Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
PHÒNG GD & ĐT ĐÀ LẠT
TRƯỜNG MẦM NON I
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ NGHỊ TẶNG THƯỞNG DANH HIỆU “CHIẾN SĨ THI ĐUA CẤP TỈNH”
NĂM HỌC 2015 – 2016
Phần I: Mở đầu
1. Họ và tên tác giả đề tài Sáng kiến kinh nghiệm (GPHI): Nguyễn Thị Hương Thủy
2. Chức vụ: Phó hiệu trưởng
3. Đơn vị công tác: Trường Mầm non I – Đà Lạt
4. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết tai nạn thương tích (TNTT) xảy ra với trẻ em hiện nay đang là
vấn đề y tế công cộng cần được quan tâm, theo ước tính của Tổ chức y tế Thế giới, hàng
năm có khoảng hàng triệu trẻ em tử vong bởi các nguyên nhân có thể phòng tránh được
trong đó có nguyên nhân TNTT góp phần đáng kể. Với mỗi trường hợp tử vong do TNTT
có hàng ngàn trẻ phải sống tàn tật ở các mức độ khác nhau. TNTT tử vong và tàn tật do
thương tích gây gánh nặng lớn đối với bản thân, gia đình và xã hội. TNTT xảy ra ở trẻ em
hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu có chiến lược can thiệp phù hợp, loại bỏ các yếu
tố nguy cơ gây TNTT và nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống TNTT được đánh giá
là các biện pháp hiệu quả.
Vấn đề TNTT xảy ra với trẻ là hết sức nguy hiểm, gây ra nhiều nỗi lo âu và sợ hãi đối
với các bậc phụ huynh, là nỗi trăn trở băn khoăn của các nhà quản lý giáo dục. Lý giải
cho chúng ta thấy nguyên nhân dẫn đến TNTT đó là: Do đặc điểm tâm sinh lý của các em
đang trong thời kỳ phát triển mạnh, cơ thể của các em có một số bộ phận phát triển chưa
hoàn chỉnh đặc biệt là hệ vận động, trẻ hiếu động thích khám phá thế giới xung quanh,
đạo.
Bản thân luôn trăn trở làm thế nào để các cháu được đảm bảo an toàn tính mạng khi ở
trường cũng như lúc ở nhà và trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày của trẻ, được bảo vệ
an toàn nhất đó là lý do tôi chọn đề tài “Xây dựng trường học an toàn phòng chống
TNTT cho trẻ ở trường mầm non”.
5. Giới hạn (phạm vi nghiên cứu):
Lĩnh vực mà tôi nghiên cứu nằm trong phạm vi phòng chống TNTT cho trẻ trong độ
tuổi từ 24 đến 72 tháng tuổi tại trường mầm non I Đà Lạt.
6. Thời gian nghiên cứu:
- Giai đoạn 1 bắt đầu từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 9/2015.
- Giai đoạn 2 từ đầu tháng 10/1015 đến cuối tháng 3/2016.
- Kết thúc vào tháng 5/2016.
Phần II: Nội dung đề tài “Xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ ở trường mầm non”:
1. Thực trạng những thuận lợi khó khăn, nguyên nhân chủ quan, khách quan và sự
cần thiết của việc “Xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ ở trường mầm non”:
+ Thực trạng chung:
Trường mầm non I được xây dựng ở khu đông dân cư khang trang, sạch đẹp nên
thuận lợi cho việc đưa đón các cháu. Trường gồm 3 điểm, điểm khu qui hoạch Hải
Thượng, là điểm chính được đầu tư xây dựng Trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức
độ 1.
Đội ngũ CBQL, giáo viên và nhân viên: có 39 người; trong đó CBQL có 2 người,
giáo viên có 25 người, nhân viên kế toán+y tế 2 người, nhân viên nấu ăn 8 người, bảo vệ
2 người. Với đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ, khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt, có
trình độ chuyên môn khá vững chắc, có nhiều người đã có thành tích cao trong quá trình
công tác và giảng dạy được UBND Thành phố tặng giấy khen; tập thể nhà trường được
công nhận thể lao động tiên tiến
Trong mấy năm học gần đây vấn đề “Xây dựng trường học an toàn, phòng, tránh
tai nạn thương tích cho trẻ” luôn được lãnh đạo nhà trường quan tâm, tổ chức thực hiện
Việc đảm bảo an toàn tính mạng cho trẻ khi ở trường tạo được niềm tin trong nhân
dân, thể hiện qua việc cho trẻ đến lớp, chăm lo xây dựng cơ sở vật chất (CSVC), trang
thiết bị được bổ sung, góp phần cùng nhà trường đưa công tác giáo dục Mầm Non tại địa
phương ngày càng phát triển vững chắc.
+ Khó khăn:
- Mức độ hiểu biết của một số giáo viên trong quá trình chăm sóc trẻ còn chưa vận
dụng sáng tạo các kiến thức, kỹ năng, thái độ về phòng chống TNTT cho trẻ mầm non.
- Khả năng tuyên truyền đến các bậc phụ huynh của giáo viên còn hạn chế chưa
đồng bộ. Luật chăm sóc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em đã được Công ước Quốc tế
qui định, Quốc Hội thông qua, nhưng việc thực hiện tại các địa phương chưa được quan
tâm triệt để.
- Mặc dù được quán triệt thường xuyên song trong quá trình chăm sóc bảo vệ trẻ
một số giáo viên vẫn còn có những sơ suất đáng tiếc như khả năng bao quát trẻ trong giờ
chơi tự do, hoặc giáo viên tranh thủ giải quyết việc riêng ảnh hưởng đến việc bảo vệ an
toàn tính mạng cho trẻ.
- Một số phụ huynh làm nghề tự do, làm vườn, buôn bán nên ít có thời gian quan
tâm đến con em mình và chưa nắm được một số kiến thức cơ bản về đảm bảo an toàn,
phòng chống TNTT cho trẻ, chưa quan tâm con, luôn gởi người đưa đón con đi học dùm,
thường hay ghé lại các hàng quán mua quà vặt nên trẻ luôn có quà vặt ăn trong cặp, trẻ
ngồi trên xe máy khi tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm.
- Công tác chăm sóc giáo dục phòng chống TNTT cho trẻ qua sổ bé ngoan của trẻ
chưa được phụ huynh quan tâm đúng mức. Nhiều phụ huynh không theo dõi sự tiến bộ
hay chưa tiến bộ của con mình qua phần đánh giá nhận xét của giáo viên chủ nhiệm của
nhà trường.
