Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho Công ty TNHH Bảo hiểm Quốc tế Mỹ tại Việt Nam - Pdf 45

Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
MỞ ĐẦU
1. Sự cấp thiết của đề tài

Vào tháng 8 năm 1996, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đưa ra thò trường
những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đánh dấu sự ra đời của một nhánh mới
trong ngành kinh doanh bảo hiểm – đó là nhánh bảo hiểm Nhân thọ.

Tiếp theo đó là sự ra đời của Công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài
đầu tiên Prudential, và các liên doanh bảo hiểm Bảo Minh – CMG và Chinfon
Manulife (bây giờ là Manulife) đã làm nên một bước chuyển hết sức mạnh mẽ
trong thò trường bảo hiểm nhân thọ. Sự góp mặt của các công ty bảo hiểm 100%
vốn nước ngoài và các doanh nghiệp bảo hiểm một bên là đối tác Việt Nam và một
bên là đối tác từ các nước có nền tài chính và dòch vụ phát triển đã tạo cho thò
trường bảo hiểm Việt Nam một sắc thái mới, năng động hơn.

Đối với hoạt động bảo hiểm nhân thọ, chỉ trong một thời gian rất ngắn hoạt
động bảo hiểm nhân thọ được đánh giá là phát triển nhanh tại thò trường Việt Nam.
Có thể nói đây là một lónh vực hoạt động tạo ra thói quen mới trong dân cư – thói
quen kế hoạch hóa tài chính dài hạn của mỗi gia đình, là một kênh huy động vốn
dài hạn để đầu tư trở lại cho nền kinh tế rất có hiệu quả, bên cạnh các hình thức tiết
kiệm khác tại Việt Nam. Nếu nhìn vào mức thu nhập bình quân tính theo đầu người
ở một số tỉnh, đặc biệt là các tỉnh miền núi, không ai có thể nghó rằng bảo hiểm
nhân thọ có thể triển khai ở những khu vực này. Nhưng với những sản phẩm bảo
hiểm phù hợp, phương thức khai thác và thu phí bảo hiểm thích ứng, các doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ đã thành công. Năm 2002, gần 6.000 tỷ đồng đã được
đầu tư trở lại cho nền kinh tế từ hoạt động bảo hiểm nhân thọ, làm cho ngành kinh
doanh bảo hiểm trở thành một tác nhân quan trọng của việc hình thành và phát
triển thò trường vốn ở Việt Nam.


Nghò đònh và Thông tư có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đồng thời
để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế, tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm, Bộ
Tài chính đã ra Quyết đònh số 150/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 về
việc sửa đổi và bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp bảo hiểm số 1296
TC/QĐ/CĐKT.

Mặc dù việc sửa đổi này giúp cho các công ty bảo hiểm có thể áp dụng chế độ
kế toán vào trong công tác quản lý và thực hành kế toán dễ dàng hơn, nhưng nó
vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm không thích hợp với hoạt động của doanh nghiệp
bảo hiểm. Do đó cần phải tiến hành điều chỉnh và hoàn thiện hơn nữa hệ thống kế
toán dành cho các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói
riêng.

Trang 2
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
Đề tài luận văn cao học “Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho Công ty
TNHH Bảo hiểm Quốc tế Mỹ tại Việt Nam” đã được nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu
cầu trên.

2. Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến bảo hiểm
nhân thọ và kế toán bảo hiểm nhân thọ. Đồng thời cũng nêu lên thực trạng của hệ
thống kế toán bảo hiểm nhân thọ tại Công ty bảo hiểm nhân thọ Mỹ (AIA) ở Việt
Nam. Bên cạnh đó luận văn cũng đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
báo cáo tài chính dành cho công ty bảo hiểm nhân thọ.

3. Phạm vi nghiên cứu


được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh
nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

- Kinh doanh tái bảo hiểm: là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm
mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo
hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách
nhiệm đã nhận bảo hiểm.

- Hoạt động đại lý bảo hiểm: là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu
xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm và các công việc khác nhằm thực
hiện hợp đồng bảo hiểm theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm.

