sáng kiến một số biện pháp giúp học sinh học tốt luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: …………………………………………………………………………………
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Luyện từ và
câu Lớp 4.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục tiểu học
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
- Lê-Nin khẳng định: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người”. Con người sống thành xã hội. Trong xã hội nhất thiết phải có sự
giao tiếp để con người trao đổi thông tin, biểu đạt tâm tư, nguyện vọng và cảm
xúc. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu của xã hội loài người. Con người
học ngôn ngữ từ tuổi còn thơ và suốt cuộc đời không ngừng trau dồi ngôn ngữ
cho chính mình. Con người học ở nhà trường và chính trong cuộc sống. Nhưng
ở nhà trường con người được học ngôn ngữ một cách hệ thống và chuẩn mực
nhất;
- Một trong những nội dung quan trọng của việc rèn kỹ năng sử dụng
Tiếng Việt ở bậc tiểu học là giúp học sinh biết sử dụng từ một cách phù hợp
trong các bài viết, đặc biệt trong phân môn Luyện từ và câu. Dùng từ đúng, phù
hợp với nội dung văn cảnh, giúp các em thể hiện ý văn sáng sủa, rõ ràng, mặt
khác giúp người đọc hiểu nội dung bài văn, câu văn một cách dễ dàng, chính
xác.
- Vì vậy cần cải tiến phương pháp dạy học "Luyện từ và câu" theo hướng
tích cực hóa hoạt động của người học để giờ học sinh động, hấp dẫn, hiệu quả.
Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 4, khi nghiên cứu về phương pháp dạy học
phân môn Luyện từ và câu. Sau khi được tập huấn chuyên môn, tôi đã biết cách


phối hợp nhịp nhàng, khoa học và lôgic giữa kiến thức về từ và câu. Sử dụng
các kỹ thuật dạy học tích cực như kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật mảnh ghép,

mọi tình huống ứng xử;
- Người giáo viên phải biết cách khai thác các từ ngữ qua vốn sống của
trẻ nhằm xây dựng hệ thống kiến thức. Trên cơ sở khai thác qua các câu có từ
thuộc chủ đề đang học nhằm bổ sung, củng cố, khắc sâu kiến thức cho các em.
Ngoài ra, người giáo viên phải biết phối hợp một cách linh hoạt các phương
pháp dạy học đặc trưng của môn học để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách
nhẹ nhàng, hiệu quả;
- Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều, kinh nghiệm vốn sống ít,
vốn từ nghèo nàn, học sinh nhút nhát, rụt rè.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
3.2.1. Mục đích của giải pháp
- Với mong muốn làm sao có phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp
nhất để truyền thụ hết tri thức cho học sinh một cách tối ưu. Làm thế nào để sự
tiếp thu kiến thức của các em có hiệu quả. Để học sinh nắm vững kiến thức và
vận dụng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức
khoa học;
- Với mong muốn góp phần vào việc tìm kiếm những kinh nghiệm vận
dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong thực tế giảng dạy và các biện
pháp để giúp học sinh học tốt luyện từ và câu. Từ đó tạo cho học sinh một môi
trường học tập tích cực, năng động, giúp học sinh có thêm một cách học, cách
ghi nhớ, cách hệ thống kiến thức một cách có hiệu quả nhất. Từ đó, học sinh sẽ
phát huy tối đa khả năng học tập của bản thân. Góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục cho học sinh chính là mục đích khi tôi thực hiện đề tài này.
3.2.2. Nội dung của giải pháp
3.2.2.1. Điểm mới của giải pháp
- Đề tài là sự tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm và chắt lọc về quá trình vận
dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa các hoạt động để người
học, để giờ học sinh động, hấp dẫn hiệu quả. Các biện pháp đề cập cụ thể, rõ
ràng, người đọc sẽ dễ tiếp cận, dễ áp dụng vào thực tế;
3

