skkn một số KINH NGHIỆM GIÚP học SINH học tốt bài THỂ dục PHÁT TRIỂN CHUNG - Pdf 45

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH THỚI A

Đề tài:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH
HỌC TỐT BÀI THỂ DỤC PHÁT TRIỂN CHUNG

- Đề tài thuộc lĩnh vực chuyên môn: Dạy môn Thể Dục
- Họ và tên người thực hiện: Nguyễn Văn Hoàng
- Chức vụ: Tổ Trưởng
- Sinh hoạt tỗ chuyên môn: Sinh – Hóa – Thể dục

Năm học 2011 – 2012


Đề tài sá n g kiến kinh nghiệ m

“ T R O Ø C HƠ I VA Ä N Đ Ộ N G ”
P H Ư ƠN G T I E Ä N RE Ø N L U Y E Ä N TH E Å C H A Á T TO A Ø N D I E Ä N

A – PHẦN MỞ ĐẦU
I/ B ỐI CẢ NH CỦA ĐỀ TÀI
Trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc theo con đường XHCN do Đảng và nhà
nước ta đã lựa chọn nhằm mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ và
văn minh thì yếu tố con người ln ln chiếm vị trí rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ : “Muốn có CNXH phải có con người XHCN” trong hình mẫu “Con
người mới” đó là: sức khỏe, thể lực và trí tuệ, trong đó sức khỏe và thể lực của con
người chiếm vị trí hết sức quan trọng và cần thiết để đáp ứng nhu cầu xây dựng phát
triển và bảo vệ Tổ quốc. Sức khỏe đối với con người là vốn q, là tài sản vơ giá của
dân tộc, của quốc gia. Nó quyết định đến sự phát triển và tồn tại của giống nòi, là yếu tố
quan trọng của nguồn sức lao động xã hội, là nguồn sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc….

tự nhiên mà lại quên điều cơ bản “ Chơi mà học, học mà chơi”. Thông qua trò chơi
phát huy toàn diện về các mặt giáo dục trí tuệ, tư tưởng ; giáo dục tính thẩm mỹ ;
tính tổ chức ; tính kỷ luật ; tính tập thể; tính chiến thuật ; tính sáng tạo … và rèn
luyện thể lực, trau dồi và nâng cao kiến thức xã hội. Đặt biệt là Trò chơi vận động –
phương tiện rèn luyện thể chất toàn diện để nâng cao nhận thức được thể hiện qua
trò chơi, làm cho người tổ chức ( GV), người chơi (HS ) hứng thú, phấn khích dễ nhớ
- nhớ lâu.
Xuất phát từ lý do trên, nên tôi đã chọn đề tài “ Trò chơi vận động – phương
tiện rèn luyện thể chất toàn diện” trong môn học thể dục để làm đề tài nghiên cứu.
III/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
-Phạm vi nghiên cứu: Trò chơi vận động và cách thức tổ chức trò chơi vận động
trong nhà trường THCS Thành Thới A – Mỏ Cày Nam – Bến Tre.
- Đối tượng nghiên cứu: Tất cả HS Trường THCS Thành Thới A – Mỏ Cày Nam –
Bến Tre.
IV/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1/ Tìm hiểu và hệ thống các hình thức trò chơi vận động nhằm giúp GV nắm vững
và áp dụng vào thực tế giảng dạy Thể dục trong nhà trường THCS
2/ Thơng qua TCVĐ để góp phần làm phong phú, sinh động tiết dạy và phát triển
thể chất tồn diện cho HS.
3/ Hình thành ở HS tính tự giác, tích cực, tinh thần tập thể ….khi tham gia trò chơi,
học tập cũng như trong thực tế cuộc sống.
V/ ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Thơng qua tìm hiểu và ứng dụng đề tài bản thân nhận thây rằng HS đã có cái nhìn
cũng như thái độ tích cực, tự giác khi tham gia TCVĐ. Thể chất, tinh thần ( Giáo dục
đạo đức thơng qua TCVĐ) của HS có sự phát triển rõ rệt. Bản thân cũng thấy mình linh
hoạt, sáng tạo và vững vàng hơn khi tổ chức TCVĐ cho HS.

