Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình - Pdf 26

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
1. Lí do khách quan.
Môn Văn có từ lâu trong nhà trường ở nước ta. Trong thời đại phong
kiến, môn Văn gần như là môn học chủ yếu trong nhà trường. Bước chân đến
cửa khổng, sân trình, học trò thời bấy giờ được học ngay những bài học về “tam
cương, ngũ thường” từ các sách “Tứ thư”, “Ngũ kinh” của Trung Quốc. Đến
thời Thực dân Pháp thống trị, với chính sách thuộc địa và chủ trương giáo dục
nô dịch của Thực dân Pháp, môn Việt Văn bị coi nhẹ đến mức thấp nhất. Cách
mạng tháng Tám thành công đã thổi một luồng gió mới vào học đường nước ta.
Cùng với sự đổi đời của dân tộc, một nền giáo dục mới đã được trả về vị trí
xứng đáng và có những thành tựu to lớn, nhất là đã góp phần quan trọng trong
việc đào tạo những thế hệ thanh thiếu nhi trở thành những công dân tốt, những
cán bộ tốt vươn lên gánh vác sứ mệnh lịch sử.
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, của
công nghệ thông tin đã tạo cho cuộc sống vật chất nhanh chóng nâng lên thì
Văn học càng có giá trị cực kỳ to lớn trong việc bồi dưỡng, giáo dục tư tưởng,
tình cảm và mĩ cảm cho học sinh. Văn học chính là vũ khí thanh cao và đắc lực
có tác động sâu sắc đến tâm hồn, tình cảm của con người, bồi đắp cho con
người trở nên trong sáng hơn, phong phú và sâu sắc hơn.
Thế nhưng do nhận thức về bản chất, đặc trưng của môn Văn chưa được
đúng đắn, có khi còn giản đơn, nhiều bậc phụ huynh và các em học sinh không
coi trọng môn học này như các môn khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa…), từ
đó dẫn tới thái độ ngại học Văn, thậm chí không thích, không muốn học Văn.
Những nhận thức thiếu sót, lệch lạc đó dẫn đến nhiều hạn chế trong việc tiếp
nhận các giá trị văn chương, đặc biệt là tiếp nhận các tác phẩm trữ tình.
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 1
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
2. Lí do chủ quan.

trình nghiên cứu. Bằng các phương pháp nghiên cứu giúp cho tôi biết được khả
năng thực tế của các em trong quá trình học tác phẩm trữ tình.
Sau khi nắm bắt được thực trạng đó, tôi sẽ phân tích từng nguyên nhân và
tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp các em dần đạt được những năng lực nhất
định trong khi học tập các tác phẩm trữ tình.
III. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp để dạy – học tác phẩm trữ
tình.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 9C trường THCS Tuyết Nghĩa.
IV. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu: Các tác phẩm trữ tình (Thơ trữ tình) trong chương
trình THCS, đặc biệt là ở chương trình Ngữ văn lớp 9 Năm học 2013 – 2014.
V. Các phương pháp nghiên cứu.
1. Hệ thống lại các vấn đề lý thuyết.
2. Điều tra, khảo sát, phân loại các bài làm của học sinh, từ đó đánh giá được
thực trạng năng lực học Tác phẩm trữ tình của học sinh.
3. Dạy thử nghiêm .
VI. Kế hoạch thực hiện và giới hạn sử dụng đề tài.
- Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, viết, triển khai áp dụng đề tài sáng kiến
kinh nghiệm “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt tác phẩm trữ tình”
trong năm học 2013 – 2014.
- Đề tài áp dụng cho học sinh tất cả các khối lớp bậc THCS trong quá
trình học tập Tác phẩm trữ tình của môn Ngữ Văn.
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 3
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
PHẦN II
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
1. Trữ tình và Tác phẩm trữ tình.
Khái niệm “Trữ tình” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, trữ tình là một