- Doanh nghiệp bảo hiểm: là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt
động theo quy đònh của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy đònh khác
của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.

- Bên mua bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với
doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể
đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.

- Người được bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự,
tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm
có thể đồng thời là người thụ hưởng.

- Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ đònh để
nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
Trang 4
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________

- Bảo hiểm trọn đời: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo
hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó.

- Bảo hiểm trả tiền đònh kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người
được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất đònh; sau thời hạn đó doanh
Trang 5
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm đònh kỳ cho người thụ hưởng theo
thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

1.2 Khái quát về công ty bảo hiểm nhân thọ

- Công ty bảo hiểm nhân thọ có chức năng hoạt động như là một công ty môi
giới tài chính. Nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc huy động vốn trung
và dài hạn của các tổ chức và cá nhân trong xã hội, tạo ra thói quen kế
hoạch hóa tài chính dài hạn cho các cá nhân, gia đình và các tổ chức xã
hội. Bên cạnh đó nó cũng giúp huy động được những nguồn vốn nhàn rỗi
trong nhân dân để có thể tái đầu tư trở lại nhằm làm tăng hiệu quả hoạt
động của các ngành kinh tế trong xã hội.

- Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tư tài sản của họ vào những hoạt động kinh
doanh khác trong nền kinh tế cũng như là đầu tư vào bất động sản hoặc cho
vay nợ. Nhờ vào những sự đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ mà
các công ty khác có thể hoạt động và phát triển, đồng thời những cá nhân
có thể mua sắm được nhà cửa hoặc những tài sản có giá trò cho gia đình họ.

- Bên cạnh những lợi ích về mặt tài chính, công ty bảo hiểm nhân thọ cũng
có những đóng góp đáng kể trong việc giải quyết công ăn việc làm cho
hàng chục ngàn người trong xã hội. Điều này cũng góp phần làm giảm

bảo hiểm chết trong một khoảng thời gian đã được xác đònh.

+ Bảo hiểm trọn đời: công ty cam kết trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng trong trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời gian nào,
kèm theo đó là một số tiền tiết kiệm tích lũy được từ việc đóng tiền bảo
hiểm.

+ Bảo hiểm hỗn hợp: công ty cam kết trả tiền bảo hiểm nếu người được
bảo hiểm chết hoặc còn sống đến một thời gian xác đònh. Đây là một loại
hình bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm có thời hạn và bảo hiểm trọn đời. Nó
giống với bảo hiểm có thời hạn là chỉ trả tiền bảo hiểm cho một khoảng
thời gian được xác đònh trước, và giống với bảo hiểm trọn đời ở việc trả
tiền tiết kiệm kèm theo số tiền được bảo hiểm.

- Hợp đồng bảo hiểm sức khỏe: là một hợp đồng mà công ty bảo hiểm cung
cấp một sự bảo vệ chống lại rủi ro về tổn thất tài chính gây ra khi người
được bảo hiểm bò bệnh, tai nạn, hay thương tật. Có hai loại sản phẩm bảo
hiểm sức khỏe chính là:

+ Sản phẩm hỗ trợ viện phí: công ty bảo hiểm sẽ hỗ trợ chi phí điều trò cho
người được bảo hiểm.
Trang 7
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________

+ Sản phẩm hỗ trợ thu nhập do thương tật: công ty bảo hiểm sẽ hỗ trợ một
phần thu nhập cho người được bảo hiểm vì lý do thương tật không thể trở
lại làm việc.

1.4 Phương pháp tính giá sản phẩm bảo hiểm nhân thọï

Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
thức thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp phí bảo hiểm
được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số lần
phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo
thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệp bảo
hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm
không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời hạn đã đóng
phí bảo hiểm dưới hai năm. Trong trøng hợp bên mua đã đóng phí bảo
hiểm từ hai năm trở lên mà doanh nghiệp bảo hiểm đơn phương đình chỉ
thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo
hiểm giá trò hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra các bên có thể thỏa
thuận khôi phục lại hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm đã bò đơn phương đình
chỉ thực hiện do không đóng phí trong thời hạn hai năm kể từ ngày bò đình
chỉ và bên mua bảo hiểm đã đóng số phí bảo hiểm còn thiếu.

