Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng (LA tiến sĩ) - Pdf 45










nghĩa xuất hiện phổ biến hơn ở hai từ loại này so với danh từ nhờ ý nghĩa biểu
niệm nổi trội của chúng như đã nêu..
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng để
xem xét phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của mỗi từ đồng nghĩa trong mối
quan hệ hệ thống với các đơn vị khác trong mỗi dãy từ đồng nghĩa nói riêng,
trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ nói chung, và trong mối quan hệ với
thực tế khách quan của mỗi cộng đồng dân tộc bản ngữ Anh và Việt.
4.2.Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa
tương đương nhau về ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nhằm tìm ra
những nét tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng.
- Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp quan trọng để miêu tả hoạt động của các từ đồng
nghĩa trong ngữ cảnh sử dụng nhằm chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về ngữ
nghĩa và ngữ dụng của chúng khi đối chiếu.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để phân tích cấu
trúc nghĩa của các từ đồng nghĩa nhằm xác định các nét nghĩa khu biệt của

giữa hai ngôn ngữ Anh –Việt. Đồng thời các kết quả nghiên cứu góp phần bổ
sung, làm sâu sắc thêm và phát triển lí thuyết về từ đồng nghĩa vốn còn ít được
nghiên cứu ở Việt Nam. Ngoài ra luận án còn có đóng góp nhất định trong việc
đề xuất cách thức đối chiếu các từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu đối chiếu từ đồng nghĩa, nhờ
vậy đã làm sáng tỏ được đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ đồng nghĩa
trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ đó các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung,
5


làm sâu sắc thêm và phát triển lí thuyết về từ đồng nghĩa vốn còn ít được
nghiên cứu ở Việt Nam.
Ngoài ra luận án còn có đóng góp nhất định trong việc đề xuất cách thức đối
chiếu các từ đồng nghĩa trong hai ngôn ngữ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án giúp ích cho việc phân tích, lĩnh hội
cái hay, cái đẹp về phương tiện biểu đạt của tiếng Anh và tiếng Việt; phục vụ
thiết thực cho việc giảng dạy và học tập tiếng Anh trong nhà trường nói chung,
giúp người nước ngoài học tiếng Việt thuận lợi hơn nói riêng. Kết quả nghiên
cứu còn có thể được sử dụng để biên soạn từ điển giải thích, từ điển từ đồng
nghĩa và từ điển đối chiếu từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt; biên
soạn tài liệu giảng dạy biên dịch và phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài của luận án
Chương 3: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình
diện ngữ nghĩa

Theo Nguyễn Đức Tồn [66, tr.23-62], các nhà thông thái La Mã đã chỉ ra
rằng các từ đồng nghĩa không chỉ có sự giống nhau mà còn có cả những sự
khác biệt nhau về ý nghĩa.
Thế kỉ XVIII, người Pháp đã xác định được bản chất của từ đồng nghĩa.
Năm 1718, Gira đã xuất bản tác phẩm đồ sộ "Tính chính xác của tiếng Pháp,
hay là ý nghĩa khác nhau của các từ có thể là các từ đồng nghĩa" . Boze đã thu
7


thập các từ đồng nghĩa tiếng Pháp và xuất bản thành một cuốn sách. Sau đó
một số năm, linh mục Rubo đã xuất bản cuốn "Đại từ điển đồng nghĩa". Đến
giữa thế kỉ XIX, B. Lafaye (1857) đã xuất bản "Từ điển từ đồng nghĩa cỡ lớn"
dày 1525 trang, tập hợp và giải thích được khá nhiều từ đồng nghĩa. B. Lafaye
có đóng góp rất quan trọng vào lí thuyết từ đồng nghĩa được trình bày ở phần
Mở đầu. Sang thế kỉ XX ở Pháp còn có những cuốn từ điển từ đồng nghĩa khác,
chẳng hạn, từ điển của Bally (xuất bản năm 1947), "Từ điển từ đồng nghĩa"
(Dictionaire des synonymes) của Henri Benac (được xuất bản ở Paris năm
1956). Những cuốn từ điển này đều được biên soạn theo phương pháp của B.
Lafaye nhưng có sự cải tiến. Cụ thể là các soạn giả này đã tập hợp các từ đồng
nghĩa hoàn toàn hoặc các từ gần nghĩa rồi giải thích nghĩa của từ trung tâm và
các từ trong nhóm, đồng thời có nêu sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa của
chúng.
Thế kỉ XIX, ở Đức đã xuất bản những cuốn từ điển từ đồng nghĩa của J. B.
Mayer (1841) và của D. Saunde (1871). Đến thế kỉ XX cũng ở Đức đã có thêm
một số cuốn từ điển khác, chẳng hạn như các cuốn từ điển từ đồng nghĩa của J.
Eberhand (1910) và của Hoffman (1936). Cuốn từ điển từ đồng nghĩa của
Hoffman cỡ nhỏ, gồm 4.000 từ được xếp theo thứ tự chữ cái. Tác giả đã đưa
vào cuốn từ điển này các từ đồng nghĩa được quan niệm khá rộng, cụ thể là cả
những từ có ý nghĩa gần nhau nhưng khác nhau về cách sử dụng; hoặc những
từ khác nhau về nghĩa và cách sử dụng, nhưng được thống nhất theo cùng một