- Trẻ nhỏ, hiếu động nên ý thức tự bảo vệ mình còn hạn chế, chủ yếu trẻ hành
động bằng bản năng, chú ý không chủ định chiếm ưu thế nên việc tiếp thu kiến thức, kỹ
năng trong phòng tránh TNTT cho mình còn là hành vi bắt chước, trẻ chưa hiểu vì sao
mình lại phải thế này, thế kia.
+ Nguyên nhân chủ quan:
Do chính những người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng trẻ như một số giáo viên
người tham
gia
STT
Đối tượng
1
Giáo viên + cô
nấu ăn+NVy tế
2
3
Kiến thức, kỹ năng thực hành, thái độ phòng chống TNTT
Kiến thức về phòng
chống TNTT
Kỹ năng thực hành
phòng chống TNTT
Thái độ phòng
chống TNTT
34
(25GV+8cô
Nấu
ăn+1ytế)
122 chưa
hoàn
thành
247 tốt
90 chưa
tốt
Học sinh mẫu
giáo
337
127 tốt
210
chưa tốt
102
hoàn
thành
235 chưa
hoàn
thành
126 tốt
đủ
- Tham mưu với hiệu trưởng chỉ đạo
giáo viên rà soát lại các đồ dùng, đồ
chơi, loại bỏ đồ dùng đồ chơi nguy
hiểm, hư hỏng và sơn lại đồ chơi
ngoài trời nhằm đảm bảo an toàn
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
Đánh giá kết quả
- Thực hiện tốt
- Loại bỏ cầu
tuột và xích đu bị
hư hỏng
4
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
- Làm biển cấm ở các ổ
điện tại các nhóm, lớp.
- Kiểm tra các bình PCCC
Tháng 9
- Khám sức khỏe lần 1
- Cân đo chấm biểu đồ sức
khỏe cho trẻ quí 1
- Bồi dưỡng thường xuyên
nội dung: Qui chế nuôi
thông tư 13 XD trường
học an toàn, kiến thức, kỹ
năng và thái độ phòng
chống TNTT cho đội ngũ
- Thực hành kỹ năng một
số tai nạn thương tích
tính mạng cho trẻ
- Kiểm tra giáo viên thực hiện để
góp ý kịp thời
- Phối hợp với công an PCCC Thành
Phố kiểm tra, bảo quản và thay bột
khô các bình
- Liên hệ trạm y tế phường 1 để tổ
chức khám sức khỏe cho trẻ đầu
năm
- Theo dõi giáo viên cân đo và chấm
biểu đồ cho trẻ trai và trẻ gái
- Chuẩn bị tài liệu, hình ảnh, nội
dung bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng,
thái độ phòng chống tai nạn thương
tích cho trẻ, nội dung Thông tư 13
và qui chế nuôi dạy trẻ
- Thực hiện tốt
- Thay 8 bình bột
khô
- Khám 359/362
trẻ
sinh tốt, tiếp tục
rèn kỹ năng các
thao tác cho trẻ
- BGH và y tế tham gia chấm điểm
vệ sinh môi trường 12 nhóm lớp
- 12/12 nhóm lớp
đạt tốt
- Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thái
độ phòng chống tai nạn thương tích
cho trẻ, nội dung thông tư 13, qui
chế nuôi dạy trẻ
34 giáo viên, cô
nấu ăn, nhân
viên y tế tham
gia học tập
nghiêm túc
- Tổ chức cho giáo viên, cô nấu ăn
thực hành theo nhóm, một số TNTT
- GV và cô nấu
ăn có kỹ năng
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
39/39 CC-VC ký
- Kiểm tra sổ theo dõi gởi
thuốc của phụ huynh ở các
lớp
- Tiếp tục bồi dưỡng kiến
thức, kỹ năng, thái độ
phòng chống TNTT cho
trẻ
thường xảy ra: Phòng bỏng, phòng
thực hành tốt
chết đuối, phòng thất lạc, phòng điện
giật, phòng hóc sặc, dị vật đường
thở, côn trùng cắn…
- Chuẩn bị tài liệu và phối hợp với
- Bồi dưỡng 337
giáo viên các lớp tổ chức bồi dưỡng trẻ mẫu giáo
vào giờ hoạt động góc, hoạt động
ngoài trời.
- Thu thập thông tin, Xác định các
nguy cơ xảy ra tai nạn tất cả các vị
trí của trường, xây dựng phương án
phòng tránh. Lên nội dung tuyên
truyền cho giáo viên, phụ huynh
- Theo dõi và
thực hiện tốt
- Kiểm tra phụ huynh gởi thuốc, yêu
cầu phụ huynh ghi rõ tên người gởi,
thơi gian uống, liều uống, có chữ ký
ngày cận tết và sau tết
- Tổ chức cho đội ngũ thực hành các
thao tác sơ cấp cứu
- Xây dựng bài tuyên truyền các kỹ
năng PTTNTT cho giáo viên, lồng
ghép vào Họp hội đồng.
- Phát thanh cho phụ huynh nắm rõ,
thời gian phát thanh vào lúc trả trẻ.
- Dán nội dung tuyên truyền ở bảng
tin
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
- Bồi dưỡng 337
trẻ mẫu giáo
Thực hiện theo
kế hoạch tốt
- Tổng 363 trong
đó. SDD nhẹ:
6(giảm 6 trẻ so
với đầu năm)
Thấp còi độ 1:
20 (giảm 12 trẻ
so với đầu năm).
SDD toàn diện 6
(giảm 6 trẻ)
- Kỹ năng thực
- Giáo dục kỹ năng
PTTNTT cho trẻ
- Kiểm tra chất lượng thực phẩm
xem có tươi, mới, đủ số lượng, có
nguồn gốc xuất xứ. thực hiện chế
biến đúng theo qui trình bếp 1 chiều
để đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phầm cho trẻ.
- Tổ chức cho đội ngũ thực hành các
thao tác sơ cấp cứu
- YTế phối hợp giáo viên, giáo dục
cho trẻ các kỹ năng phòng tránh, trẻ
biết tự bảo vệ bản thân,
- Kiểm tra việc tổ chức giờ - Kiểm tra độ nóng của thức ăn mới
ăn cho trẻ
được mang vào lớp và cho trẻ ăn
mục đích phòng bỏng cho trẻ
- Chỉ đạo giáo viên kiểm
- Kiểm tra phân loại và có ý kiến
tra độ an toàn trang thiết
tham mưu với Hiệu trưởng sữa chữa
bị đồ dung, đồ chơi trong
kịp thời
ngoài lớp
- Thực hành sơ cứu các
- y tế phối hợp với giáo viên để thực
trường hợp tai nạn thương hành sơ cấp cứu cho trẻ
tích
vặn lại ốc vít cầu
tuột, xích đu
Giáo viên có kỹ
năng tốt
39/39 CC-VC
tham dự
- Tổng 357 trong
đó. SDD nhẹ:
6(giảm 6 trẻ so
với đầu năm)
Thấp còi độ 1:
15 (giảm 17 trẻ
so với đầu năm).
