CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Gia Phú, ngày 20 tháng 03 năm 2011
Họ và tên tác giả: Phùng Thị Ngọc Khanh
Sinh ngày: 6 tháng 7năm 1977
Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn văn sử
Nơi công tác: Trường THCS số 2 Gia Phú
Trình độ chuyên môn: Đại học văn
Các điều kiện chủ yếu để xét công nhận sáng kiến như sau:
1. Tên sáng kiến (được gọi là giải pháp hữu ích): Tìm hiểu cách tóm tắt tác phẩm văn
học và cách dạy bài nghị luận theo sơ đồ trong dạy học ngữ văn THCS
2. Mô tả giải pháp:
Phần I
LỜI NÓI ĐẦU
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đến nay qua nhiều năm công tác và giảng dạy môn Ngữ Văn ở THCS, nắm bắt
và tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THCS, độ tuổi từ 11 đến 15 – lứa tuổi thiếu
niên; chuyển tiếp từ thơ ấu lên trưởng thành, vẫn mang tính trẻ con nhưng lại muốn
tập làm người lớn. Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ đến mức thiếu cân đối cả về cơ
thể, thể chất, tâm lý, trí tuệ. Nên việc đổi mới phương pháp dạy học ở THCS theo
hướng phát huy tích cực chủ động của học sinh cần chú ý đến hoạt động học tập của
các em. Động cơ học tập của các em rất đa dạng và chưa bền vững, biểu hiện ở
những thái độ nhiều khi mâu thuẫn, từ rất tích cực đến thờ ơ lười biếng, từ nỗ lực học
tập độc lập đến thụ động học thuộc lòng từng câu từng chữ, hứng thú rõ rệt đối với
môn học này nhưng không hào hứng với môn học khác. Lý do rất đơn giản chỉ vì
giáo viên môn học đó dạy hay, hấp dẫn. Như vậy, để giúp các em có động cơ học tập
đúng đắn thì tài liệu học tập phải có nội dung khoa học súc tích, phải gắn với thực
tiễn cuộc sống. Giáo viên biết gợi cho học sinh nhu cầu tìm hiểu, phải giúp các em có
phương pháp học tập phù hợp để tránh bị thất bại, gây tâm lý chán nản.
Một trong những biện pháp tốt để thu hút sự chú ý của các em là tổ chức các
hoạt động học tập cho hợp lý, không có thời gian nhàn rỗi bị phân tán. Song cần chú
III- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 9 nhiều năm cho thấy muốn đảm bảo kết quả dạy
học và thu hút sự chú ý học tập của các em học sinh vào môn học Ngữ Văn thì việc
dạy học theo hướng sơ đồ hóa phải đảm bảo những yêu cầu:
(1) Học sinh phải chủ động trực tiếp tiếp xúc văn bản.
(2) Xác định được nhân vật trong mỗi tác phẩm văn học.
(3) Xác định được luận điểm, luận cứ trong bài nghị luận.
IV- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu là học sinh bậc trung học cơ sở
2. Phạm vi nghiên cứu phân môn văn học và tập làm văn
- Văn học: Cách tóm tắt tác phẩm văn học văn xuôi theo hệ thống sơ đồ
- Tập làm văn: Hệ thống các luận điểm trong kiểu bài nghị luận về tác phẩm
truyện hoặc đoạn trích.
V- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Hướng dẫn trao đổi
2. Hoạt động nhóm
3. Kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm
Phần II
CÁC NỘI DUNG THỰC HIỆN
CHƯƠNG I- CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lâu nay ở phân môn Ngữ Văn vẫn thường tìm hiểu kiến thức liên kết của ba
mảng: Văn, tiếng việt, tập làm văn. Có một điều thuận lợi trong sách giáo khoa Ngữ
Văn đổi mới là người học có khả năng tìm hiểu theo chiều sâu. Có nghĩa với một tác
phẩm văn học, có thể nghiên cứu trong giờ học văn, lại có thể tìm hiểu trong tiết học
tập làm văn và cả trong giờ tiếng việt. Điều đó rất thuận lợi trong việc khắc sâu kiến
thức, khả năng ghi nhớ kiến thức văn học cho học sinh. Nhưng sẽ rất khó khăn nếu
như học sinh lại chưa nắm bắt được cốt lõi của tác phẩm văn học, chưa nắm được hệ
thống nhân vật cũng như chưa thể tóm tắt được tác phẩm văn học đó. Chính vì vậy,
để học sinh có khả năng tóm tắt được tác phẩm văn học thì giáo viên trên cơ sở
hướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu nên kết hợp với sơ đồ hoá kiến thức trong việc tóm
* Thứ ba: Sau khi đã chủ động tìm hiểu tác phẩm văn học, học sinh nắm bắt
được nhân vật trong tác phẩm. Trước tiên phải nhớ tên nhân vật, đặt nhân vật trong
tuyến nhân vật chính diện ( tốt ) hay nhân vật phản diện ( xấu ). Rồi xâu chuỗi nhân
vật thông qua các sự việc, tình tiết chính trong tác phẩm. Cần phải có những câu hỏi :
Nhân vật này làm gì? Có hành động và suy nghĩ ra sao? Có phẩm chất tốt đẹp gì để
mọi người học tập?
Như vậy, qua thực tế giảng dạy và tiếp xúc với học sinh, cùng những tìm tòi,
khám phá trong các giờ học với những bước tiến hành chặt chẽ như trên việc giúp
học sinh tóm tắt, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương là một việc làm thật đơn giản. Đa
số các em sẽ biết cách chủ động tìm hiểu tác phẩm và điều cơ bản tư tưởng ngại và sợ
sẽ dần xoá nhoà trong tâm trí học sinh, giúp các em tự tin, thoải mái khi đến với môn
học Ngữ văn .
CHƯƠNG III- TRIỂN KHAI SÁNG KIẾN
1. Nhận thức khi áp dụng cách dạy tóm tắt tác phẩm văn học theo sơ đồ
trong môn Ngữ văn ở THCS
Khi dạy tiết 62 văn bản, Làng ( Ngữ văn 9, tập 1 ), giáo viên phải hướng dẫn
học sinh về đọc trước văn bản. Nghĩa là học sinh phải chủ động tìm hiểu, tiếp xúc
trực tiếp với văn bản. Sau khi đã đọc và nắm bắt được nhân vật chính là ai? Tâm
trạng và những suy nghĩ như thế nào? Trong hoàn cảnh phải rời làng đi tản cư tâm
trạng của ông nhân vật ông Hai bộc lộ ra sao? Khi nghe tin làng theo giặc thì đau
khổ, dằn vặt như thế nào? Khi tin làng cải chính thì vui mừng háo hức? … Từng tình
huống, từng hoàn cảnh bám sát và chỉ ra theo tiến trình như vậy các em sẽ dần dần
hoàn thành kiến thức và có khả năng tóm tắt dễ dàng theo hệ thống sơ đồ.
Trong giờ học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đứng lên tóm tắt văn bản
bằng lời hoặc học sinh trình bầy cách tóm tắt bằng sơ đồ như sau: Nhân vật chính: Ông Hai
Ở vùng tản cư, ông luôn nhớ và kể chuyện về làng chợ
Dầu
Nét cao quý, khâm phục qua nhân vật anh thanh niên để
lại trong chúng ta những ấn tượng khó phai mờ.
Lòng yêu đời, yêu
nghề, tinh thần trách
nhiệm cao trước
công việc gian khổ
của mình.
Lòng hiếu khách,
quan tâm đến người
khác chu đáo.
Sự khiêm tốn của
anh thanh niên.
( Luận điểm 1) ( Luận điểm 2) ( Luận điểm 3)
Cuộc sống của chúng ta làm nên từ bao phấn đấu hy sinh lớn
lao và thầm lặng. Những con người cần mẫn, nhiệt thành như
anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu.
( Khái quát vấn đề nghị luận )
Với cách thức sơ đồ hoá như trên, học sinh sẽ có khả năng nắm bắt hệ thống
luận điểm, luận cứ và khái quát kiến thức dễ dàng. Giúp các em có hướng xây dựng
luận điểm cũng như triển khai luận điểm khi làm bài văn nghị luận.