không phải là các từ có cùng một ý nghĩa mà vẫn có ý nghĩa riêng khu biệt
nhau. Tiếp theo A. S. Siskốp, P. Kalaiđôvích đã chỉ ra sự có mặt trong ngôn
ngữ các từ có cùng một nghĩa - các từ đồng nghĩa phong cách.
Năm 1840, "Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga hay các từ đẳng danh" (A.
Galích chủ biên) được xuất bản, gồm 226 dãy từ đồng nghĩa. Các từ mở đầu
một dãy đồng nghĩa được sắp xếp theo trật tự chữ cái a, b, c. Mục từ đồng
nghĩa được mở đầu bằng việc liệt kê các từ mà tác giả coi là các từ đồng nghĩa.
Tiếp theo tác giả đưa ra định nghĩa ý nghĩa của từ theo "Từ điển Viện Hàn lâm
Nga", sau đó là lời giải thích ý nghĩa riêng của từng từ. Trong từ điển này, ý
nghĩa của từ không phải chỉ được giải thích, mà còn được minh họa bằng các ví
dụ được trích dẫn từ các tác phẩm của Lômônôsốp, Karamzin và được trích từ
"Tạp chí của Bộ Giáo dục quốc dân". Giá trị của công trình này chủ yếu là ở
9


sự sắp xếp, điều chỉnh và hệ thống hóa việc đưa ra từ đồng nghĩa. Cách định
nghĩa các từ đồng nghĩa không có gì mới: "Đó là các từ tương tự nhau về tư
tưởng nhất định, nhưng khác biệt về ý nghĩa đặc biệt của chúng". Do không
hiểu con đường phát triển của ngôn ngữ, Galích đã đưa ra trong Lời nói đầu
ý kiến sai lầm nghiêm trọng cho rằng các từ đồng nghĩa là dấu hiệu lạc hậu
của ngôn ngữ. Chính việc thiếu định nghĩa rõ ràng về khái niệm "Từ đồng
nghĩa" nên đã dẫn đến một loạt sai lầm khi biên soạn các mục từ điển cũng như
trong cách luận giải về lí thuyết. Chẳng hạn, A. Galích coi các từ ngữ chỉ các
chủng thuộc cùng một loại là những từ đồng nghĩa, ví dụ: kiếm - kiếm lưỡi
cong- dao găm bởi vì chúng nằm trong "quan hệ thân thuộc gần gũi nhất".
Trong Lời nói đầu, tác giả cố chứng minh một điều không đúng - đó là các từ
đồng nghĩa xuất hiện trong ngôn ngữ từ các thổ ngữ địa phương nguyên thuỷ
được hợp nhất và lập thành một ngôn ngữ chung.
Trong số các công trình của các nhà ngôn ngữ học thế kỉ XIX, đáng chú ý
có bài viết của I. I. Đavưđốp "Về từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga". Theo ý kiến