SDD toàn diện 6
(giảm 6 trẻ)
Khảo sát trẻ, phụ huynh và giáo viên
về kiến thức, kỹ năng và thái độ
phòng chống TNTT
Thực hiện tốt
(kết quả ở bảng
khảo sát tháng
4/2016)
- Liên hệ Bệnh viện Đa Khoa Dà lạt
để tổ chức khám sức khỏe cho trẻ
lần 2
- Tuyên truyền bệnh “tay – - Dán nội dung ở bảng tin và phát
chân – miệng”
- Họp và đánh giá 1 nội dung không
đạt (Cây cổ thụ, cây xanh che bóng
mát)
- BGH và y tế tham gia chấm điểm
vệ sinh môi trường 12 nhóm lớp
với đầu năm)
Thấp còi độ 1: 11
(giảm 21 trẻ so
với đầu năm).
SDD toàn diện 1
(giảm 11 trẻ so
với đầu năm)
- 67/68 nội dung
đạt
- 12/12 nhóm,
lớp đạt tốt
Triển khai kế hoạch đến tất cả cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường;
căn cứ kế hoạch thực hiện. Tổ chức sơ kết, tổng kết mỗi học kỳ và cuối năm học theo yêu
cầu chung. Việc xây dựng kế hoạch phải phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường
(Xem phụ lục 1, xây dựng kế hoạch năm).
Từ đó thành lập ban chỉ đạo trong nhà trường và triển khai thực hiện kế hoạch
nghiêm túc. Bản thân tôi là trưởng ban chỉ đạo tôi luôn cập nhật thường xuyên các văn
bản, thông tư hướng dẫn chỉ đạo của cấp trên theo ngành dọc và các cơ quan phối hợp với
chính quyền địa phương. Vận dụng phù hợp với hoàn cảnh thực tế của nhà trường, đề ra
những nội dung việc làm cụ thể, cách thực hiện và kết quả theo dõi thực hiện đạt đến
huấn thông tư 13/2010/TT-BGDĐT ngày 15/4/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống TNTT trong cơ sở giáo dục
mầm non. Tập huấn kiến thức về qui chế nuôi dạy trẻ, các phòng chống TNTT thường
gặp để phòng tránh cho trẻ, qua buổi học tất đội ngũ nhận thức được tầm quan trọng của
việc cần đảm bảo an toàn tính mạng cho trẻ trong nhà trường và toàn xã hội. Được thực
hành các kỹ năng sơ cấp cứu 1 số TNTT thường gặp như: Ngộ độc thức ăn, dị vật đường
thở, bỏng, đuối nước, trầy xước tay, chân....
Nếu muốn áp dụng giải pháp này thành công và có sức lan tỏa trong nhà trường và
toàn xã hội thì đòi hỏi nhà quản lý giáo dục giúp cho giáo viên hiểu được tầm quan trọng,
phải nắm rõ kiến thức, kỹ năng thực hành phòng chống TNTT theo nội dung của các văn
bản qui phạm pháp luật làm cơ sở để đánh giá trình độ hiểu biết của giáo viên. Khi đã có
kiến thức nhất định thì giúp giáo viên vận dụng một cách hợp lý, linh hoạt, trong điều
kiện thực tế, tâm sinh lý trẻ, hoàn cảnh gia đình của từng trẻ tại lớp mình phụ trách. Từ sự
hiểu biết phòng chống TNTT nhân rộng ra các giáo viên khác. Trao đổi sự hiểu biết của
mình về phòng chống TNTT giúp phụ huynh hiểu biết kiến thức, qui định của pháp luật
để phòng chống TNTT cho trẻ ở gia đình. Phối hợp với các tổ chức xã hội ở địa phương
cùng tìm hiểu kiến thức về phòng chống TNTT, hiểu rõ trách nhiệm của mình trước pháp
luật trong hoạt động bảo vệ an toàn tính mạng cho trẻ. Do vậy giải pháp này áp dụng triệt
để và đem lại kết quả cao, hạn chế tối đa tỉ lệ trẻ TNTT xảy ra trong nhà trường cũng như
ở gia đình và nơi hoạt động công cộng.
Muốn thực hiện tốt một nội dung, mục tiêu hay nhiệm vụ gì trước hết đòi hỏi mỗi
chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ các văn bản chỉ đạo của cấp trên đồng thời xây
dựng cho bản thân một qui tắc làm việc đó là: Không chỉ đạo và làm việc bằng kinh
nghiệm chủ quan của cá nhân mà phải tìm hiểu, nắm bắt nội dung hướng dẫn của các tài
liệu, các văn bản qui phạm pháp luật từ đó có chương trình hoạt động cụ thể phù hợp với
thực tế của nhà trường, địa phương để tránh sai sót, hạn chế. Thông tư 13/2010/TTBGDĐT được ban hành và qui định cụ thể như sau: Thông tư gồm 3 Chương với 9 Điều.
Ban hành kèm theo Thông tư là Bảng kiểm trường học an toàn, phòng, chống
TNTT trong cơ sở giáo dục mầm non gồm có 4 nội dung và 68 tiêu chí đánh giá. Thông
tư có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2010. Đọc và hiểu Thông tư 13/TT-BGD&ĐT về
Qui định Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống TNTT cho trẻ trong trường mầm
buổi bồi dưỡng thường xuyên do ngành, nhà trường tổ chức thì đội ngũ đã cơ bản nắm
được về qui chế nuôi dạy trẻ để áp dụng vào công việc hàng ngày và nếu có sự việc xảy
ra thì giáo viên cũng biết cách sơ cứu ban đầu cho trẻ nhằm đảm bảo an toàn tính mạng
cho trẻ trước khi chuyển vào cơ sở y tế gần nhất.
2.3.Giải pháp 3: Thường xuyên kiểm tra về cơ sở vật chất trang thiết bị đồ
dùng đồ chơi, nhằm xây dựng môi trường an toàn đáp ứng công tác phòng chống
TNTT cho trẻ từ đầu năm học.
Đối với các năm học trước do giải pháp chưa được quan tâm triển khai nên việc
khảo sát chỉ mang tính hình thức. Nhưng khi tình hình TNTT xảy ra mức độ ngày càng
cao thì buộc phải tìm giải pháp mới và được coi trọng hàng đầu trong năm học này. Mọi
TNTT xảy ra đối với trẻ đều có nguyên nhân. Nhà quản lý phải nhìn được nguyên nhân
trực tiếp và gián tiếp. CSVC, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi là nguyên nhân trực tiếp
khách quan tác động đến an toàn tính mạng trẻ trong cả một ngày hoạt động ở trường.