- Phương thức thanh toán tiền cổ tức: đối với một số hợp đồng bảo hiểm chủ
hợp đồng sẽ được chia cổ tức từ lợi nhuận sau thuế của công ty bảo hiểm.
Số tiền cổ tức từ hợp đồng bảo hiểm được coi là một khoản hoàn lại từ tiền
đóng phí bảo hiểm và không chòu thuế thu nhập. Số tiền cổ tức sẽ được hội
đồng quản trò của công ty bảo hiểm nhân thọ quyết đònh hàng năm vào cuối
mỗi niên độ kế toán. Số tiền cổ tức phải trả cho mỗi hợp đồng được xác
đònh theo những yếu tố sau: (1) tỉ lệ tử vong thực, tiền lãi, chi phí phát sinh
và dự tính của công ty bảo hiểm trong năm; (2) kế hoạch của công ty bảo
hiểm; (3) số tiền đóng phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm; và (4) thời
gian đóng phí của hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực. Thông thường thì
số tiền cổ tức sẽ tăng theo độ tuổi của hợp đồng bảo hiểm. Chủ hợp đồng
bảo hiểm có thể nhận số tiền cổ tức theo nhiều cách khác nhau như:

+ Phương thức trả tiền cổ tức bằng tiền mặt: Công ty bảo hiểm sẽ gửi thông

hiểm khác cho người được bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm mua thêm có
cùng thời hạn với hợp đồng chính và có mệnh giá tương ứng với số tiền
đóng phí của cổ tức tại số tuổi của người được bảo hiểm.

- Phương thức thanh toán quyền lợi bảo hiểm: thông thường số tiền bảo hiểm
sẽ được thanh toán một lần vào lúc người được bảo hiểm chết cho người
thụ hưởng. Tuy nhiên chủ hợp đồng hoặc người được thụ hưởng cũng có
thể chọn các hình thức thanh toán quyền lợi bảo hiểm khác như:

+ Tiền gửi ký quỹ: theo hình thức này thì công ty bảo hiểm sẽ dùng số tiền
trên để đầu tư và trả tiền lãi đònh kỳ cho người được thụ hưởng. Khi đó
trong hợp đồng sẽ nêu rõ mức lãi suất tối thiểu mà công ty phải trả cho
người được thụ hưởng, và công ty cũng có thể trả mức lãi suất cao hơn mức
lãi suất đã cam kết tùy theo tình hình đầu tư của công ty.
Trang 10
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________

+ Trả tiền theo một khoảng thời gian cố đònh: theo hình thức này công ty
bảo hiểm sẽ chia số tiền thanh toán thành những khoản bằng nhau và trả
trong một khoảng thời gian nhất đònh. Mỗi khoản tiền thanh toán sẽ bao
gồm một phần của số tiền thanh toán của hợp đồng và một số tiền lãi có
được từ số tiền thanh toán trên. Giống với hình thức tiền gửi ký quỹ ở trên,
công ty cam kết sẽ trả một mức lãi suất tối thiểu, và có thể cao hơn tùy
theo tình hình đầu tư của công ty.

+ Trả tiền với số tiền nhất đònh: theo hình thức này công ty bảo hiểm sẽ
chia số tiền thanh toán của hợp đồng cộng với tiền lãi phát sinh thành
những khoản tiền bằng nhau và trả thành nhiều lần cho người thụ hưởng
cho đến khi hết khoản tiền ấy.