Phần III
KẾT LUẬN
Qua quá trình giảng dạy môn Ngữ Văn trong trường THCS và quá trình
tiếp thu, lĩnh hội, nghiên cứu phương pháp dạy học đổi mới. Tự bản thân tôi
thấy có những vấn đề bất cập, trước kết quả và thực trạng giảng dạy của người
giáo viên và hướng tiếp thu lĩnh hội kiến thức ở học sinh. Xuất phát từ điều trăn
trở ấy, bản thân tôi đã đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ về cách tóm tắt tác
phẩm văn học và cách dạy bài nghị luận theo sơ đồ ở môn Ngữ Văn.
Kiến thức môn Ngữ Văn thật đa dạng, phong phú, việc tiếp thu và nhận
thức mỗi tác phẩm là vấn đề khá phức tạp nên chúng ta cần phải suy nghĩ sắp
Với cách 1: Yêu cầu học sinh làm ra giấy kiểm tra 15phút. Thu chấm kết quả như
sau:
TS HS Giỏi Khá TB Yếu Kém
28 0 10 16 2 0
Với cách 2: Học sinh có thể đạt được kết quả 96% TB trở lên.
* Ở Lớp 9A1: tiết Ngữ Văn 67, 68 khi học văn bản “ Lặng lẽ Sa Pa ” giáo viên yêu
cầu học sinh: Tóm tắt văn bản “ Lặng lã Sa Pa ” theo hệ thống sơ đồ của em.
+ Lớp 9A1, tiết Ngữ văn 67, 68 khi học xong văn bản “ Lặng lẽ Sa Pa”, giáo viên yêu
cầu học sinh: Tóm tắt văn bản Lặng lẽ Sa Pa theo hệ thống sơ đồ?
Học sinh làm trên giấy 10 phút, giáo viên thu bài chấm, kết quả:
Lớp TS HS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
9A1 31 7 14 10 0 0
+ Lớp 9A2, tiết Ngữ văn 72, 73 khi học xong văn bản “ Chiếc lược ngà”, yêu cầu học
sinh: Tóm tắt văn bản Chiếc lược ngà theo hệ thống sơ đồ?, kết quả:
Lớp TS HS Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
9A2 26 5 10 11 0 0
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1. Đối với giáo viên
Qua thực tế giảng dạy, điều quan trọng đối với giáo viên là nghiên cứu soạn
giảng đúng phương pháp, phù hợp với đặc trưng của phân môn. Không làm trừu
tượng hóa kiến thức mà phải đơn giản hoá, cụ thể hoá lượng kiến thức phù hợp với
đối tượng học sinh cũng như phù hợp, vừa sức với trình độ và nhận thức của học
sinh. Kiến thức đến với học sinh phải rõ ràng, mạch lạc, dễ nhớ, dễ làm và kích thích
tư duy tưởng tượng của học sinh. Hướng dẫn học sinh chu đáo trong quá trình chuẩn
bị bài trước khi tiếp thu kiến thức mới.
2. Đối với học sinh
- 100% học sinh phải chuẩn bị bài cũ, làm và soạn bài mới theo hệ thống câu
hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn, chỉ bảo của giáo viên bộ môn.
- Tự giác học tập, nghiên cứu, luôn hệ thống được nội dung kiến thức trong
các bài học.
III- Tổ chức các hoạt động dạy học .
HĐ1 - Khởi động :
- Mục tiêu: Giới thiệu bài nghị luận về
tác phẩm truyện, đoạn trích.
- Thời gian:
- Cách tiến hành: Giáo viên dẫn dắt:
Trong chương trình Ngữ Văn lớp 9, các
em được tìm hiểu bài nghị luận về 1 sự
việc hiện tượng đời sống và nghị luận 1
vấn đề tư tưởng đạo lý. Hôm nay chúng
ta sẽ đi tìm hiểu thêm một dạng nghị luận
về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích )
HĐ2.HD học sinh tìm hiểu kiến thức
- Mục tiêu: Phân tích kiểu bài nghị luận
về tác phẩm truyện, đoạn trích.
- Thời gian:
- Đồ dùng: Bảng phụ, bút dạ, phiếu học
tập.
- Cách tiến hành:
Học sinh đọc bài văn theo từng phần .
H. Văn bản trên có mấy phần? Là những
phần nào?