những từ đồng nghĩa thuộc những đối tượng khác nhau (ví dụ: ao, hồ...; đánh,
đấm, đạp...; buồn, chán ...).
Khi tách ra các từ đồng nghĩa thuộc những đối tượng khác nhau với tư cách
là những từ biểu thị các khái niệm khác nhau nhưng gần gũi, V. K. Favôrin
không xác định rõ tiêu chí về mức độ gần gũi này là như thế nào.
Trong bài viết của A. B. Sapir "Một số vấn đề lí thuyết từ đồng nghĩa" ,
tác giả đã định nghĩa hiện tượng đồng nghĩa như một hệ thống và đặt ra hàng
loạt vấn đề: từ đồng nghĩa và thuật ngữ, hiện tượng đồng nghĩa và tính đa
nghĩa, kiểu từ đồng nghĩa từ vựng - ngữ pháp, dãy đồng nghĩa. Trong công
trình này A. B. Sapir đã có nhiều quan sát có giá trị về các sự kiện của tiếng
Nga hiện đại. (dẫn theo [66, tr.40]).
Năm 1956, ở Nga đã xuất bản cuốn "Từ điển giản yếu từ đồng nghĩa tiếng
Nga" của V. N. Kliueva (năm 1961 in lại lần thứ 2 có sửa đổi và bổ sung). Đây
là cuốn từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga đầu tiên rất tiện lợi đối với việc sử
dụng thực hành. Các từ được tập hợp thành các dãy đồng nghĩa dựa trên cơ sở
những nguyên tắc nhất định và có lập luận chặt chẽ.
Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ - khái niệm phản ánh bản
chất của cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, khu biệt bởi những
11


sắc thái ý nghĩa bổ sung và phục vụ không chỉ cho việc thay thế nhau mà
còn để chính xác hóa tư tưởng và thái độ của chúng ta đối với phát ngôn.
Trong việc chọn lựa các từ đồng nghĩa, V. N. Kliueva tuân thủ theo quan
điểm coi các từ đồng nghĩa là những từ thuộc về cùng một từ loại. Các từ biểu
hiện các khái niệm lô gích gần gũi nhưng thuộc về từ loại khác nhau thì không
được coi là những từ đồng nghĩa.
Cách giải thích các từ do V. N. Kliueva đưa ra cũng khá khoa học: trước
hết là xác định ý nghĩa chung cho phép thống nhất nhóm từ này dưới một yếu tố
chủ đạo và sau đó mới đưa ra ý nghĩa khu biệt của mỗi từ đồng nghĩa, đồng thời

nhau cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan. Tác giả đã chú ý nhiều
hơn tới những sự khác biệt của các từ đồng nghĩa. Trong một dãy từ đồng
nghĩa, tác giả tách ra hạt nhân chung của ý nghĩa cùng những sắc thái và thuộc
tính khác nhau không động chạm đến hạt nhân lô gích - sự vật tính của ý nghĩa
các từ đồng nghĩa riêng biệt. V. A. Sirôtina đã có nhận xét khá tinh tế rằng các
từ đồng nghĩa rất thường hay khác nhau đồng thời cả ở các phẩm chất cảm xúc
- biểu cảm, phong cách và cả ở các sắc thái ý nghĩa của chúng. Điều rất có giá
trị trong công trình của V. A. Sirôtina là bà không chỉ đưa ra định nghĩa dãy từ
đồng nghĩa mà còn xem xét các quá trình diễn ra trong dãy từ đồng nghĩa ở
bình diện phát triển lịch sử của ngôn ngữ. (Dẫn theo [66, tr.4748]).
Đặc biệt, năm 1974, Ju.D. Apresjan đã xuất bản công trình “Ngữ nghĩa từ
vựng (các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ)" (Nxb Khoa học, M.). Sau
đó công trình được tái bản có bổ sung vào năm 1995. Đây là một trong những
tác phẩm ngôn ngữ học đáng kể nhất của những năm 1970 đã trở thành “sách
giáo khoa ngữ nghĩa” đặc sắc trong suốt nhiều năm để mở đầu và làm cương
lĩnh cho các công trình nghiên cứu trong tương lai cho hàng loạt tập thể các nhà
ngôn ngữ học. Trong chuyên luận này, Ju.D. Apresjan đã đưa ra các yếu tố
ngôn ngữ ngữ nghĩa để miêu tả ý (smysl’) của các từ ngôn ngữ tự nhiên.Trên
cơ sở này ông đã miêu tả được các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ, trong
đó có các từ đồng nghĩa (chương 4) và trình bày các quy tắc cải biến cú phápsâu. Phần trung tâm của cuốn sách đề cập đến vấn đề phát hiện và mô tả những
sự khác biệt giữa các từ đồng nghĩa. Từ cơ sở lí thuyết này, năm 1995 Apresjan
chủ biên xuất bản một cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Nga có nhan đề là “ Tân
13