B- PHẦN NỘI DUNG
I- CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Chính sách Nhà nước rất quan tâm cho nền giáo dục và thế hệ tương lai của đất

Đặc biệt, lứa tuổi học đường là thời kỳ rất cần thiết cho sự vận động để phát
triển trí - lực tòan diện giúp học sinh có đủ sức khỏe, tinh thần minh mẫn mà học
tập, đảm bảo cho mục tiêu nhiệm vụ sau này là lao động, xây dựng bảo vệ tổ quốc.
II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ :
Tâm sinh lý lứa tuổi THCS thời kỳ biến đổi các em dễ kích động bất đồng ảnh
hưởng không nhỏ cho một số họat động mang tính tập thể cao. Do tâm lý lứa tuổi,
phần lớn phụ huynh phải theo dõi, quan tâm thái quá làm các em bò gò bó. Bên cạnh
đó, phụ huynh chưa đánh giá cao về tính năng lợi ích việc học thể dục và các họat
động trò chơi vận động.
+ Về tính tổ chức : Phần lớn học sinh tham gia các sinh hoạt tập thể chưa nhiều,
không thường xuyên.
+ Về tính kỷ luật : Học sinh lứa tuổi THCS nhận thức tính kỷ luật tự giác chưa
cao. Do biến đổi tâm sinh lý, thường làm ngược lại những qui đònh để thể hiện mình
đã là người lớn ; là người nổi trội trong nhóm bạn.
+ Về giáo dục thể chất : Phụ huynh nhận đònh chưa toàn diện giữa học tập các
bộ môn văn hóa chủ đạo còn gọi là môn chính ( Toán, Lý, Hóa, Văn, Ngọai ngữ …)
và học các môn khác được xem là môn phụ và thực tế của đòa phương, các bậc cha
mẹ muốn con mình học tốt các môn chính, xem nhẹ việc học môn giáo dục thể chất
là môn phụ tạo nên tâm lý “ … bên trọng -, … bên khinh”, sợ con mình vận động
nhiều mệt mỏi không học các môn chính được. Ý thức học sinh vẫn còn tư tưởng
môn phụ, nên học không tích cực.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi việc học tập bộ môn thể dục bậc THCS có
trên 70 % học sinh có thái độ thờ ơ thiếu tích cực với môn học thể dục – giáo dục thể
chất.
- Trên 80% chưa thể hiện tính tự giác, tính tổ chức, chưa biết phát huy tính tập
thể, chưa nhận thức hết ý nghóa rèn luyện thể chất ảnh hưởng trực tiếp đến việc học
tập qua câu thành ngữ “Một tinh thần minh mẫn trong một thể xác tráng kiện”.


- Một số phụ huynh phản ảnh : Học (tập) thể dục nhiều ( chạy, nhảy ) con em về

làm phát triển cơ thể, tăng cường các tố chất vận động, hình thành kỹ xảo vận động
mà còn góp phần giáo dục đạo đức ý chí cho người tập. Trong các phương tiện đã
nêu thì trò chơi là phương tiện góp phần giáo dục đạo đức ý chí cho người tập rất có
hiệu quả, sở dó có thể nói như vậy vì:
Các trò chơi gây được hứng thú và rất hấp dẫn người chơi, trong lúc chơi “người
tham gia” như được thoát ly khỏi hoàn cảnh thực tại, nên dễ bộc lộ cá tính và thể
hiện con người thật, khó kiềm chế và che dấu những mặt yếu kém về đạo đức ý chí.
Nhờ đó những người hướng dẫn (các nhà giáo dục, HLV, thầy cô giáo) có thể nắm
vững về từng học sinh để kết hợp giáo dục các mặt ý chí như: cương quyết, dũng
cảm, tích cực, kiên trì và hi sinh….