thơ viết về đất nước, dân tộc, về cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta sau
cách mạng tháng Tám đều có thể xem là những bài tụng ca.
Trào phúng là một dạng đặc biệt của trữ tình. Với một chất giọng trào
lộng, châm biếm, trào phúng phê phán đả kích những cái xấu, cái ác, những thói
hư tật xấu của con người và xã hội. Một số bài thơ châm biếm của Tú Xương
được xem là những bài thơ trào phúng.
Dựa vào nội dung thể loại có thể chia thơ trữ tình ra các thể loại: Trữ tình
tâm tình, trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân.
Trữ tình tâm tình là những bài thơ nghiêng về tâm tình, tình cảm con
người trong các quan hệ riêng tư của đời sống tình cảm như tình yêu lứa đôi,
tình cảm vợ chồng, cha mẹ con cái, anh em, bè bạn Những bài ca dao viết về
tình yêu dang dở, hay than thân trách phận, những bài thơ tình là thuộc thể
loại này.
Trữ tình phong cảnh là những bài thơ viết về thiên nhiên, cảnh sắc làng
quê, đất nước, núi non, sông biển. Ở đây thông qua thế giới thiên nhiên huyền
diệu nhà thơ bộc bạch nỗi niềm tâm sự của mình trước con người và cuộc đời.
Trữ tình thế sự là những bài thơ viết về thế thái nhân tình. Đấy là những
suy tư, chiêm nghiệm về những biến đổi, thăng trầm của thế sự. Nhiều bài thơ
của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy những ưu tư về con người, về thời
thế. Đó là những bài thơ trữ tình thế sự sâu sắc.
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 5
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
Trữ tình công dân là những bài thơ mà cảm hứng của nhà thơ bộc lộ với
tư cách là một công dân của đất nước. Những bài thơ trữ tình công dân thường
bắt nguồn từ những suy tư về Tổ quốc, là nỗi thiết tha về con người, đất đai Tổ
quốc, là khát vọng xây dựng đất nước hòa bình, tươi đẹp.
Trong thực tế không phải ranh giới của các thể loại không phải bao giờ
cũng rạch ròi như vậy. Dựa vào đặc điểm loại hình này để cảm thụ và phân tích
tác phẩm đúng đắn hơn.
3. Đặc điểm của tác phẩm trữ tình.

biệt, có thể biểu hiện được các sắc thái tinh vi của tư tưởng. Trữ tình dùng nhiều
hình ảnh, nhiều từ đồng nghĩa…để diễn tả một tâm trạng, một suy tư. Ngôn ngữ
trữ tình vừa có tính chất cường điệu vừa có tính chất cách điệu. Cường điệu sẽ
tạo ra hình ảnh, cách điệu sẽ tạo ra nhịp điệu. Cũng có thể nói đặc trưng của
ngôn ngữ trữ tình là sự trùng điệp: trùng điệp của âm thanh, nhịp điệu, ngữ
nghĩa…Nhờ sự trùng điệp này mà nó đã tạo ra được những nhịp điệu tương
ứng, tạo được sự âm vang. Vì vậy ngôn ngữ trữ tình là thứ ngôn ngữ rất hàm
xúc, gợi cảm, giàu nhạc điệu. Những bài thơ trữ tình được chọn lọc đưa vào
chương trình ngữ văn THCS từ bài Qua đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan),
Lượm (Tố Hữu), Quê hương (Tế Hanh) cho đến Ánh trăng (Nguyễn Duy),
Viếng lăng Bác (Viễn Phương), Sang thu (Hữu Thỉnh)… đều là tiếng lòng thầm
kín của tác giả trước cuộc đời bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt đó.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1. Đặc điểm của học sinh lớp 9C trường THCS Tuyết Nghĩa.
Trường THCS Tuyết Nghĩa nằm trên địa bàn phía Tây Nam của huyện
Quốc Oai. Trường có 12 lớp thuộc 4 khối, trong đó khối 9 có 3 lớp.
Lớp 9C có tổng số 35 em học sinh. Đa số các em đều có ý thức đạo đức
tốt, chấp hành đầy đủ, nghiêm túc nội quy, quy định của nhà trường. Một số em
trong học tập khá chăm chỉ và chủ động ở cả giờ học trên lớp cũng như ở nhà.
Tuy nhiên trong lớp vẫn còn một số học sinh lười học, chểnh mảng, chưa cố
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 7
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
gắng. Đặc biệt gia đình các em đều làm nông nghiệp, có gia đình cả bố và mẹ
đều đi làm thuê xa thường xuyên không có mặt ở nhà, vấn đề quản lí giáo dục,
chăm sóc con cháu đều nhờ cậy ông bà. Bởi vậy ít quan tâm sát sao được tới
việc học tập của con cái. Hơn nữa do hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên còn
hạn chế trong việc đầu tư cho con em mình (đặc biệt là sách tham khảo). Ngoài
ra trong lớp còn một số em chưa mạnh dạn, còn e ngại, nhút nhát trong giao
tiếp.
2. Thực trạng về mức độ học tập, cảm thụ tác phẩm trữ tình của học sinh.