từ điển giải thích các từ đồng nghĩa” mà trong thực tiễn từ điển học trước đó
chưa từng có công trình nào tương tự. Tác giả đã khởi thảo ra cho từ điển này
một sơ đồ chi tiết miêu tả các dãy đồng nghĩa trong đó mỗi yếu tố của dãy được
xác định đặc điểm từ góc độ ngữ nghĩa, cú pháp, khả năng kết hợp và các thuộc
tính khác (sự miêu tả một dãy đồng nghĩa trong từ điển chiếm nhiều trang chứ

tất cả các định nghĩa về từ đồng nghĩa được đưa ra trong các công trình khoa
học vào hai loại:
- Loại 1. Định nghĩa các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau, gần
gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa của chúng. Loại định nghĩa từ đồng
nghĩa này đã được đưa ra từ cuối thế kỉ XVIII và vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay.
-Loại 2. Định nghĩa từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện
tượng của hiện thực khách quan, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, thuộc
tính phong cách, v.v...
1.2.2 .Nghiên cứu về từ đồng nghĩa trong tiếng Anh
Ở Anh -Mỹ cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn từ điển từ
đồng nghĩa được xuất bản, trong đó có bàn về từ đồng nghĩa. Chẳng hạn, “Từ
điển từ đồng nghĩa” (Dictionary of Synonyms) của Webster được xuất bản ở
Mỹ năm 1984 quan niệm “từ đồng nghĩa là hai hoặc nhiều từ trong tiếng Anh
có nghĩa giống nhau hoặc nghĩa cơ bản rất gần giống nhau ... Thông thường các
từ đồng nghĩa phân biệt nhau bởi một ý nghĩa bổ sung, hoặc chúng có thể khác
nhau trong sự sử dụng thành ngữ hoặc trong cách chúng được sử dụng " [113,
tr. 24] .
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày công trình của một số nhà ngôn
ngữ học về các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh, xác định mức độ chúng tương
đồng với nhau trong sự sử dụng. Như chúng ta biết, tiếng Anh có nhiều biến
thể được sử dụng ở các nước khác nhau, chẳng hạn, tiếng Anh Anh và tiếng
Anh Mỹ là hai biến thể của cùng một ngôn ngữ, nhưng có sự khác biệt đáng kể
trong từ vựng của chúng. Filippov (1971) [96, tr.113-117] đã phân tích sự cùng
tồn tại và cạnh tranh giữa các từ đồng nghĩa Mỹ và Anh trong tiếng Anh Anh
như là kết quả của sự vay mượn tiếng Anh Mỹ vào tiếng Anh Anh. Theo
Filippov, khi một từ Mỹ du nhập vào tiếng Anh Anh mà gặp một từ có cùng
một ý nghĩa đã tồn tại thì kết quả của cuộc gặp gỡ này có thể khác nhau.
15


đồng nghĩa như vậy, tác giả Von Schneidemesser thấy rằng purse - ví đồng
nghĩa với pocketbook - ví tiền, handbag - túi xách , wallet - ví, change purse ví đựng tiền lẻ và coin purse – ví đựng tiền xu dao động theo sự phân bố địa lý
của việc sử dụng chúng. Von Schneidemesser nhấn mạnh rằng các từ đồng
16