Đồng thời trong quá trình chơi, người chơi tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn
thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động
viên giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ đó. Vì vậy ta có thể giáo dục các em về
đạo đức như: tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể, tôn trọng đối thủ, ….
Điều này được thể hiện rõ nét ở trẻ em trong trò chơi, các em biểu lộ tình cảm
rất rõ ràng vui khi thắng lợi, buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn
thành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt vai trò của mình…Vì tập thể
các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho
đội, đây chính là đặc tính thi đua rất cao của TCVĐ.
Nên việc giáo dục cho thanh thiếu niên thông qua TCVĐ là rất cần thiết để
giúp trẻ phát triển toàn diện về đạo đức cũng như về thể lực, tạo tiền đề vững chắc
cho các quá trình phát triển sau này.
2.2 Tác dụng tăng cường sức khỏe khi sử dụng làm phương tiện tập luyện:
Qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã kết luận: “Vận động là một hiện
tượng sinh học, là nhu cầu của cơ thể ở mọi lứa tuổi. Khi vận động mối quan hệ giữa
cơ quan cảm thụ đến bộ máy vận động thông qua sự chỉ huy của thần kinh trung
ương được thiết lập rất chặt chẽ. Phản xạ từ cơ quan nội tạng ảnh hưởng tới chức
phận của hệ vận động, vì vậy ít vận động là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của cơ

đáp ứng nhu cầu hoạt động, cũng cố hoàn thiện kỹ xảo vận động giúp người tập làm
quen và nâng cao thành tích trong thi đấu.
4/ Tác dụng của TCVĐ trong các giờ học thể dục của học sinh phổ thông:
Ngoài hoạt động học tập và lao động, thì trò chơi thể hiện không chỉ như sự giải
trí và tiêu khiển, vẫn chiếm vò trí lớn. Các em đặc biệt yêu thích các trò chơi linh
hoạt với luật lệ cụ thể và các môn bóng, quá trình chơi gây hứng thú nhanh chóng và
đặc biệt đối với các em.
Đối với tuổi học sinh, cơ thể đang độ phát triển của các em rất cần thiết phải
chơi đùa, đó là nhu cầu sinh học, cũng quan trọng như ăn, ngủ, học tập…. của các em
trong cuộc sống hằng ngày. Vì lẽ đó chúng ta thường thấy, nếu việc vui chơi của các
em không được người lớn hướng dẫn tổ chức, thì các em cũng tự tụ họp rủ nhau chơi
những trò chơi đã biết.
Trong giờ học thể dục ở trường phổ thông việc đưa TCVĐ vào các giáo án vừa
mang tác dụng phát triển thể chất (các tố chất vận động và năng lực hoạt động
chung của cơ thể) lại vừa có mục đích trang bò kiến thức, kỹ năng hoạt động, tổ chức
trò chơi, để các em có thể tự chơi đạt kết quả tốt, cũng như tạo bầu khí buổi học
được sinh động hơn.
Ngoài ra thông qua việc dạy trò chơi còn có tác dụng giáo dục về mặt đạo đức,
uốn nắn các mặt yếu kém về cá tính, kích thích sáng tạo, nhận thức đúng các hành
vi đẹp… để góp phần giáo dục toàn diện cho các em.
Quá trình dạy TCVĐ cho học sinh phải đảm bảo tính chất phù hợp, lứa tuổi,
giới tính. Chọn trò chơi theo mục đích rõ ràng, phù hợp với thời điểm giờ học, môi
trường hoàn cảnh để trò chơi diễn ra. Tránh các trò chơi đơn thuần về mặt bạo lực,
tạo nên các mâu thuẫn gây ra mất đoàn kết hoặc tạo nên các thương tích cho cơ thể
các em.
Là lónh vực để thể hiện tài năng, tổ chức rèn luyện thể chất tinh thần cho những
người tham gia.
Là nơi có thể đưa vào để giáo dục về điều luật, truyền thống hoặc phong cách
riêng của đoàn thể đó.
Là giao điểm hội tụ để tuyên truyền, quảng bá về sự tiến bộ của khoa học kỹ

