể giao thoa với
nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và
những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi.
Nói tóm lại vì các ý nghĩa biểu niệm tuy có nguồn gốc ở các khái niệm
nhưng không đồng nhất với khái niệm, cho nên các trường biểu niệm cũng
không đồng nhất với tập hợp các khái niệm, không phải là những sự kiện tư
duy thuần tuý mà là những sự kiện ngôn ngữ. (Ví dụ: Trường biểu niệm của
chủ thể A:
A vận động tại chỗ một cách cơ giới: đảo, lảo đảo, cựa quậy, cọ quậy,
động đậy, rùng mình…
A dời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đi, chạy, ra, vào, lên, bò, lê,..
bơi, lội, bay, dừng, ngừng….
A là thiết bị cơ khí: chạy, hoạt động, vận hành, nổ (máy nổ)…
A là trạng thái tâm lí: xao xuyến, bồi hồi, rung động, e ấp, băn khoăn,
băn khoăn, bối rối…
1.2.2.2. Trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính)

trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại. Điều này
khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân.
Ý nghĩa biểu vật có những từ trong trường liên tưởng giống nhau, nhưng
cũng có những từ khác nhau về nghĩa.
Do những tính chất trên, các trường liên tưởng thường không ổn định, nên
ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ
vựng. Nhưng, trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng từ, nhất là
sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ, sự

16


ưa thích lựa chọn những từ nào đây để nói hay viết, sự tránh né đến kiêng kị
những từ nhất định...
2. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ và các phương thức chuyển nghĩa
2.1. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con
người. Muốn giao tiếp được bằng ngôn ngữ, con người phải nhận thức, lĩnh
hội được cả hai mặt âm và nghĩa trong từng từ ngữ. Tuy nhiên nếu như mỗi từ
chỉ có một nghĩa duy nhất, tức là ứng với mỗi hình thức âm thanh chỉ có một
nghĩa duy nhất, thì chúng ta sẽ phải tạo ra và lĩnh hội một số lượng từ ngữ vô
cùng lớn để có thể diễn đạt được hết cái phong phú của muôn mặt đời sống.
Thực tế ngôn ngữ có một qui luật tiết kiệm vô cùng kì diệu là dùng cái hữu
hạn để biểu hiện cái vô hạn. Với cùng một hình thức ngữ âm, người sử dụng
có thể diễn đạt nhiều nội dung khác nhau. Hiện tượng từ có nhiều nghĩa như
vậy phổ biến ở mọi ngôn ngữ trên thế giới. Lúc mới xuất hiện, các từ đều chỉ
có một ý nghĩa biểu vật. Trong quá trình sử dụng, để phục vụ mục đích giao
tiếp của mình, con người có thể cấp cho nó những ýnghĩa biểu vật mới. Bùi
Minh Toán đã nhận xét: "Các nghĩa biểu vật mới xứ hiện ngày càng nhiều thì
nghĩa biểu niệm của nó có khả năng biến đổi” [55, 146]. Trong quá trình

A là một hình thức ngữ âm, x và y là những nghĩa biểu vật. A vốn là tên gọi
của x. Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y nếu
x và y có nét nào giống nhau. Như thế, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa
dựa trên quan hệ tương đồng giữa x và y. Tác giả cuốn sách cũng đã phân loại
các ẩn dụ dựa trên hai loại tiêu chí khác nhau:
- Dựa vào tính chất cụ thể hay trừu tượng của các sự vật x và y: Theo tiêu
chuẩn này ẩn dụ được chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể và ẩn dụ cụ thể - trừu
tượng.
+ Ẩn dụ cụ thể - cụ thể: x và y đều là các sự vật cụ thể, chẳng hạn nghĩa
của từ "cánh", "chân" trong "cánh rừng”, "chân đèo".

19


+ Ẩn dụ cụ thể - trừu tượng: x mang tính cụ thể còn y mang tính trừu
tượng, chẳng hạn "đường chiến tranh", "ngọn gió buồn của tình yêu".
Dựa vào các nét nghĩa chung theo đó xuất hiện các ẩn dụ: Với tiêu chí
này, có các ẩn dụ hình thức, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ vị trí, ẩn dụ chức năng và
ẩn dụ kết quả.
+ Ẩn dụ hình thức: là các ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa
các sự vật. Những ẩn dụ trong các từ "chân", "cánh" nói trên thuộc loại này.
+ Ẩn dụ vị trí: là các ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các sự
vật, ví dụ: "mép suối", “lòng rừng", "họng súng"...
+ Ẩn dụ chức năng: là các ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng
giữa các sự vật, ví dụ: "cửa" trong "cửa sông", "cửa rừng"...
+ Ẩn dụ cách thức: là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau vềcách thức
thực hiện giữa hai hoạt động, hai hiện tượng, ví dụ: "nắm" trong "nắm tư
tưởng", "cắt" trong "cắt hộ khẩu"...
+ Ẩn dụ kết quả: là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của
các sự vật đối với con người, ví dụ: "ý chí tối tăm" ...

- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế.
tên gọi tư thế được dùng để chỉ hành động hoặc tinh trạng tâm lí, sinh lí đi
kèm, ví dụ: "khoanh tay" chỉ sự bất lực, "cúi đầu” chỉ sự cam chịu...
- Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác: tiếng động do hoạt
động gây ra được dùng để gọi tên động tác, ví dụ: "đét", "bịch"...
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và sản phẩm được tạo ra do
hoạt động đó: tên gọi của hoạt động được dựng gọi tên các sản phẩm, ví dụ:
"nắm cơm", “bọc hàng",...
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa hoạt động và công cụ: tên gọi của hoạt
động được dùng để gọi tên công cụ, ví dụ: "cuốc" và "cái cuốc","đục” và
"cái đục".

21


- Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa động tác tiêu biểu và toàn bộ quá trình
sản xuất. Trong trường hợp này cả hai từ đều là động từ, ví dụ: "đóng bàn",
“đóng" là động tác nện vào một vật cho nó gắn với vật khác, "đóng" trong
"đóng bàn" có nghĩa là làm, chế tạo ra cái bàn.
- Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và hoạt động dùng nguyên liệu đó
như "muối dưa", "thịt gà"...
- Hoán dụ dựa trên quan hệ sự vật và màu sắc, ví dụ (màu) da lươn, da
cam, da trời...
- Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tính chất của sự vật và bản thân sự vật,
ví dụ: "chất xám" (trí tuệ), “chất cay" (rượu)...
Các ẩn dụ và hoán dụ vừa dẫn ở trên là ẩn dụ và hoán dụ từ vựng. Trong
tác phẩm văn học nhà văn còn có thể dùng các ẩn dụ và hoán dụ do mình đặt
ra. Đó là ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ.
3. Phân tích văn học và phân tích văn học dựa vào trường nghĩa
3.1. Một số hướng phân tích văn học

đặc biệt. Nhìn chung lối phân tích này còn có phần gò bó, khiên cưỡng.
Tỏc giả Hoàng Văn Hành lại cho rằng tác phẩm văn học gồm hai lượng
nghĩa: nghĩa thông báo thông thường và nghĩa thông báo nghệ thuật. Việc
phân tích tác phẩm cần phải làm sáng tỏ lượng nghĩa thứ hai thông qua tìm
hiểu hệ thống hình ảnh ngôn từ trong tác phẩm trong quan hệ với hoàn cảnh
ra đời, với bối cảnh cụ thể trong sáng tác. Nhà nghiên cứu Đinh Trọng Lạc
đưa ra quan điểm coi tác phẩm văn học bao hàm hai cấu trúc (cấu trúc ngôn
ngữ và cấu trúc văn học), hai hệ thống hình tượng thinh tượng từ ngữ và hình
tượng nghệ thuật). Phân tích tác phẩm phải đi từ hình tượng từ ngữ đến hình
tượng nghệ thuật để làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề. Trong quá trình phân tích
ấy, cần nêu bật được chức năng thẩm mỹ của các yếu tố trung tâm trong việc
xây dựng hình tượng nghệ thuật.

23


Tác giả Nguyễn Thái Hòa đứng từ góc độ phong cách học lại đưa ra
hướng phân tích dựa trên trục thông báo cơ sở của văn bản. Ông quan niệm
cơ cấu văn bản nghệ thuật dựa trên ba mối quan hệ cơ bản: sự đối lập giữa
thành tố khái niệm và thành tố biểu cảm, sự đối lập giữa các thành tố chức
năng và thành tố chung. Các thành tố này đều được thiết lập theo hai thao tác
cơ bản: thao tác kết hợp và thao tác lựa chọn. Để phân tích một tác phẩm theo
khuynh hướng phong cách học, cuối cùng cần thực hiện các bước: đối lập các
yếu tố được kết hợp trong ngữ cảnh; đẳng nhất các sự kiện tương đồng, tập
hợp các yếu tố vắng mặt, lựa chọn một yếu tố thích hợp (phép thế); phối hợp
phép đối lập và phép thế. Phương pháp này được coi làcó hiệu quả khi phân
tích sắc thái biểu cảm và màu sắc tu từ của các phương tiện ngôn ngữ.
Nhìn chung các hướng phân tích tác phẩm văn học vừa kể trên đều có
những ưu thế nhất định trong việc tiếp cận tác phẩm.
3.2. Phân tích văn học dựa vào trường nghĩa

- Phân tích văn học dựa vào trường biểu niệm: Để phản ánh hiện thực
trong diện mạo tổng thể của nó, người viết phai dùng các từ ngữ phù hợp với
nhau tạo nên hiện tượng được gọi là sự cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ. Sự
cộng hưởng ngữ nghĩa này dựa trên nét nghĩa đồng nhất vốn có trong các từ,
nói khác đi, dựa trên nét nghĩa chung cho một trường biểu niệm. Điều đáng
chú ý là sự cộng hưởng về ngữ nghĩa không chỉ diễn ra với các từ ngữ. Nó có
thể chi phối cả cấu trúc cú pháp, cả ngữ âm, tiết tấu... Nói cách khác, người
viết thường phối hợp tất cả các phương tiện ngôn ngữ để tạo ra sự toàn bích
về hình thức cho tác phẩm của mình.
- Phân tích văn học dựa vào trường nghĩa ngang: Các từ trong trường
nghĩa ngang là những từ thường kết hợp theo chuẩn mực ngữ nghĩa phổ biến
của một ngôn ngữ chung. Thực tế chúng là các từ thuộc cùng một trường biểu
vật đi đôi với nhau sao cho nét nghĩa biểu vật của chúng phải phù hợp với
nhau. Một từ nhiều nghĩa có thể lập những trường ngang khác nhau về tính

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status