Dự phòng phí toàn phần được tính theo nguyên tắc sau:

Dự phòng Giá trò hiện tại của Giá trò hiện tại Giá trò hiện tại
phí toàn = tổng trách nhiệm + của tổng chi phí - của tổng số phí
phần bảo hiểm sẽ phải trả dự kiến trong bảo hiểm toàn
trong tương lai tương lai phần sẽ thu trong tương lai

1.6.2.2 Dự phòng phí chưa được hưởng áp dụng đối với các hợp đồng có
thời hạn dưới 1 năm:

Dự phòng này chỉ áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm đóng phí đònh kỳ và
được tính theo công thức sau:

Thời gian còn lại của đònh kỳ nộp phí
Dự phòng = Phí đònh kỳ x ----------------------------------------------
Tổng thời gian của đònh kỳ nộp phí

Thời gian còn lại của đònh kỳ nộp phí và tổng thời gian của đònh kỳ nộp phí
được tính theo tháng hoặc ngày; trường hợp tính theo tháng thời gian còn lại
của đònh kỳ nộp phí được làm tròn xuống.
1.6.2.3 Dự phòng bồi thường:

Dự phòng bồi thường được trích theo phương pháp từng hồ sơ với mức trích
lập được tính trên cơ sở thống kê số tiền bảo hiểm phải trả cho từng hồ sơ
khiếu nại doanh nghiệp bảo hiểm nhưng đến cuối năm tài chính chưa được
giải quyết.
1.6.2.4 Dự phòng chia lãi:

Dự phòng chia lãi: chỉ áp dụng với những hợp đồng có lãi chia được tích lũy

Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ngày 20 – 5 – 1998, Bộ Tài chính đã ban hành
Quyết đònh 150/2001/QĐ – BTC quy đònh việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán
doanh nghiệp bảo hiểm đã được ban hành theo Quyết đònh số 1296 TC/QĐ/CĐKT.
Quyết đònh này có hiệu lực từ ngày 1/1/2002.

Sau đây là một vài điểm cơ bản của Chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp
bảo hiểm
2.1 Chế độ chứng từ
Các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ các qui đònh về chứng từ kế
toán trong Hệ thống kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết đònh 1141 –
TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tuy nhiên để thỏa
Trang 13
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
mãn yêu cầu quản lý và tính chất đặc thù của ngành bảo hiểm, các doanh nghiệp
bảo hiểm được sử dụng thêm một số loại chứng từ kế toán khác.

Hệ thống chứng từ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm 2 loại:
- Chứng từ kế toán áp dụng chung cho các doanh nghiệp
- Chứng từ kế toán áp dụng riêng cho các doanh nghiệp bảo hiểm

Chứng từ kế toán thuộc chỉ tiêu bán hàng như: Hoá đơn, hợp đồng hoặc giấy
chứng nhận bảo hiểm; hoá đơn thu phí bảohiểm… Bộ Tài chính cho phép các doanh
nghiệp bảo hiểm chủ động tự in ấn, phát hành để đáp ứng các yêu cầu quản lý khác
của từng loại hình dòch vụ bảo hiểm. Việc in ấn, phát hành các loại chứng từ trên
phải tuân thủ nghiêm nghặt các quy đònh sau:

- Mỗi loại chứng từ phải đảm bảo có đủ các yếu tố qui đònh của chứng từ kế
toán thuộc chỉ tiêu bán hàng, các loại chứng từ này có thể được in bằng hai
thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Anh.

động của việc cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) của doanh nghiệp bảo hiểm.
+ Tài khoản 1282 – Tạm ứng từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: dùng để
phản ánh số tiền tạm ứng ngắn hạn của khách hàng theo quy đònh trong
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
+ Tài khoản 1288 – Đầu tư ngắn hạn khác: dùng để phản ánh tình hình
biến động của các khoản đầu tư ngắn hạn khác (ngoài cho vay ngắn hạn và
tạm ứng từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ) có thời hạn thu hồi không quá 1
năm.