thực, tính kỷ luật và tác phong, đạo đức.
- Có thái độ hành vi đúng đắn với trò chơi như : Chăm chú nghe sự góp ý, sửa
sai, thi đua không ganh đua, cay cú thắng thua, tích cực, đoàn kết, thân ái.
- Phát huy tính tự nguyện, năng nổ và học hỏi.
- Cách đánh giá, nhận xét một TCVĐ sau khi tiến hành xong cuộc chơi:
Một trong những việc làm không thể thiếu là nhận xét, đánh giá kết quả thực
hiện trò chơi; phân đònh người hoặc đội đoạt giải theo thứ tự. Muốn việc “đánh giá”
được đúng, chính xác, có được kết quả công bằng và thỏa mãn đối với các thành
viên tham gia cuộc chơi, người hướng dẫn (hoặc giáo viên) cần lưu ý :
Dựa vào yêu cầu và luật lệ của trò chơi đã phổ biến từ đầu cuộc chơi.
Nêu rõ cụ thể (có tính chất thống kê) các vi phạm của từng đội (hoặc từng cá
nhân), trong quá trình diễn biến của trò chơi (cần có thêm trọng tài phụ đối với
những trò chơi có luật hoặc diễn biến phức tạp).
Công bằng nghiêm khắc nhưng cũng khuyến khích và bao dung đối với đội
(hoặc cá nhân) còn quá yếu kém (cụ thể : cần nghiêm khắc với các hành vi đạo đức
xấu và châm chước nâng đỡ với các trường hợp yếu mệt do thể lực).
6/ Biện pháp thực hiện :
6.1/ Quá trình tổ chức thực hiện :
Trong quá trình nghiên cứu, dùng các phương pháp sau :


* Phương pháp tổ chức : Tính tổ chức ; tính đồng đội ; tính tập thể; tính chiến
thuật và quá trình thực hiện trò chơi ; biên soạn, cải biên trò chơi ; tính sáng tạo
trong luật chơi, năng động theo mục đích yêu cầu của trò chơi.
* Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp, tổng kết rút kinh nghiệm
và kết quả .
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại khóa, phương pháp
tổ chức trò chơi, trò vận động, trò chơi dân gian.
- Nghiên cứu tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi, khả năng vận động, khả năng tiếp
thu và sáng tạo của đối tượng tham gia trò chơi.

tranh chung kết ở môn kéo pháo sẽ bò ức chế tâm lý bỡi thể lực đã bò tiêu hao nhiều
làm hạn chế sự hứng thú thi đua cũng như thiếu tập trung để nghe giới thiệu mục
đích yêu cầu, luật chơi và tác dụng của trò chơi môn khác …


6.3/ Dụng cụ – Đồ dùng phục vụ trò chơi :
- Sân bãi : Ngoài trời, sân trường, bóng mát hay trong nhà … mọi đòa hình, đòa
vật, diện tích rộng- hẹp đều có thể tổ chức trò chơi. Nhưng trò chơi phải phù hợp
cảnh vật, thời tiết, số người tham gia và đảm bảo tính vừa sức ( thể lực ) của người
chơi.
- Dụng cụ :
+ Quy mô nhỏ : Mọi dụng cụ chung quanh ta đều có thể tận dụng tùy tính chất
quy mô của trò chơi … nhưng cần đơn giản, ít tốn kém … tận dụng tính khôi hài để
người chơi hứng thú hơn.
+ Quy mô vừa và lớn (loại trò chơi vận động hay vận động trường… có dụng cụ)
Sân bãi phù hợp trò chơi, trò chơi được chuẩn bò chặt chẽ từ khâu thuyết minh
(hướng dẫn- minh họa ), cảnh trí đến kế hoạch và dụng cụ phục vụ trò chơi. Dụng cụ,
đồ dùng phục vụ trò chơi phải bảo bảo an toàn, giảm thiểu tối đa sự cố .
Vệ sinh, an toàn sân bãi đảm bảo tuyệt đối tránh xảy ra tai nạn, chấn thương …
6.4/ Phương pháp tổ chức :
- Giới thiệu trò chơi :Mục đích, ý nghóa trò chơi ở nội dung nào là chủ đạo phải
đảm bảo tính giáo dục và rèn luyện. Qua đó, có thể lồng các câu chuyện cổ tích,
chuyện vui ( phù hợp với bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc) vào trò chơi để tạo
sự háo hức, hứng thú người chơi. Cần ngắn gọn và hấp dẫn.
- Hướng dẫn cách chơi, luật chơi : Tùy theo mỗi trò chơi mà người quản trò linh
động hướng dẫn cách chơi (luật chơi). Những trò chơi phức tạp phải hướng dẫn đầy
đủ rồi mới chơi. Còn ngược lại những trò chơi đơn giản thì có thể thực hiện ngay,
vừa chơi vừa giải thích làm sao dễ hiểu thu hút người chơi.
- Chơi thử ( chơi nháp ) : Đây là phần rất quan trọng nhưng cần lưu ý :Nếu
không chơi thử hoặc chơi thử quá ít người chơi (HS) không tiếp thu được sẽ khó khăn