nghĩa trên được coi là

chuẩn mực và do đó chúng đã được dùng khắp

đất nước: đặc biệt là từ purse - ví được dùng thường xuyên hơn trên bờ biển
phía Tây và từ pocketbook – ví tiền thì lại được dùng trên bờ biển phía Đông,
trong khi từ handbag –túi xách được sử dụng thường xuyên hơn ở Maryland,
và việc sử dụng nó liên quan đến tuổi của người nói (phổ biến hơn ở người từ
sáu mươi tuổi trở lên). Wallet (ví) được sử dụng nhiều hơn ở California và khu
vực Đông Bắc của Liên bang, thông thường truyền tải ý nghĩa 'bưu phẩm bằng
da' (leather billfold); tuy nhiên, từ billfold - ví được một số người cung cấp
thông tin coi là thuật ngữ lâu đời nhất đề cập đến cái gì đó có thể được mang
bên trong pocketbook - ví tiền hoặc handbag –túi xách và chỉ trong một số
trường hợp đã cung cấp thông tin nó có nghĩa chồng chéo với handbag túi xách. Cuối cùng, tần suất sử dụng của coin purse – ví đựng tiền xu và
change purse – ví đựng tiền lẻ được coi là gần bằng sau từ handbag - túi xách .
Gottschlank (1992) [102, tr.237-255] so sánh hai cấu trúc câu hỏi tiếng Anh
thường xuyên được sử dụng hoặc để đề nghị một cái gì đó hoặc hỏi về một cái
gì đó, cụ thể là what about (cái gì) và how about (theo cách gì). Trong nghiên
cứu của mình, tác giả đã kiểm tra khả năng nói tiếng mẹ đẻ bằng tiếng Anh để
chọn cụm từ tốt nhất điền vào khoảng trống trong một số câu phù hợp. Theo
những cách hiểu khác nhau của học sinh đối với các câu theo lực ngôn trung
mà họ suy đoán, các học sinh đã nói rằng họ phân biệt được giữa what about
(cái gì) và how about (theo cách gì) và cũng không phải tất cả trong số họ đều
đã chọn cùng một cụm từ trong cùng một loại phát ngôn. Những sự khác biệt

thesauri và corpora. Các tác giả tìm thấy một số sự khác biệt giữa các từ ngữ
này bằng cách xem chúng có thể được thay thế bằng động từ nào, các đối tượng
trực tiếp có thể lược bỏ và tần số xuất hiện của chúng. Với sự tham khảo các
động từ có thể thay thế, họ lên danh sách inquire (hỏi), demand (yêu cầu),
claim (khiếu nại), ask for (yêu cầu) và request (yêu cầu); hơn nữa, ask for (yêu
cầu) và request (yêu cầu) không chỉ có sự chồng chéo lớn đối với các đối tượng
trực tiếp, mà còn có sự chồng chéo đối với các sự phân bố đối tượng tương tự
và ý nghĩa; Cả hai đều đi kèm với danh từ hành động hoặc các trạng thái công
việc và một số ít các danh từ chỉ các đại lý hoặc cơ quan, con người; cuối
cùng, request (yêu cầu) được dùng thường xuyên hơn so với ask for (yêu cầu).
18


Atkins và Levin (1995) đã tham khảo ý kiến các tập đoàn điện tử và từ điển
tiếng Anh để phân tích các động từ diễn tả khái niệm về shaking (rung lắc), cụ
thể là quake (động đất ), quiver (rung), shake (lắc)), shiver (rùng mình),
shudder (rùng mình), tremble (run rẩy) và vibrate (rung động). Họ kiểm tra sự
sử dụng cú pháp các từ, nhận thấy những động từ thường được coi là không
liên quan, ví dụ: "Thang máy rung mạnh anh ta lên tới tầng thứ sáu"(An
elevator shuddered him to the sixth floor) [81, tr.87].Họ cũng xem xét các loại
cụm từ danh từ cùng xuất hiện với các động từ này và kiểm tra các định nghĩa
được từ điển cung cấp cho người học ngoại ngữ. Họ phát hiện ra rằng quiver
(rung động) có nhiều khả năng xảy ra với bộ phận cơ thể, trong khi shiver
(rùng mình) được sử dụng cho người dân. Hơn nữa shudder (rùng mình),
tremble (run rẩy) và vibrate (rung) được sử dụng khi nói về máy móc; quiver
(rung động), shudder (rùng mình), tremble (run rẩy) và vibrate (rung) liên
quan đến các phòng ốc và các tòa nhà; vibrate (rung) và shudder (rùng
mình) liên quan đến xe cộ. Cuối cùng họ phát hiện ra shake (lắc) có ý nghĩa
tổng quát nhất và vì lý do này nên thường xuyên được dùng nhiều nhất.
Clift (2003) [88, tr.167-187] đã thảo luận về các từ đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status