Học sinh có mức độ học tập, cảm thụ tác phẩm trữ tình ở mức độ trung
bình có 09 em chiếm tỷ lệ 25,7%. Những em học sinh này khá nghiêm túc, chú
ý trong các giờ học nhưng chưa sôi nổi, chưa tích cực trong giờ học, đặc biệt
trong các hoạt động thảo luận nhóm mà giáo viên yêu cầu.
Học sinh có mức độ học tập, cảm thụ tác phẩm trữ tình ở mức độ yếu có
15 em chiếm tỷ lệ 42,9%. Số học sinh này trong học tập không chăm chỉ, ý thức
học bài cũ, tiếp thu bài mới chưa cao. Bản thân các em có khả năng nhận thức
yếu, năng lực diễn đạt rất hạn chế, ít có điều kiện đầu tư cho môn học.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP – HÌNH THỨC GIÚP HỌC SNH HỌC TỐT
TÁC PHẨM TRỮ TÌNH.
1. Đọc thơ trữ tình.
Đọc diễn cảm là bước đầu tạo tiền đề cho hoạt động tái hiện và có khả
năng thực hiện dễ dàng, đầy đủ hoạt động tái hiện. Với tác phẩm trữ tình, đọc
vừa là đồng cảm vừa là diễn cảm. Cũng nhờ đọc mà học sinh như vừa được
chứng kiến vừa được thể nghiệm. Vì thế, đọc, tái hiện, tri giác hình tượng thơ là
hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy – học tác phẩm trữ tình. Tái
hiện hình tượng thơ không những là một thao tác tư duy để đi vào tác phẩm mà
còn là một bí quyết để giáo viên truyền thụ tác phẩm.
Một bài thơ như “Bếp lửa” (Bằng Việt) ở Ngữ Văn 9 - Tập 1 mà việc
đọc và tái hiện hình tượng không được thực hiện tốt thì khó mà gợi được rung
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 9
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
động, cảm xúc. Chỉ một đoạn thơ ngắn ở phần đầu cũng là một sự liên tưởng
mạnh mẽ:
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay…
Hay như dạy bài “Mùa xuân nho nhỏ” (Thanh Hải) trong Ngữ văn 9 -

học. Giảng bình giúp học sinh đi từ giai đoạn trực cảm sang giai đoạn cảm thụ
có lí tính bài văn và cuối cùng là hoàn chỉnh quy luật tâm lý về cảm thụ văn
học. Về mặt tư duy, đây là khâu học sinh được vận dụng thao tác phân tích –
tổng hợp từ thấp đến cao để đạt được hiệu quả rèn luyện tư duy tốt nhất.
Ở THCS, nội dung giảng bình trong một bài văn là những sắc thái tu từ
về ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà chủ yếu là sắc thái tu từ từ vựng.
Giảng là làm cho học snh hiểu thuần túy về mặt ngôn ngữ đối với một chi
tiết nghệ thuật được phân tích. Bình là làm cho học sinh hiểu sự biến đổi nghệ
thuật của tác phẩm trong văn cảnh, chỉ ra giá trị nghệ thuật của từ, ngữ, câu,
đoạn… chỉ ra sức thông báo nhiệm màu của chi tiết nghệ thuật đó.
Sự kết hợp giữa giảng và bình cũng rất linh hoạt. Có khi giảng trước bình
sau, có khi bình trước giảng sau, có khi giảng kết hợp xen với bình. Giảng có
thể có, có thể không nhưng nhất thiết phải có bình, nhất thiết phải phân tích giá
trị văn học của ngôn ngữ nghệ thuật. Giáo viên phải biết chọn để bình, chọn lọc
cách bình và tốt nhất là phải biết dừng lại đúng lúc, đúng chỗ để cho học sinh tự
suy nghĩ, liên tưởng, mộng mơ.
Ví dụ: Dạy đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Trích truyện Kiều –
Nguyễn Du) ở Ngữ văn 9 - Tập 1.
Giáo viên đọc hoặc mời một học sinh đọc tốt, diễn cảm 6 câu đầu:
Trước lầu ngưng Bích khóa xuân
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 11
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Giáo viên nêu câu hỏi cho các em: Hãy giảng giải sáu câu thơ ấy để thấy rõ tâm
trạng của Thúy Kiều lúc này “Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng”? Sau khi
đã có một số ý kiến phân tích, giảng giải của học sinh, giáo viên có thể giảng

Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Cảnh vật thiên nhiên thật là khoáng đạt và ngoạn mục song Kiều không
thấy một sự hòa nhập nào với cảnh, chỉ thấy “bẽ bàng” chua xót. Trong cảnh
ấy, nàng chỉ thấy cồn lên một nỗi nhớ, nỗi chua xót, nỗi buồn lo mênh mông
sâu thẳm trước những cơn tai biến dữ dội vừa ập lên cuộc đời nàng và chưa thôi
thách thức đe dọa.
Để hướng dẫn học sinh tìm hiểu tâm trạng trong thơ trữ tình, giáo viên có
thể dùng biện pháp gợi mở với một hệ thống câu hỏi. Bằng con đường đàm
thoại, gợi mở, giáo viên sẽ tạo cho lớp học một không khí thoải mái để tìm sự
đồng cảm với nhân vật trữ tình. Hoặc giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông
tin như cho các em theo dõi một đoạn video clip trên máy chiếu, nghe một đoạn
ca khúc có liên quan tới nội dung tác phẩm trữ tình đang dạy, từ đó học sinh
trình bày cảm nhận về tâm trạng của nhân vật trữ tình. Cũng có thể dùng biện
pháp so sánh đối chiếu. So sánh để làm sáng tâm trạng điển hình của nhân vật
trữ tình.
Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong “Viếng lăng Bác” như được hiện
dần lên qua các hình ảnh:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 13
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Có khi như ngược lại mà rất thân mật:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Tâm trạng cảm xúc trong bài thơ phải là những tâm trạng cảm xúc rất

Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
chính là một sự miêu tả trực tiếp khung cảnh thiên nhiên. Hình ảnh trên là nhân
tố trực tiếp của nội dung.
Hình ảnh có khi có được qua sự so sánh. Ví như trong bài thơ “Mùa
xuân nho nhỏ” (Thanh Hải, Ngữ Văn 9 - Tập 2) có hình ảnh rất đặc sắc:
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Hình ảnh “đất nước” được so sánh với “vì sao”, sự so sánh đó tạo nên
hình ảnh đất nước rất khiêm nhường nhưng cũng rất tráng lệ. Là một vì sao
nhưng ở vị trí đi lên phía trước dẫn đầu, đó là hình ảnh tiên phong của cách
mạng Việt Nam, của đất nước Việt Nam trong lịch sử thế giới.
-Tìm hiểu thơ trữ tình không thể không tìm hiểu ngôn ngữ thơ. Thơ là
tiến nói hàm xúc cô đọng nhưng lại có sức vang ngân. Ngôn ngữ thơ quan trọng
đến mức một câu thơ có thể biểu hiện được một ý nghĩ lớn. Một chữ có thể biểu
hiện được một tình cảm lớn. Một chi tiết có thể biểu hiện được cả một sự kiện.
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 15
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
Lưu Hiệp trong “ Văn tâm điêu long” từng viết: “ Tính tình là sợi dọc của văn
từ. Văn từ là sợi ngang của tính tình. Sợi dọc có xác định mới dệt được sợi
ngang vào. Tính tình có xác định, văn từ mới thông suốt. Đó là căn bản của việc
làm văn. Cho nên vận dụng lời văn là đẻ làm sáng tỏ nghĩa lí. Lời văn lòe loẹt
quái dị, tư tưởng tình cảm càng bị che mờ. Cũng như câu cá mà lấy lông trả làm
dây, sâm nhung làm mồi thì làm sao câu được cá”.
Ngôn ngữ có được từ cuộc sống của nhân dân, là mượn ở cuộc sống.
Nhưng phải sàng sẩy gạn đục khơi trong, lọc lại cho chính xác, tinh vi, mới mẻ
thì hình tượng thơ mới giàu, cảm xúc thơ mới có được. Ngôn ngữ trong thơ tuy