+ Đảm bảo tính vừa sức cho người chơi, tạo sự luyến tiếc cho lần chơi sau.
+ Không để người chơi nhàm chán quá sức tạo sự mệt mỏi và chán chơi.
TRỊ CHƠI THAM KHẢO
Tên trò chơi :
Phối hợp tiếp sức với bóng
* Vật dụng chuẩn bò : Mỗi đội chơi 01 quả bóng. Sân tổ chức bằng phẳng
 Số lượng đội tham gia : Nhiều đội chơi ; Mỗi đội 5-7 em (nam,nữ )
 Thời gian : Dự kiến 5 - 7 phút .
Luật chơi :
+ Từng người một theo số thứ tự đã đeo ( hay do đội đó chọn – BTC theo dõi )
đứng thành hàng dọc.
* Khi hiệu lệnh bắt đầu :
+ Người số 1 chuyền quả bóng ngược trên đầu ra sau cho người số 2 và người
số 2 chuyền cho những người sau tiếp cho đến người cuối cùng (cuối hàng). Người
cuối cùng hô to. “Đằng sau quay”, tất cả đềàu quay và bóng lúc này được chuyền
phía dưới 2 chân … lần lượt trở về người số 1 (cuối hàng).Người số1 mang bóng chạy
đến nơi quy đònh đặt quả bóng rồi chạy đến nơi có dây nhảy; nhảy dây 10-15 lần
liên tục (không được vấp, nếu vấp phải nhảy và đến lại từ đầu) xong chạy về lấy
bóng mang giao cho người số 2 rồi ra đứng bên ngoài theo dõi và cổ vũ đội mình.
+ Người số 2 chuyền quả bóng ngược trên đầu ra sau cho người số 3 và người
số 3 chuyền cho những người sau tiếp cho đến người cuối cùng ( cuối hàng ). Người
cuối cùng hô to. “Đằng sau quay”, tất cả đều quay và bóng lúc này được chuyền
phía dưới 2 chân … lần lượt trở về người số 2 (cuối hàng).Người số 2 hô “đằng sau
quay” rồi mang bóng chạy lên đặt vào ô qui đònh. Đặt xong, chạy trở về chạm vào
tay người số 3.
+ Người số 2 thực hiện trò chơi như người số 1.
+ Người số 3 thực hiện như người số 2.
+ Lần lượt như thế cho đến hết người ( nếu là cuối cùng thì mang bóng chạy
về vạch xuất phát cũng và vạch đích).
Cách tính điểm thi đua :

dung rèn luyện sức mạnh, nhanh, bền cũng như các loại hình phù hợp với bài, tiết
học môn thể dục. Sau tiết học các em vẫn còn hứng thú …
- Đặc biệt, một số học sinh cá biệt do phát triển tâm sinh lý lứa tuổi được
chuyển biến tích cực. Ham thích các môn học xã hội. Tinh thần đồng đội, tập thể
được phát huy và tính tự giác, tính kỷ luật được nâng cao rõ rệt.Bên cạnh đó, tạo tính
thi đua giữa các tổ, nhóm và khối, lớp với nhau, số ít học sinh hạn chế về sức khỏe,
ít linh hoạt chưa được bạn bè đề xuất tham gia trò chơi nhiều lần.
- Trong quá trình hình thành và phát triển sự hứng thú tham gia trò chơi ở mỗi
cá nhân đều trải qua các giai đoạn nhận thức. Sự nhận thức được lặp đi lặp lại nhiều
lần, khái quát trở thành mức độ ý thức được duy trì. Những học sinh năng động, tích
cực học tập, được bồi dưỡng và củng cố trong điều kiện thuận lợi sẽ trở thành xu
hướng cá nhân – hình thành nhân cách có đònh hướng.