 Nhận biết các bộ phận cấu tạo của tiếng;
4


 Giải các câu đố chữ liên quan đến cấu tạo tiếng;
 Nhận biết các kiểu cấu tạo từ;
 Nhận biết các từ loại;
 Đặt câu với các từ đã cho.
- Với các bài học mở rộng và hệ thống hóa vốn từ đều được thể hiện dưới
hình thức bài tập thực hành. Những kiểu bài tập thực hành chủ yếu là:
+ Tìm từ ngữ theo nghĩa và hình thức cấu tạo đã cho:
 Xác định nghĩa của từ và các yếu tố cấu tạo từ;
 Xác định nghĩa của thành ngữ, tục ngữ;
 Phân loại từ ngữ và các yếu tố cấu tạo từ;
 Đặt câu với từ ngữ đã cho;
 Xác định tình huống sử dụng thành ngữ, tục ngữ.
+ Thể hiện thông qua những bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó:
Giáo viên cần nắm chắc điều này để đưa ra những phương pháp dạy học
phù hợp nhất. Trên cơ sở đó, tôi đã sử dụng và nghiên cứu một số phương pháp
dạy học tôi cho là khả thi.
3.2.2.2.2. Biện pháp tổ chức hoạt động cho các dạng bài tập
* Đối với bài Mở rộng vốn từ theo chủ điểm ở lớp 4
- Giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để phát huy tính
tích cực học tập của học sinh. Đặc biệt chú ý sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm và phương pháp trò chơi học tập. Qua tiết học giáo viên phải giúp các em
chủ động trong việc lựa chọn từ ngữ và sử dụng từ ngữ đó trong việc học tập và
giao tiếp hàng ngày. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này giáo viên cần vận dụng đúng
phương pháp thực hành giao tiếp để tạo niềm hứng thú cho học sinh (Cụ thể là:
Phải tạo được tình huống thiết thực tự nhiên, cho học sinh vận dụng những kiến
thức để thực hành giao tiếp trong những tình huống cụ thể, phù hợp với tình

một cách linh hoạt vào các tình huống sử dụng ngôn ngữ cụ thể;
- Muốn có được hai nguồn kiến thức ấy các em cần phải tập quan sát thực
tế ghi chép vào ký ức, sổ tay của mình để có thể làm bài tốt. Trong quan sát các
em chú ý phải quan sát bằng nhiều giác quan như: Mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi
6


và cả tay sờ nữa. Phải biết tranh thủ những gì quan sát được như trên đường đi
học, một buổi tham gia lao động, một ngày về quê để làm kiến thức khi viết bài;
- Về kiến thức sách vở phải biết chọn lựa, ghi chép hoặc học thuộc để có
thể tái hiện khi làm bài. Để giúp cho việc tích luỹ kiến thức được tốt các em nên
hình thành “Cuốn sổ tay văn học” trong đó các em ghi thành từng mục:
- Những kiến thức là từ ngữ theo chủ đề;
- Những từ ngữ hay, câu danh ngôn, châm ngôn;
- Những đoạn văn hay, câu thơ hay;
- Những người tốt, việc tốt;
Sắp xếp như vậy học sinh dễ tìm, dễ lấy tư liệu làm bài.
3.2.2.2.3. Phương pháp sử dụng trò chơi học tập để dạy “Luyện từ và
câu lớp 4”
- Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên và
chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt
mỏi. Nhưng qua trò chơi, người chơi có thể được rèn luyện thể lực, các giác
quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè đồng đội trong
nhóm, trong tổ. Bước vào trường, trẻ làm quen với hoạt động học tập, một loạt
hoạt động được chương trình hóa với những yêu cầu chính rất cao. Vậy, nếu sử
dụng hình thức trong trò chơi trong học tập sẽ đạt hiệu quả cao. Chính vì vậy,
trò chơi được sử dụng trong các tiết dạy học có tác dụng tích cực nhằm làm thay
đổi hình thức học tập. Thông qua trò chơi không khí lớp học trở lên thoải mái,
dễ chịu, tiếp thu bài của học sinh tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả;
- Mục đích của trò chơi học tập: Không chỉ nhằm giải trí mà còn nhằm

- Số học sinh còn lại cầm bảng ghi từ;
- Sau hiệu lệnh 2 phút các từ tìm về đúng chủ điểm của mình;
- Kiểm tra nhận xét.
3.2.2.2.4. Biện pháp hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu
- Việc phân tích ngữ liệu của bài tập giúp học sinh nắm vững yêu cầu của
bài tập và thực hành tốt nhằm rút ra kiến thức. Giáo viên cần cho học sinh đọc
thầm, trình bày yêu cầu của bài tập, giải thích thêm cho học sinh nắm rõ yêu cầu
bài tập. Tổ chức cho học sinh làm bài tập bằng nhiều hình thức như: Cá nhân,
8