Trong điều kiện của nhà trường có thể khắc phục được nguyên nhân này thì giải pháp này
là cấp bách nhất. Mọi kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành phòng chống TNTT cho
trẻ dù có tốt đến đâu nhưng điều kiện CSVC yếu kém thì tai nạn của trẻ vẫn xảy ra ngoài
tầm kiểm soát. Vậy CSVC là điều kiện tiên quyết để đảm bảo an toàn phòng chống
TNTT cho trẻ. Giải pháp này có tính thuyết phục cao khi triển khai kế hoạch nhiệm vụ
đến giáo viên trong nhà trường.
VD: Trẻ té ngã do nền nhà trơn trượt, do kệ đồ chơi không phù hợp, do cầu thang
phòng ngủ các lan can đã cũ, do xô đẩy bạn khi chơi, khi đá bóng…
Trường mầm non 1 điểm chính được xây dựng khang trang, tuy nhiên khi thiết kế
thi công các kỹ sư chưa lường trước được những nguy hiểm có thể xảy ra với trẻ, bản
thân tôi đã mạnh dạn tham mưu, đề xuất với hiệu trưởng nên nhà trường đã có những sửa
chữa nâng cấp tay vịn các lan can điểm chính cao hơn so với trẻ để trẻ không leo trèo
được, và nâng cấp một số khu vực điểm lẻ đảm bảo an toàn khi trẻ vui chơi và học tập.
Tất cả các lan can điểm chính được xây cao 140cm quá tầm đầu của trẻ, sân chơi
điểm lẻ được láng lại có độ nhám an toàn cho trẻ chơi, sàn nhà vệ sinh đã thông thoáng
không bị đọng nước, bể nước luôn có nắp đậy cẩn thận, cầu thang lên phòng ngủ được
đóng lại các tay vịn đảm bảo chắc chắn, an toàn khi sử dụng.
toàn cho trẻ khi chơi. Giáo viên giáo dục trẻ không leo trèo lên cầu thang hay lan can gây
nguy hiểm tính mạng cho trẻ, thường xuyên nhắc nhở trẻ không thò tay vào ổ cắm điện
trong lớp học.
Việc phòng chống TNTT cho trẻ thời gian qua không có một trường hợp nào xảy
ra TNTT do CSVC, điều đó chứng tỏ rằng giải pháp này bắt buộc bất kỳ một cơ sở mầm
non nào cũng phải thực hiện một cách triệt để, nhằm mục đích hạn chế TNTT xảy ra với
trẻ trong hiện tại và lâu dài.
2.4.Giải pháp 4: Nắm rõ các nguy cơ gây ra tai nạn thương tích thường gặp ở
trẻ và cách phòng tránh.
Trẻ bị TNTT tại trường mầm non và ở tại gia đình là do người lớn chưa nắm được
các nguy cơ có thể gây ra tai nạn cho trẻ. Do thiếu ý thức chăm sóc bảo vệ con mình có
khoa học, thường để lúc xảy ra tai nạn mới tìm giải pháp, mới rút kinh nghiệm, mới đổ
lỗi cho hoàn cảnh, mới tìm nguyên nhân, mới học cách phòng chống. Việc nắm rõ các
nguy cơ xảy ra tai nạn trong trường mầm non và ở mọi lúc mọi nơi là cấp bách, có tính
đột phá để ngăn chặn kịp thời TNTT cho trẻ. Nếu trẻ được trang bị các kĩ năng sống tối
thiểu như cách nhận biết người lạ mặt, cách nói lời từ chối, la hét lớn kêu cứu để trẻ
không bị bắt cóc, bị lừa mang đi bán.v.v...cách thuyết phục người khác để mình không bị
bạo lực. Khi vui chơi vận động trong gia đình khu chung cư cao tầng lan can có cửa sổ
mình phải biết sợ nguy hiểm có thể chết người nếu mình thích leo trèo nhìn qua cửa sổ... ,
khi đi lại trong công viên khi đi qua cầu, cống, kênh mương lúc đi bộ lúc chạy nhảy
mạnh không làm chủ tốc độ nếu vấp ngã có thể xẩy ra tai nạn. Khi vui chơi với các đồ
chơi ngoài trời xích đu cầu trượt, bập bênh, leo trèo vận động trên ghế thể dục... nếu
không có các kĩ năng vận động phù hợp chính xác sẽ có thể gây ra TNTT. Tất cả các kĩ
năng cần dạy cho học sinh phụ huynh và ngay cả giáo viên cũng chưa được trang bị đầy
đủ vận dụng chưa linh hoạt thì thực tế các TNTT vẫn xẩy ra trong nhà trường, ở nhà, nơi
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
11
dạy trẻ các kỹ năng thực hành và ý thức tự bảo vệ mình.
VD: Giờ thể dục: đi trên ghế thể dục, trườn sấp kết hợp trèo qua ghế thể dục, ném
bóng vào rổ, bật qua suối, bật sâu, bật xa…
Giáo dục trẻ những kiến thức cơ bản để giúp trẻ hiểu và có ý thức, hành vi tránh
các nguy cơ xảy ra TNTT. Thông qua hoạt động giáo dục và hoạt động vui chơi, các hội
thi lồng ghép kiến thức phòng chống TNTT giúp trẻ có các kỹ năng thực hành tự bảo vệ
an toàn cho mình. VD: kỹ năng leo trèo như trèo lên xuống ghế một mình, cách trèo: trẻ
dùng bàn chân đặt lên vùng trung tâm của ghế, đồng thời 2 tay vịn chặt thành ghế hoặc
vịn vào kệ khi lấy đồ chơi từ trên kệ xuống, chân nào lên trước thì chân đó xuống trước,
kết hợp tinh, nhanh giữa mắt với tay, mắt thường xuyên nhìn vào 4 chân ghế để giữ thăng
bằng. Hoặc nhờ người giữ ghế chắc chắn mới trèo, hoặc leo thang cũng vậy, cảm thấy
chưa an toàn thì không được trèo vì nhanh một phút chậm cả đời.
Dạy trẻ kỹ năng đi trên nền nhà trơn trượt: nếu đi trên nền nhà mới lau không có
dép đi trong nhà đầu thì phải đi chậm, đồng thời lòng bàn chân co gọn lại, các ngón chân
bấm chặt, hai tay giơ sang ngang giữ thăng bằng khỏi té ngã và chạy nhanh dần để vượt
qua chỗ trơn trượt. Dạy trẻ kỹ năng đi dưới trời mưa, đường gồ ghề, nên đề phòng một
cái gậy chống, đế bằng cao su để có độ bám khi chống.