+ 3 phần : - MB: đoạn 1
- TB : đoạn 2 , 3 , 4
- KB : đoạn 5
H. Phần mở bài trong văn nghị luận
thường có nhiệm vụ gì?
+ MB có nhiệm vụ nêu vấn đề nghị luận.
H. Vậy vấn đề nghị luận của mở bài
trong văn bản trên là gì?
Nét cao quý, khâm phục qua nhân vật anh thanh niên để
lại trong chúng ta những ấn tượng khó phai mờ.
Lòng yêu đời, yêu
nghề, tinh thần trách
nhiệm cao trước
công việc gian khổ
của mình.
Lòng hiếu khách,
quan tâm đến người
khác chu đáo.
Sự khiêm tốn của
anh thanh niên.
( Luận điểm 1) ( Luận điểm 2) ( Luận điểm 3)
Cuộc sống của chúng ta làm nên từ bao phấn đấu hy sinh lớn
lao và thầm lặng. Những con người cần mẫn, nhiệt thành như
anh thanh niên ấy thật đáng trân trọng, thật đáng tin yêu.
( Khái quát vấn đề nghị luận )
LC
1
LC
2
LC
n
… LC
1
LC
2
LC
- Nhận xét, đánh giá phải xuất phát từ
cốt truyện, tính cách, số phận nhân
vật và nghệ thuật của tác phẩm.
TB
trải bàn. Thời gian 5 phút.
N1:Tìm lý lẽ dẫn chứng trong LĐ1?
Nhận xét gì về luận cứ được người viết
đưa ra làm sáng tỏ LĐ1 ?
N2: Tìm lý lẽ dẫn chứng trong LĐ2?
Nhận xét gì về luận cứ được người viết
đưa ra làm sáng tỏ LĐ2 ?
N3 : Tìm lý lẽ dẫn chứng trong LĐ3?
Nhận xét gì về luận cứ được người viết
đưa ra làm sáng tỏ LĐ3 ?
HS báo cáo kết quả theo nhóm .
GV nhận xét, hỏi:
H. Vậy để làm sáng tỏ từng luận điểm,
người viết phải sử dụng luận cứ như
thể nào?
H. Bố cục bài nghị luận tác phẩm
truyện ( hoặc đoạn trích ) được thể
hiện như thế nào ?
H. Như vậy qua bài tập , em hiểu gì về
kiểu bài nghị luận tác phẩm truyện
( hoặc đoạn trích )?
H. Yêu cầu về luận điểm, luận cứ và
bố cục như thế nào?
HS trả lời theo ý hiểu
1 HS đọc ghi nhớ .
HĐ3: HD học sinh luyện tập .
sáng tỏ nhân cách đáng kính trọng,
một tấm lòng hy sinh cao quý của
người cha – người nông dân nghèo
lương thiện .
IV – Củng cố kiến thức
H. Hiểu thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ?
H. Yêu cầu về luận điểm, luận cứ, và bố cục trong bài nghị luận đó ?
H. Những đánh giá, nhận xét trong bài nghị luận được xuất phát từ đâu ?
V – Hướng dẫn học tập
* Bài cũ : Xem lại nội dung bài học, học kĩ ghi nhớ. Xem lại bài tập
( 63+64).
* Bài mới : - Chuẩn bị tập làm văn : Cách làm bài nghị luận tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích .
- Đọc, trả lời hệ thống câu hỏi và bài tập trong SGK ( 65)
- Chuẩn bị kĩ đề bài trong SGK ( 68)
3. Tính mới của giải pháp (trong phạm vi nào)
- Hình thành được kĩ năng tóm tắt và nắm bắt tác phẩm văn học
- Tạo được tư duy lô gíc khi học bài nghị luận
4. Hữu ích của giải pháp (Kết quả áp dụng giải pháp mang lại trong thực hiện chức
năng, nhiệm vụ được giao về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ):
Tạo hứng thú học tập cho học sinh đồng thời thúc đẩy quá trình tư duy và nhận
thức của học sinh một cách hệ thống
5. Khả năng phổ biến và nhân rộng:
Áp dụng đối với học sinh trong môn ngữ văn ở trường THCS
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN CẤP TRÊN NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
(ký, ghi rõ họ và tên)
Phùng Thị Ngọc Khanh