nhóm. Sau đó báo cáo kết quả, cả lớp cùng tham gia trao đổi, nhận xét, học sinh
tự rút ra kết luận. Giáo viên chỉ khẳng định kết luận đúng hoặc bổ sung. Trao
đổi với học sinh, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức cho học sinh góp ý và đánh
giá cho nhau trong quá trình làm bài. Giáo viên không nhất thiết phải giải nghĩa
từ mà gợi ý cho học sinh liên tưởng, so sánh để tìm nghĩa của từ. Với những từ
ngữ trừu tượng, ít gần gũi học sinh, giáo viên cần đưa vào hoàn cảnh cụ thể để
học sinh hiểu nghĩa. Cuối cùng giáo viên sơ kết, tổng kết ý kiến của học sinh;
* Ví dụ: Khi dạy bài “Động từ” (tuần 9), ở phần nhận xét sau khi cho
học sinh: đọc kĩ, thảo luận theo nhóm đôi tìm các từ chỉ hoạt động của người,
các từ chỉ trạng thái của vật, rồi trình bày kết quả trước lớp. Giáo viên sẽ chốt
lại: Các từ nêu trên là động từ. Vậy động từ là gì? Học sinh trả lời – giáo viên
khẳng định và ghi bảng. (Động từ là từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật).
3.2.2.2.5. Biện pháp dạy nội dung mở rộng và hệ thống hoá vốn từ
- Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá trong phân môn Luyện từ và câu
ở lớp 4 bao gồm các từ thuần Việt, từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp với
chủ điểm của từng đơn vị học. Để học sinh hiểu nghĩa và biết dùng từ ngữ,
thành ngữ, tục ngữ... thuộc các chủ điểm. Giáo viên cần gợi ý cho học sinh liên
tưởng, so sánh hoặc tra từ điển để tìm hiểu nghĩa. Với những từ ngữ trừu tượng,
ít gần gũi với học sinh, cần đưa chúng vào văn cảnh cụ thể để làm rõ nghĩa;

 Đối với bài tập này các em chỉ cần tìm thêm một thành tố thứ hai đứng
sau thành tố đã cho để tạo nên một từ cùng nghĩa với “Ước mơ”;
 Nêu một ví dụ minh họa về một loại ước mơ. Như chúng ta biết trong
cuộc sống ai cũng có những ước mơ của mình. Có những ước mơ chính đáng và
không chính đáng. Từ đó, học sinh có thể lấy bất kỳ một ví dụ cho mỗi loại ước
mơ sao cho thích hợp. Như “ Ước mơ sau này sẽ làm thầy (cô) giáo, làm kĩ sư,
làm bác sĩ, làm chú công an, anh bộ đội…”.
3.2.2.2.6. Biện pháp nâng cao kiến thức về từ, câu, kĩ năng dùng từ,
đặt câu và sử dụng dấu câu
- Kiến thức tiếng Việt là cả một kho tàng phong phú. Ngay từ khi mới
bập bẹ biết nói, các em đã biết dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Thế nhưng đến
lớp 4 các em mới bước đầu được làm quen với phân tích cấu tạo của từ, câu, từ
10


loại, cách sử dụng dấu câu;
- Giáo viên cần giúp học sinh khai thác tối đa ngữ liệu được cung cấp.
Khi dạy các kiến thức về từ, học sinh thường gặp khó khăn trong việc nhận
diện, phân biệt từ phức, từ ghép tổng hợp, từ ghép phân loại, từ láy. Việc phân
tích từ ghép có nghĩa tổng hợp, có nghĩa phân loại, từ ghép và từ láy, học sinh
phải căn cứ trên nghĩa của từ. Vì vậy, để giúp học sinh nhận ra hệ thống từ,
nhận xét về mặt cấu tạo giáo viên cần giúp học sinh thao tác ghép các từ với
từng phần trong bài học;
* Ví dụ: Khi dạy bài “Luyện tập về từ ghép, từ láy” (tuần 4):
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân loại từ “bánh trái” (chỉ chung cho
các loại bánh) nên là từ ghép có nghĩa tổng hợp;
- Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy kể tên một số loại bánh mà em biết ? (bánh
rán, bánh cuốn, bánh mì…);
- Bánh rán, bánh cuốn, bánh mì...là chỉ riêng cho một loại bánh nên là từ
ghép có nghĩa phân loại;