Với hoạt động bé làm nội trợ: cho trẻ làm quen dụng cụ nhà bếp, giáo dục trẻ biết
cách sử dụng ga an toàn, kỹ năng dùng dao cắt, tránh xa nồi nước sôi
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
12
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
a. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tai nạn thương tích ở trẻ trong trường
mầm non.
Do thiếu sự giám sát trông nom của người lớn, cô giáo người trông giữ trẻ nên trẻ
dễ tiếp xúc với các yếu tố gây nên TNTT cho trẻ một cách dễ dàng.
Do người lớn và đặc biệt là các cô giáo mầm non chưa được hướng dẫn cụ thể về
nóng, khi ăn, uống, trẻ cũng có thể bị bỏng do thức ăn (canh, cháo, súp ....) mang từ nhà
bếp lên còn đang rất nóng, nếu không chú ý mà ăn, uống ngay sẽ gây bỏng cho trẻ. Có
trường hợp trẻ bị bỏng do cháy, hoả hoạn, các ổ cắm điện để ở vị trí thấp, thiếu an toàn.
Tai nạn giao thông: đối với trẻ mầm non các tai nạn thương tích chủ yếu do trẻ được
đưa đón bằng xe đạp và xe máy, vùng nông thôn do nhà gần trường nên trẻ thường đi về
một mình không có người lớn đi cùng nên cũng thường xẩy ra tai nạn.
Nói chung TNTT ở trong cơ sở giáo dục mầm non có thể xẩy ra ở bất cứ lúc nào,
mọi lúc, mọi nơi nếu thiếu sự quan tâm của cô giáo và người trông trẻ, của phụ huynh và
mọi người xung quanh thì đều dễ gây nên TNTT cho trẻ.
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
13
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
Có hai loại tai nạn: Tai nạn không chủ định thường không có nguyên nhân rõ ràng,
khó có thể đoán trước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối, thất lạc...Tai nạn có chủ
định như bạo lực, bạo hành thương tích thì không phải là tai nạn mà là sự tổn thương của
cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên, bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng
(có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, chất phóng xạ ) quá ngưỡng chịu đựng của
cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mất nhiệt.
Thương tích có thể lý giải được và có thể phòng tránh được. Phòng chống TNTT có vai
trò quan trọng đến sự phát triển toàn diện về mặt nhân cách cho trẻ. Về mặt thể chất: cơ
thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, trẻ được vận động nhanh nhẹn,
bình thường. Không những sẽ phát triển về mặt thể chất mà con giúp cho trẻ phát triển về
mặt nhận thức. Nếu trẻ không bị tổn thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ
được tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh tốt hơn. Trẻ tích lũy được vốn kiến thức,
kỹ năng để có thêm kinh nghiệm, làm hành trang để trải nghiệm cuộc sống. Hơn nữa,
phòng chống được tai nạn thương tích cho trẻ sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ. Như
chúng ta đó biết, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì trẻ sẽ
nấm độc thì bằng mọi cách gây cho trẻ nôn ngay và cho uống than hoạt tính, sau đó
chuyển trẻ đến cơ sở y tế gần nhất
• Phòng tránh ngã cho trẻ em
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
14
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
Trẻ nhỏ thường hiếu động, chạy nhảy, leo trèo nên rất dễ bị ngã. Ngã là một tai nạn
thương tích dễ gặp và dễ gây những hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng
của trẻ. Người chăm sóc trẻ cần chú ý:
Thường xuyên nhắc nhở trẻ không được chạy nhảy, nô đùa, xô đẩy nhau khi ở nhà,
ở trường, trên đường đi học, đi chơi.
Dạy trẻ không được leo trèo: trèo cây, trèo tường, cột điện, cầu thang…
Võng mắc cho trẻ phải thấp và có dây buộc 2 mép võng khi trẻ ngủ trong võng.
Không cho trẻ nhỏ đùa nghịch, đu võng…
Đảm bảo các bậc thềm, bậc cầu thang không trơn trượt, không quá dốc, không quá
hẹp.
Luôn giữ sàn nhà, nhà tắm, sân khô ráo không trơn trượt, không mấp mô lồi lõm.
Cách sơ cấp cứu: Quan sát, tìm hiểu nguyên nhân gây cho trẻ ngã để có cách xử
lý thích hợp. Nếu chấn thương nhẹ như bầm, tím, xây xát da thì phải rửa bằng nước sạch,
sát trùng và băng lại. Nếu chấn thương nặng như gãy xương, chảy máu thì phải cố định
xương và cầm máu bằng cách băng ép sau đó nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần
nhất để cấp cứu.
• Phòng tránh bỏng cho trẻ em
Bỏng rất nguy hiểm, nếu bỏng nặng có thể để lại di chứng như sẹo, co rút cơ, gây
tàn phế suốt đời hoặc gây chết người. Trẻ em, đặc biệt từ 2-5 tuổi dễ bị bỏng vì tính trẻ
hiếu động, tò mò và do sự bất cẩn của người chăm sóc trẻ. Người chăm sóc trẻ cần chú ý:
Phải làm cửa chắn quanh khu vực nấu ăn. Phải để xa tầm với của trẻ như thức ăn,
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
Cách sơ cấp cứu: Quan sát đảm bảo an toàn và bằng mọi cách tách nạn nhân ra
khỏi nguồn điện. Nếu trẻ đã bất tỉnh phỉa kêu gọi mọi người giúp đỡ, tiến hành ép tim
ngoài lồng ngực và hà hơi thổi ngạt. Cần làm ngay lập tức và kiên trì. Sau đó khi thất nạn
nhân hồi tỉnh sẽ chuyển trẻ bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất.
• Phòng tránh ngạt tắc đường thở cho trẻ em.
Trẻ nhỏ rất dễ bị ngạt và tắc đường thở khi nuốt hoặc nhét các vật gây tắc đường
thở vào miệng, mũi. Người chăm sóc trẻ cần chú ý
Cho trẻ ăn thức ăn đã nghiền nhuyễn với trẻ nhỏ (24-36 tháng), cắt nhỏ hạt lựu với trẻ
(36-72 tháng) không lẫn xương lẫn hạt.
Để ngoài tầm với của trẻ các vật dễ nuốt như đồng xu, kim băng, cúc áo, hột hạt
trái cây, hạt đậu phụng…Không cho trẻ nhỏ vừa ăn vừa cười đùa
Dạy trẻ không nên chơi trò dùng túi ni long, chăn gối để chụp lên đầu nhau.
Cách sơ cấp cứu: Nhanh chóng lấy dị vật ra khỏi mũi miệng của trẻ. Để trẻ cúi
hoặc nằm sấp trên đùi bạn, đầu thấp hơn cơ thể. Vỗ mạnh nhiều lần vào lưng giữa hai vai
trẻ để dị vật bật ra ngoài. Nếu trẻ bất tỉnh phải hà hơi thổi ngạt ngay, và khi trẻ thở được
thì chuyển trẻ bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất
• Phòng tránh tai nạn bom mìn và các loại vật nổ cho trẻ em.