- Giáo viên quan tâm đến vấn đề phát triển trò chơi sẽ tạo sự hứng thú cho hoạt
động phong trào giáo dục và rèn luyện thể chất, rèn luyện đạo đức, nâng cao chất
lượng học tập, tính năng động, rèn luyện phản xạ trực giác và nâng cao kiến thức xã
hội.

C- PHẦN KẾT LUẬN:
I- BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Qua kết quả nghiên cứu bản thân rút ra một số kinh nghiệm sau :
- Về giáo viên : Tạo sự năng động, sáng tạo và tiết dạy phong phú không bò
nhàm chán bỡi một số nội dung bài học được lặp lại kéo dài từ 6 đến 8 tiết.
Qua họat động trò chơi, giáo viên đánh giá được tính tình của học sinh để có
phương pháp giáo dục, giúp đỡ từng cá nhân đúng hướng.
- Về học sinh : Ham thích môn học thể dục. Thể chất được nâng cao rõ rệt (thể
dụ), hình thành tính tự giác, tự quản và thể hiện rõ tính tổ chức, tính kỷ luật, sự khéo
léo (mỹ dục) và có tư duy tổ chức, tư duy chiến thuật (trí dục), đòan kết, trung thực,
không kêu căng khi chiến thắng và không nản lòng khi thua (đức dục).

- Cần quan tâm đến việc tổ chức hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi vận
động của học sinh thêm vào các ngầy lễ lớn.
- Giáo viên chủ nhiệm, nhà trường thường xuyên kết hợp với các bậc cha mẹ
học sinh để tuyên truyền, thông tin và cần sự quan tâm tạo mọi điều kiện tốt cho con
em “ Chơi mà học, học mà chơi ”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
+ Giáo trình giảng dạy bộ môn : Trò chơi vận động của giáo viên Nguyễn Văn
Hường trường Đại học sư phạm Thể dục Thành phố Hồ Chí Minh (Trường Cao đẳng
sư phạm thể dục Trung ương 2 cũ ). Năm 2002.
+ Tâm lý Sư phạm THCS và Tâm lý lứa tuổi Trung học phổ thông của nhà xuất
bản Giáo dục năm 2001.
+ Cẩm nang công tác thanh thiếu niên dành cho cán bộ Đoàn-Hội-Đội của nhà
xuất bản Chính trò Quốc gia năm 2006.
+ Giáo trình lý luận trò chơi với trẻ em – Trường Đội TP. Hồ Chí Minh năm
2002.
+ 100 trò chơi sinh họat. Tác giả Ngô Tấùn Tạo giáo viên trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh năm 2003.
+ 126 trò vui chơi tập thể. Tác giả Tôn Thất Đông của Nhà xuất bản Trẻ năm
2003.
+ Sách giáo khoa lớp 6,7,8,9 môn thể dục của Nhà xuất bản Giáo dục Xuất bản
: lớp 6 năm 2002 ; lớp 7 năm 2003 ; lớp 8 năm 2004 ; lớp 9 năm 2005.
+ Một số tư liệu truy cập mạng Internet.


MỤC LỤC
trang
A PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………. 1
I/ BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI ……………………………………………............... 1
II/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ……………………………………………….. ……… 1
III/ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ……………………………………………. ………2

XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN

THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ


MỘT SỐ TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI:

1/ XHCN: xã hội chủ nghĩa
2/ HS: học sinh
3/ TCVĐ: trò chơi vận động
4/ THCS: trung học cơ sở
5/ GV: giáo viên
6/ TDTT: thể dục thể thao
7/ GD: giáo dục
8/ GDTC: giáo dục thể chất




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status