có quan hệ từ đứng trước. Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối
câu. Trạng ngữ ở đầu câu dễ gặp nhất, học sinh dễ nhận thấy, còn trạng ngữ ở
giữa câu và cuối câu học sinh khó nhận diện. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 chỉ
nêu trường hợp trạng ngữ đứng ở đầu câu nhưng nếu học sinh đặt những câu có
trạng ngữ ở vị trí khác, giáo viên vẫn chấp nhận và chỉ cho học sinh thấy vị trí
linh hoạt của trạng ngữ;
- Khi dạy bài “Luyện tập về câu hỏi” tuần 14. Ở bài này học sinh phải đặt
được câu hỏi cho bộ phận xác định trong câu; nhận biết một số từ nghi vấn và
đặt câu hỏi với các từ nghi vấn; bước đầu biết được một dạng câu có từ nghi vấn
nhưng không dùng để hỏi;
- Ví dụ: Đặt câu hỏi cho các bộ phận câu được gạch dưới sau đây;
a) Hăng hái nhất và khỏe nhất là bác cần trục;
b) Trước giờ học chúng em thường rủ nhau ôn bài cũ;
c) Bến cảng lúc nào cũng đông vui;
- Để đặt được câu hỏi cho các bộ phận câu được gạch dưới, học sinh phải
hiểu bộ phận gạch dưới biểu đạt nội dung gì? Từ dùng để hỏi bộ phận đó là
12


những từ nghi vấn nào.Tìm được các từ đó và đặt thêm dấu chấm hỏi cuối câu
là chúng ta giải quyết được vấn đề;
a) Hăng hái nhất và khỏe nhất là ai?
b) Trước giờ học chúng em thường làm gì?
c) Bến cảng như thế nào?
3.2.2.2.7. Biện pháp giúp học sinh tích lũy vốn từ vựng
- Học tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt cũng như con người bước vào cuộc
đời đều phải mang theo mình những hành trang cần thiết, đó là những kinh
nghiệm, những bài học về cuộc sống, những hiểu biết về thế giới xung quanh;
- Muốn học tốt môn Tiếng Việt, giáo viên cần cho học sinh hiểu tầm quan
trọng của việc tích luỹ kiến thức. Nguồn kiến thức về cuộc sống xung quanh,

ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần giúp học sinh học tập tốt
hơn ở các môn học khác.
3.2.2.4. Hiệu quả, lợi ích thu được của việc áp dụng sáng kiến
Sau khi thực hiện các biện pháp đã nêu để giảng dạy phân môn Luyện từ
và câu lớp 4. Tôi thấy kết quả đạt được như sau:
- Học sinh nắm chắc hơn về từ, mở rộng được vốn từ;
- Học sinh có kĩ năng tốt trong việc sử dụng từ, đặt câu;
- Học sinh có khả năng vận dụng thực hành tốt hơn;
- Các em có thể kiểm tra, rà soát lại bài làm của mình và của bạn;
- Đặc biệt khả năng giao tiếp, tác phong nhanh nhẹn hơn trong học tập,
trong vui chơi. Thích học phân môn này hơn;
- Nhờ áp dụng các biện pháp trên nên chất lượng môn Tiếng Việt so với
đầu năm học có nhiều tiến bộ rõ nét. Trước đây các em chưa hiểu nghĩa từ, vận
dụng từ còn sai, đặt câu còn khô khan, rời rạc, chưa đủ ý hoặc dài dòng. Nay
các em đã hiểu nghĩa của từ theo từng chủ điểm, biết giải nghĩa từ, vận dụng từ
vào trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Các em đã biết dùng từ hay, giàu hình ảnh,
biết phát hiện câu chưa đúng. Đặc biệt các em đã biết vận dụng để làm các bài
tập làm văn hay.
Tuy kết quả đó là hết sức bé nhỏ, song nó cũng là động viên tôi rất nhiều
trong công tác giảng dạy tại trường.
* Đối với giáo viên
14


- Cần yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với nghề, luôn thể hiện tình thương
trách nhiệm đối với học sinh;
- Không ngừng học tập trong sách vở, bạn bè đồng nghiệp, tích lũy kinh
nghiệm giảng dạy để nâng cao tay nghề. Sáng tạo trong giảng dạy;
- Nhận thức đúng vai trò phân môn Luyện từ và câu là khởi nguồn của
mọi quá trình nhận thức và giao tiếp;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status