Bom mìn, đạn, vật liệu nổ đều rất nguy hiểm gây chết người hoặc thương tích cho
bản thân và mọi người xung quanh.
Người chăm sóc trẻ cần chú ý. Dạy trẻ biết phòng chống và nhận biết các loại
bom, mìn, vật liệu nổ.
Không để trẻ tham gia dò tìm phế liệu chiến tranh, không được cưa đục, tháo gỡ
hoặc đốt cháy bom, mìn, vật nổ, vật lạ. Phải rào và lắp biển báo, biển cấm khi phát hiện
khu vực có bom mìn, vật nổ.
Dạy trẻ tuyệt đối không được đụng chạm, cầm, di chuyển, ném đến bom mìn, vật
nổ, vật lạ với bất cứ lý do gì khi nhìn thấy. Không được dùng sỏi, đá, que, gậy hoặc
những vật khác để ném, đạp vào bom, mìn, vật nổ.
Cách sơ cấp cứu: Tiến hành cầm máu sau vết thương. Nếu có nghi ngờ có gãy
chống TNTT cho phụ huynh thông qua các buổi họp phụ huynh. Phối hợp cùng phụ
huynh tổ chức làm đồ dùng dạy học, đồ chơi, vật trang trí để làm lớp đẹp, hấp dẫn phục
vụ cho việc học của cháu và sự quan tâm của phụ huynh cũng là dịp để tuyên truyền, phổ
biến kiến thức về giáo dục trẻ, phòng chống TNTT, vệ sinh an toàn thực phẩm, nuôi dạy
con theo khoa học. Giáo viên còn trực tiếp hướng dẫn, giúp cho cha mẹ trẻ nắm được
từng nội dung kế hoạch của nhà trường, lớp về trường học an toàn, phòng chống TNTT
để ở nhà phụ huynh giúp trẻ duy trì thói quen đó. Đồng thời trong từng lần họp với phụ
huynh chúng tôi còn đưa ra các chỉ tiêu dứt điểm từng đợt thi đua. Từ đó giáo viên có
trách nhiệm vận động phụ huynh đi họp đông đủ, đúng thành phần. Sau mỗi lần họp phụ
huynh nhà trường đều tổ chức đánh giá tuyên dương các lớp có số lượng phụ huynh đi dự
họp đông đủ, đúng đối tượng.
Công tác tuyên truyền phòng chống TNTT với phụ huynh là việc vừa dễ lại vừa
khó, dễ vì đây là công việc hàng ngày của giáo viên, khó ở đây là giáo viên phải có
những lời nói thuyết phục, biết chọn lọc những nội dung tuyên truyền thiết thực, thu hút
được phụ huynh để phụ huynh dễ hiểu và dễ thực hiện. Giải pháp này muốn nói đến tính
hiệu quả của công tác tuyên truyền. Cái mới ở đây không thể là tuyên truyền một chiều
mà là kết quả tuyên truyền được thể hiện rõ rệt trở thành hành động của bậc làm cha, làm
mẹ, của những người thân xung quanh trẻ, thể hiện sự hiểu biết của mình bằng sự quan
tâm, chăm sóc, yêu thương trẻ từng giờ, từng hoạt động, diễn ra hằng ngày những lúc trẻ
trở về nhà bên người thân. Mọi tuyên truyền bằng lý thuyết sẽ trở nên vô nghĩa khi nhà
giáo dục không có giải pháp để kiểm tra mức độ hiểu biết của phụ huynh, cách thể hiện
trách nhiệm của mình đối với con trẻ khi sống chung dưới một mái nhà. Các việc làm của
người lớn đều có những ảnh hưởng nhất định tác động vào tâm tư, tình cảm, sự phát triển
của trẻ. Đặc biệt quyết định sự an toàn về tính mạng và tránh được TNTT xảy ra trên mỗi
trẻ trong cuộc sống hàng ngày tại gia đình. Đó chính là sự cam kết trách nhiệm, sự hiểu
biết kiến thức về cách phòng chống TNTT cho trẻ mà giáo viên, cộng đồng, nhà trường
tuyên truyền. Sự hiểu biết nhất định về những qui định của pháp luật đối với người thân,
cha mẹ, người trông trẻ tại gia đình, chịu trách nhiệm hình sự nếu để xảy ra tai nạn ảnh
hưởng đến tính mạng con trẻ.
Tuyên truyền bằng hình ảnh trực quan qua góc tuyên truyền của từng lớp, bảng tin
chức thực hành lồng ghép qua các hội thi: “Gia đình và sức khỏe trẻ thơ”, “Bé khỏe bé
ngoan”, “Bé làm nội trợ”, rèn kĩ năng sử dụng dao, kéo phòng chống cháy nổ, hội thi “Bé
tìm hiểu luật giao thông” rèn các thói quen đội mũ bảo hiểm lúc ngồi xe máy, thói quen
không thò đầu và tay ra ngoài, ngồi yên khi đi tàu lửa, ngồi máy bay, xe ô tô con phải thắt
dây an toàn không sử dụng điện thoại, thói quen qua đường phải có người lớn dắt, thói
quen khi đi bộ trên hè phố phía tay phải, không đùa giỡn, chạy nhảy, đá bóng, nô đùa trên
lòng, lề đường phố, “Hội khỏe Măng non”...rèn kỹ năng khéo léo, không xô đẩy bạn khi
tham gia trò chơi kéo co, đá banh... Hình thức tổ chức phải đa dạng, phong phú, làm thế
nào để các bé cùng gia đình có thể tham gia. Ví dụ như “Hội thi bé tìm hiểu luật giao
thông” nhà trường có thể kêu gọi phụ huynh tham gia cùng con trẻ. Để trẻ mẫu giáo đi
chợ tự chọn những chiếc mũ bảo hiểm theo yêu cầu của hội thi. Có thể mỗi hội thi mỗi
năm tổ chức các hình thức khác nhau. Như vậy trẻ sẽ có nhiều kỷ niệm đẹp nhất là trẻ
được tập làm người lớn độc lập, sáng tạo, tự lo cho sự an toàn của mình trước sự chứng
kiến của rất nhiều người trẻ sẽ rất thông minh và phát triển toàn diện hơn.
Tổ chức cho phụ huynh tham quan các hình ảnh tuyên truyền bảo đảm an toàn cho
trẻ đa chiều, cách dạy con các kĩ năng bảo vệ tính mạng tránh các vận động nguy hiểm
đến tính mạng trẻ, nhất là tuyên truyền vào giờ đón, trả trẻ. Với mục đích kiến thức đảm
bảo phòng chống TNTT được đi vào cuộc sống hàng ngày của trẻ trong gia đình.