- Tài khoản 131 – Phải thu của khách hàng: Tài khoản này dùng để phản
ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu
của doanh nghiệp đối với khách hàng về hoạt động bảo hiểm gốc, các
khoản giảm chi bảo hiểm gốc, hoạt động nhận tái bảo hiểm, hoạt động
nhượng tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm, hoạt động đầu tư tài
chính cũng như các khoản phải thu khác của khách hàng. Tài khoản 131
phải mở chi tiết cho từng loại hoạt động kinh doanh bảo hiểm, gồm: Bảo
hiểm gốc, nhận tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm,
hoạt động đầu tư tài chính và hoạt động kinh doanh khác. Trong từng loại
hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải chi tiết doanh thu, giảm chi (đối với
bảo hiểm gốc) theo đúng nội dung quy đònh cho từng hoạt động trong chế
độ tài chính. Tài khoản này gồm có 7 tài khoản cấp hai và một số tài
khoản cấp 3 đi kèm để theo dõi chi tiết với nội dung như sau:

+ Tài khoản 1311 – Phải thu về các hoạt động bảo hiểm gốc: dùng để phản
ánh các khoản phải thu của khách hàng liên quan đến hoạt động bảo hiểm
gốc.
Trang 15
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
+ Tài khoản 1312 – Phải thu về các khoản giảm chi bảo hiểm gốc: dùng để

tài khoản cấp 2 để có thể theo dõi chi tiết các hoạt động đầu tư dài hạn của
doanh nghiệp bảo hiểm. Tài khoản này cũng cần phải chi tiết từng khoản
đầu tư theo nguồn dự phòng, quỹ khen thưởng phúc lợi và các nguồn hình
Trang 16
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
thành khác theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp và cho từng loại hoạt
động đầu tư. Tài khoản này bao gồm 3 tài khoản cấp hai:

+ Tài khoản 2281 – Cho vay dài hạn: dùng để phản ánh tình hình biến
động của các khoản cho vay dài hạn (từ 1 năm trở lên) của doanh nghiệp
bảo hiểm.
+ Tài khoản 2282 – Tạm ứng từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: dùng để
phản ánh số tiền tạm ứng dài hạn của khách hàng theo quy đònh trong hợp
đồng bảo hiểm nhân tho.
+ Tài khoản 2288 – Đầu tư dài hạn khác: dùng để phản ánh tình hình biến
động các khoản đầu tư dài hạn khác (ngoài cho vay dài hạn và tạm ứng từ
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ) có thời hạn thu hồi từ 1 năm trở lên.

- Tài khoản 244 – Cầm cố, ký quỹ, ký cược dài hạn: dùng để phản ánh số
tiền doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện ký quỹ theo luật đònh và các
khoản cầm cố, ký cược, ký quỹ dài hạn khác trên 1 năm. Tài khoản này có
hai tài khoản cấp 2.

+ Tài khoản 2441 – Ký quỹ bảo hiểm: dùng để phản ánh tình hình biến
động của các khoản tiền doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện ký quỹ bảo
hiểm theo luật đònh.
+ Tài khoản 2442 – Cầm cố, ký quỹ, ký cược khác: dùng để phản ánh số
tiền hoặc tài sản doanh nghiệp bảo hiểm đem đi cầm cố, ký quỹ, ký cược
dài hạn trên 1 năm ngoài các khoản ký quỹ bảo hiểm theo luật đònh.

nhượng tái bảo hiểm.
+ Tài khoản 3315 – Phải trả về hoạt động môi giới bảo hiểm: phản ánh các
khoản phải trả cho các đối tượng liên quan đến hoạt động kinh doanh môi
giới bảo hiểm.
+ Tài khoản 3316 – Phải trả về hoạt động đầu tư tài chính: phản ánh các
khoản phải trả cho các đối tượng liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính.
+ Tài khoản 3318 – Phải trả khác cho người bán: phản ánh các khoản phải
trả khác cho người bán, người nhận thầu ngoài nội dung các khoản phải trả
đã quy đònh ở các tài khoản trên (từ tài khoản 3311 đến tài khoản 3316).