như sau:
Mức độ học tập, cảm thụ tác
phẩm trữ tình của học sinh.
Số lượng Tỷ lệ phần trăm
Mức độ tốt 10 28,6%
Mức độ khá 22 62,8%
Mức độ trung bình 3 8,6%
Mức độ yếu 0 0

Như vậy so với đầu năm điều tra tôi thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt. Kết
quả cho thấy mức độ học tập, cảm thụ tác phẩm trữ tình của học sinh được
nâng cao. Mức độ tốt là 10 học sinh chiếm tỷ lệ 28,6%, khá là 22 học sinh
chiếm tỷ lệ 62,8%, trung bình chỉ còn 03 học sinh chiếm tỷ lệ 8,6%. Và đặc biệt
mức độ yếu đã không còn. Đây là một kết quả rất đáng phấn khởi.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Sau khi nghiên cứu, thực hiện đề tài “ Một số biện pháp giúp học sinh học
tốt tác phẩm trữ tình”, tôi rút ra bài học kinh nghiệm như sau:
1. Trước hết giáo viên phải nắm bắt kịp thời, điều tra, thống kê chính xác
mức độ học tập, cảm thụ tác phẩm trữ tình của học sinh.
2. Cung cấp hệ thống toàn bộ các vấn đề về phương pháp, cách thức học
tập, cảm thụ cho các em.
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 17
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
3. Người giáo viên phải kiên trì, thường xuyên hướng dẫn các em trong quá
trình tiếp nhận, lĩnh hội tác phẩm trữ tình.
4. Động viên, tuyên dương thật kịp thời các em khi các em có những cảm
nhận tốt, những bài viết hay. Khuyến khích các em tích cực luyện tập,
thực hành.
5. Ngoài ra, để mức độ học tập, tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm trữ tình được
tốt, giáo viên phải thực sự trau dồi, vun đắp kiến thức, trình độ chuyên

khảo liên quan đến vấn đề dạy – học tác phẩm trữ tình trong nhà trường
THCS. Tổ chức các buổi ngoại khóa, các câu lạc bộ văn học cho các em
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 19
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình
giao lưu, tìm hiểu, cảm thụ về thơ văn. In ấn các tập san do các em làm tác
giả để các em được trao đổi với nhau.
Đối với tổ chuyên môn: Tổ chức các chuyên đề, hội thảo xoay quanh vấn
đề trên để giáo viên bộ môn cùng nhau trao đổi, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ.
Đối với phụ huynh: Cần tạo mọi điều kiện tốt nhất và quan tâm nhiều
hơn nữa đến việc học tập của con em mình. Đặc biệt thường xuyên liên hệ
với giáo viên để nắm bắt tình hình học tập của con em, từ đó có các biện
pháp giáo dục kết hợp phù hợp.
Trên đây là sáng kiến nhỏ của tôi về vấn đề hướng dẫn học sinh học tốt
hơn tác phẩm trữ tình ở trường THCS. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất
định, song không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp để đề tài thêm phong phú và có
hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tuyết Nghĩa, ngày 8 tháng 5 năm 2014
Người viết
Bùi Thị Thanh Huyền
GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 20
Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Tác phẩm trữ tình GV: Bùi Thị Thanh Huyền – Trường THCS Tuyết Nghĩa – Quốc Oai 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status