Bên cạnh việc tuyên truyền bằng các hội thi, tham quan các hình ảnh về an toàn tính
mạng cho trẻ thì nhà trường cần xây dựng bản cam kết “Tam giác vàng Gia đình – nhà
trường – cộng đồng” bảo vệ an toàn phòng chống TNTT cho trẻ trong trường mầm non
sao cho toàn thể mọi người xa, gần xung quanh trẻ dù gián tiếp hay trực tiếp đều phải có
trách nhiệm cụ thể bằng hành động trước sự an toàn tuyệt đối cho trẻ mầm non mọi lúc
mọi nơi.
Trong thực tế nhà trường mầm non có làm tốt công tác phòng chống TNTT cho trẻ đã
hạn chế các tai nạn đáng tiếc xẩy ra trong thời gian trẻ đi học. Nhưng do nhiều nguyên
nhân khác nhau nên lúc trẻ về nhà, hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác nơi cộng
đồng, dân cư một số TNTT vẫn xẩy ra ngoài ý muốn, ngoài tầm kiểm soát của nhà trường
những tai nạn do đuối nước, do thú cắn, do hóc sặc, té xe đạp, xe máy, bỏng do điện giật,
cháy nổ, té ngã cầu thang ở nhà, té từ lan can chung cư... Hàng ngày đang rình rập tạo
5.Không để con trẻ tham gia giao thông khi thiếu ba, mẹ đi cùng.
5 Có:
1.Có 1 gia đình hạnh phúc đủ cả cha lẫn mẹ cho trẻ.
2.Có cha mẹ là người bạn lớn vui chơi với trẻ lúc ở nhà.
3.Có đủ đồ chơi, phòng chơi an toàn cho trẻ lúc ở nhà.
4.Có mũ bảo hiểm lúc trẻ ra đường.
5.Có cả cha, mẹ đi cùng lúc trẻ đi ra khỏi nhà mình.
Bản cam kết này sẽ được kí kết trong cuộc họp giao ban lúc triển khai kế hoạch
phòng chống TNTT vào đầu năm học với sự có mặt đầy đủ các thành phần đại diện, sau
đó cụ thể hóa thông qua cuộc họp phụ huynh đầu năm giao chỉ tiêu cho từng lớp thông
qua giáo viên chủ nhiệm. Đây là tiêu chí thi đua đánh giá công tác tuyên truyền đối với
phụ huynh của giáo viên chủ nhiệm lớp.
* Tính mới của đề tài thể hiện trong các giải pháp chúng tôi tập trung giải quyết
các vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ trong trường mầm non nhằm mục đích
phấn đấu đạt mục tiêu hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới, trẻ
thông minh, năng động, khỏe mạnh, sáng tạo, có khả năng ứng phó với mọi thay đổi của
môi trường xung quanh...Từ khi áp dụng giải pháp phòng chống TNTT đưa vào thực hiện
tại trường mầm non 1 thì chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ngày được nâng cao, đặc biệt
hoạt động phòng chống TNTT cho trẻ được quan tâm và chú trọng, nhà trường luôn
nghiên cứu tìm những biện pháp mới nhằm đảm bảo phòng chống tai nạn thương tích cho
trẻ tốt hơn. Vì thế bên cạnh những biện pháp đã nghiên cứu thực hiện, tôi mạnh dạn chọn
đề tài này có tính đột phá để thực hiện “xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn
thương tích cho trẻ tại nhà trường”.
Giải pháp đảm bảo phòng chống TNTT trong Trường Mầm non thời gian qua áp
dụng đã thành công tốt đẹp. Từ lúc áp dụng cách làm mới đã tác động tích cực đến nhận
thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất nhân cách ban đầu của trẻ mầm non. Đồng thời cũng có
những tác động tích cực tới nhận thức của đội ngũ CBQL – GV người lao động trong nhà
trường. Điều quan trọng là kết quả thể hiện trên chất lượng chăm sóc trẻ tăng lên rõ rệt.
Sức khỏe tâm lý trẻ, trí tuệ vận động và sự phát triển toàn diện của trẻ theo chiều hướng
tích cực tạo được niềm tin về đảm bảo phòng chống TNTT trong nhân dân và phụ huynh.
2
3
Số lượng
người tham
gia
Kiến thức, kỹ năng thực hành, thái độ phòng chống TNTT
Kiến thức về phòng
Kỹ năng thực hành Thái độ phòng chống
chống TNTT
phòng chống TNTT
TNTT
34
(25GV+8cô
Nấu
ăn+1ytế)
34 Tốt
Phụ huynh
337
319 tốt
Học sinh mẫu
giáo
269
hoàn
thành
68 chưa
hoàn
thành
268 tốt
69 chưa
tốt
Như vậy qua bảng khảo sát cuối năm cho ta thấy kiến thức, kỹ năng thực hành và
thái độ tự phòng chống TNTT ở trường mầm non tăng lên rõ rệt. Đối với giáo viên kiến
thức, kỹ năng, thái độ đã hoàn toàn thay đổi. Giáo viên luôn tự giác học tập bồi dưỡng
thường xuyên, các thông tư, chỉ thị, các văn bản, nghị định pháp luật..cụ thể hóa các văn
bản, thông tư 13 thành nội qui đảm bảo an toàn phòng chống TNTT cho trẻ hàng ngày
được dán ở bảng tin nhà trường, lớp và gởi cho phụ huynh. Ý thức của giáo viên khi tham
gia giao thông được nâng lên rõ rệt, giáo viên tuyên truyền cho phụ huynh học sinh chấp
hành tốt luật giao thông đường bộ. Có ý thức phòng chống tai nạn cho con em, cho học
sinh khi tham gia hoạt động ngoại khóa, tham quan du lịch. Khả năng bao quát chăm lo
thường xuyên cho học sinh trong mọi tình huống, bảo vệ các cháu mọi lúc mọi nơi cũng
được thể hiện rõ rệt. Môi trường học tập vui chơi của trẻ ở tại trường mầm non trở nên
ấm áp, thân thiện.