- Đổi tên tài khoản 335 - “Chi phí phải trả” thành “Dự phòng nghiệp vụ”:
dùng để phản ánh các khoản trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo
chế độ tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm và các khoản chi
phí khác được ghi nhận là chi phí kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa
phát sinh mà sẽ phát sinh trong kỳ này hoặc trong nhiều kỳ sau. Tài khoản
này sửa lại bao gồm 2 tài khoản cấp 2 là: Tài khoản 3351 – Dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm và Tài khoản 3352 – Chi phí phải trả.

Trang 18
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
+ Tài khoản 3351 – Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: dùng để phản ánh tình
hình trích lập và sử dụng các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo quy
đònh của chế độ tài chính.
+ Tài khoản 3352 – Chi phí phải trả: phản ánh các khoản chi phí phải trả
khác ngoài dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm bao gồm: chi phí sửa chữa lớn tài
sản cố đònh, trích trước tiền lương…

- Bổ sung thêm tài khoản 3385 – Phí bảo hiểm tạm thu: dùng để phản ánh
tình hình thanh toán giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng về phí

Khác với chế độ kế toán thông thường, nhóm tài khoản Doanh thu của chế độ kế
toán dành cho doanh nghiệp bảo hiểm đã được thiết kế một cách chi tiết đến từng
tài khoản cấp ba để phản ánh một cách chi tiết nhất các hoạt động kinh doanh bảo
hiểm, đồng thời cũng loại bỏ một số tài khoản không sử dụng trong ngành bảo
hiểm.
- Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng: tài khoản này phản ánh chi tiết từng
loại hoạt động kinh doanh bảo hiểm, gồm: Bảo hiểm gốc, nhận tái bảo
hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và hoạt động kinh doanh
khác. Trong từng loại hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải chi tiết theo
từng nội dung doanh thu và chi tiết cho từng nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ
và phi nhân thọ. Tài khoản này có 5 tài khoản cấp 2:

+ Tài khoản 5111 – Doanh thu bảo hiểm gốc: phản ánh doanh thu và doanh
thu thuần của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc thực hiện trong kỳ hạch
toán.
+ Tài khoản 5113 – Doanh thu nhận tái bảo hiểm: phản ánh doanh thu và
doanh thu thuần của hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm thực hiện trong kỳ.
+ Tài khoản 5114 – Doanh thu nhượng tái bảo hiểm: phản ánh doanh thu
và doanh thu thuần của hoạt động kinh doanh nhượng tái bảo hiểm thực
hiện trong kỳ.
+ Tài khoản 5115 – Doanh thu môi giới bảo hiểm: phản ánh doanh thu và
doanh thu thuần của hoạt động kinh doanh môi giới bảo hiểm thực hiện
trong kỳ.
+ Tài khoản 5118 – Doanh thu các hoạt động khác: phản ánh doanh thu và
doanh thu thuần của hoạt động kinh doanh khác ngoài hoạt động kinh
doanh bảo hiểm gốc, nhận tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm và môi giới
bảo hiểm thực hiện trong kỳ hạch toán.

- Loại bỏ hai tài khoản không sử dụng trong doanh nghiệp bảo hiểm là: Tài
khoản 512 – Doanh thu bán hàng nội bộ và Tài khoản 521 – Chiết khấu


2.2.6 Nhóm chi phí sản xuất, kinh doanh:

Đối với nhóm tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh, chế độ kế toán dành cho
doanh nghiệp bảo hiểm đã thay đổi toàn bộ các tài khoản bên trong để có thể đáp
ứng được yêu cầu phản ánh chi phí một cách chính xác của các doanh nghiệp bảo
hiểm. Nhóm này bao gồm 3 tài khoản với chi tiết như sau:

- Tài khoản 624 – Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm: dùng để phản ánh
chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm gồm bảo hiểm gốc, nhận tái bảo
hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và các hoạt động kinh
Trang 21
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
doanh khác như hoạt động đại lý, giám đònh… Tài khoản này có 5 tài khoản
cấp 2.

+ Tài khoản 6241 – Chi phí trực tiếp kinh doanh bảo hiểm gốc: phản ánh
chi phí trực tiếp của hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc.
+ Tài khoản 6243 – Chi phí trực tiếp kinh doanh nhận tái bảo hiểm: phản
ánh chi phí trực tiếp của hoạt động kinh doanh nhận tái bảo hiểm.
+ Tài khoản 6244 – Chi phí trực tiếp kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: phản
ánh chi phí trực tiếp của hoạt động kinh doanh nhượng tái bảo hiểm.
+ Tài khoản 6245 – Chi phí trực tiếp kinh doanh môi giới bảo hiểm: phản
ánh chi phí trực tiếp của hoạt động kinh doanh môi giới bảo hiểm.
+ Tài khoản 6248 – Chi phí trực tiếp kinh doanh hoạt động khác: phản ánh
chi phí trực tiếp của hoạt động kinh doanh khác ngoài hoạt động kinh doanh
bảo hiểm gốc, nhận tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo
hiểm…



Nhìn chung báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm dựa hoàn
toàn trên báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên cũng có
một vài sự thay đổi để phù hợp với tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
bảo hiểm.

2.4.1 Bảng cân đối kế toán:

So với bảng cân đối kế toán dành cho các doanh nghiệp khác, bảng cân đối kế
toán dành cho doanh nghiệp bảo hiểm được bổ sung thêm một chỉ tiêu mớiù, là chỉ
tiêu “Dự phòng nghiệp vụ”. Chỉ tiêu này là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các quỹ dự
phòng nghiệp vụ chưa sử dụng tài thời điểm báo cáo. Chỉ tiêu này được chi tiết hóa
thành các khoản trên bảng cân đối kế toán như:

- Dự phòng phí
- Dự phòng toán học
- Dự phòng bồi thường
- Dự phòng dao động lớn
- Dự phòng chia lãi
- Dự phòng bảo đảm cân đối
Ngoài ra, trên bảng cân đối kế toán dành cho các doanh nghiệp bảo hiểm có
một số thay đổi trong các khoản mục nhỏ để phù hợp với hệ thống tài khoản đã
được nêu trên.
2.4.2 Kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh dành cho các doanh nghiệp bảo hiểm
được chia thành hai loại báo cáo, một loại dùng cho doanh nghiệp bảo hiểm và một
loại dùng cho doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Đồng thời cũng không sử dụng
Trang 23
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________

thống tài khoản và các báo cáo tài chính có những điểm gì khác biệt so với hệ
thống kế toán thông thường.

Tóm lại, chương một của luận văn chỉ trình bày những khái niệm chung nhất về
bảo hiểm nhân thọ và chế độ kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp bảo hiểm.
Trang 24
Hoàn thiện hệ thống kế toán áp dụng cho công ty bảo hiểm quốc tế Mỹ
_________________________________________________________________________________________
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC TẾ ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI CÔNG TY AIA VIỆT NAM

1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VIỆT NAM.
1.1 Lòch sử hình thành và phát triển của chế độ kế toán dành cho các doanh
nghiệp tại Việt Nam.

Chế độ kế toán doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam được ra đời vào năm 1970
theo quyết đònh số 425 TC/CĐKT của Bộ tài chính để đáp ứng yêu cầu quản lý xí
nghiệp của nước ta trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghóa ở miền
Bắc. Mục tiên của chế độ kế toán này nhằm cung cấp thông tin một cách có hệ
thống và toàn diện tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính của
nền kinh tế. Năm 1975 khi đất nước hoàn toàn thống nhất, chế độ kế toán đầu tiên
này vẫn tiếp tục được áp dụng trên toàn đất nước Việt Nam.

Năm 1986 khi đất nước tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế quốc dân,
chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch
hoá theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thì chế độ kế toán hiện hành đã không còn
phù hợp với cơ chế kinh tế mới nữa. Do đó để phù hợp với sự phát triển của nền
kinh tế, sự cải tiến không ngừng của công tác quản lý kinh tế – tài chính, Bộ tài
chính đã ban hành chế độ kế toán mới theo quyết đònh số 212 TC/CĐKT vào ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status