Từ có ý thức xây dựng môi trường an toàn phòng chống TNTT cho trẻ được nâng
cao, kết quả thực hành các thao tác xử lý tình huống khi trẻ bị tai nạn dù nhẹ hay nặng
cũng được thể hiện bằng kỹ năng thực hành lưu loát, bình tĩnh, để bảo đảm an toàn cho
trẻ đến giờ chuyển đến cơ sở y tế gần nhất. Trong các kỳ sinh hoạt Hội chữ thập đỏ được
tập huấn giả định sơ cấp cứu một số tình huống có thể xảy ra tai nạn cũng được giáo viên
trường, gia đình và toàn xã hội nên đã giảm thiểu được tối đa các TNTT cho trẻ. Điều
đáng quan tâm nhất là tỉ lệ TNTT giảm hẳn so với năm học trước, trường học, gia đình
trở thành ngôi nhà thân thiện, ấm áp tình yêu thương, đem đến cuộc sống bình yên cho
trẻ, giúp trẻ phát triển đáp ứng mục tiêu trong thời kỳ mới.
Việc đánh giá trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ đạt tiêu chuẩn của
trường chuẩn Quốc gia mức độ 1, cũng nói lên mức độ hoàn thành các giải pháp mới
trong năm học 2015 – 2016 đã thành công đem lại hiệu quả cao có thể áp dụng cho các
trường học khác. Các phụ lục 2,3, bảng kiểm đánh giá trường học an toàn phòng chống
tai nạn thương tích cho trẻ cho thấy nội dung đánh giá không đạt đã thay đổi. Bảng kiểm
đánh giá trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường mầm non năm học
2014 – 2015 và năm học 2015 – 2016 cho ta thấy. Kết quả đánh giá bảng kiểm năm học
2014 – 2015 có 9 nội dung không đạt (xem phụ lục 2), năm học 2015 – 2016 chỉ còn 1
nội dung không đạt (xem phụ lục 3). Như vậy thực tế cho thấy tình hình TNTT chỉ được
cải thiện khi chúng ta có kế hoạch thực hiện bằng những việc làm cụ thể, vận dụng các
giải pháp có tính đột phá mới hiệu quả cao, có sức lan tỏa rộng phù hợp với đặc điểm của
nhà trường, được sự ủng hộ nhiệt tình của gia đình và xã hội.
100% trẻ đảm bảo an toàn tuyệt đối trong trường lớp mầm non. Không có trường
hợp học sinh ngộ độc, tiêu chảy xảy ra trong trường lớp. Không có trẻ ăn quà vặt, hàng
rong trong trường lớp.
100% Phụ huynh đưa đón trẻ đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông. Trẻ không
chơi những đồ chơi không an toàn như súng nhựa, điện tử, kiếm, vật nhọn. Qua đánh giá,
khảo sát các cháu đều nắm được những hành vi đúng, sai trong việc phòng chống TNTT
theo kế hoạch của lớp, trường.
100% CB – GV – CNV đăng ký ký kết xây dựng trường học an toàn phòng chống
TNTT cho trẻ trong nhà trường.
100% giáo viên, cô nấu ăn, nhân viên y tế được tham gia bồi dưỡng về Thông tư
13/TT-BGD&ĐT, qui chế nuôi dạy trẻ, có kiến thức, thao tác thực hành phòng chống các
tai nạn thương tích thường xảy ra với trẻ.
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
hội cha mẹ, các tổ chức cộng đồng tổng kết rút kinh nghiệm, tiếp thu các ý kiến hay tạo
điều kiện thuận lợi cho mọi người thực hiện thành công nhiệm vụ.
Nhà quản lý phải thường xuyên có mặt tại nhà trường bao quát mọi khu vực của
từng lớp, thay nhau kiểm tra giám sát việc chăm sóc trẻ từng bữa ăn, giấc ngủ, mọi hoạt
động hằng ngày để nắm được mức độ an toàn của trẻ, lắng nghe thông tin đa chiều từ phụ
huynh, cộng đồng xã hội. Cần có những ý tưởng giải pháp đảm bảo phòng chống TNTT
sáng tạo. Mục tiêu của nhà trường là phòng hơn chống. Đồng thời mạnh dạn áp dụng linh
hoạt giải pháp đó vào công việc phục vụ công tác quản lí của nhà trường. Không ngừng
lắng nghe tiếp thu mọi ý kiến phản hồi của mọi người xung quanh về giải pháp mà mình
áp dụng để cải tiến, tìm tòi giải pháp mới khả thi hơn
5. Kết luận:
Từ kinh nghiệm của bản thân, thời gian qua, việc xây dựng trường học an toàn
phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ tại nhà trường đã được quan tâm thực hiện
nghiêm túc, trong nhiều năm qua không để xảy ra một trường hợp tai nạn thương tích
nào. Để công tác xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ ở
trường mầm non của nhà trường đạt kết quả cao, đảm bảo tính bền vững, bản thân luôn
nâng cao ý thức chỉ đạo, giám sát trong việc lựa chọn các giải pháp áp dụng thiết thực để
chăm sóc bảo vệ an toàn cho trẻ với tinh thần phòng hơn chống, bảo đảm an toàn tính
mạng của trẻ phải thực hiện thường xuyên hằng giờ, hằng ngày, mọi lúc mọi nơi phù hợp
với từng điều kiện hoàn cảnh mỗi cá nhân trẻ. Trẻ phải được an toàn khỏe mạnh hạnh
phúc, phát triển tự nhiên đúng quy luật trong môi trường giáo dục tốt. Qua đó góp phần
nâng cao nhận thức ban đầu của trẻ về cách tự bảo vệ an toàn cho mình, cho bạn trong
22
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
lớp là niềm vui và mang lại hạnh phúc cho mọi người xung quanh. Giúp nâng cao sự cần
thiết phải chăm lo bảo vệ an toàn cho trẻ em nói chung và con nhỏ của mình là trách
nhiệm mà pháp luật quy định đối với phụ huynh.
Đà Lạt, ngày 15 tháng 5 năm 2016
Người viết báo cáo
Nguyễn Thị Hương Thủy
Nguyeãn Thò Höông Thuyû
23
Xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ ở trường Mầm non
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………….
Đà Lạt, ngày tháng năm 2016
TM hội đồng thi đua
HIỆU TRƯỞNG
HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT GIẢI PHÁP CẤP CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Cn c Thụng t s 13/2010/TT-BGDT ngy 15/4/2010 ca B Giỏo dc v o to ban hnh
Quy nh v xõy dng trng hc an ton, phũng, chng tai nn, thng tớch trong c s giỏo dc
mm non, ỏp dng i vi nh tr, nhúm tr, lp mu giỏo, trng mu giỏo, trng mm non.
- Cn c nhim v nm hc 2015 2016
Trng Mm non 1 xõy dng k hoch v Xõy dng trng hc an ton, phũng, chng tai nn
thng tớch nm hc 2015 2016 nh sau:
1. MC CH YấU CU:
- Nõng cao nhn thc v k nng cn thit cho cỏn b, giỏo viờn, cụng nhõn viờn v ph huynh
v cụng tỏc m bo an ton, phũng, chng tai nn thng tớch cho tr em
- Tng cng s phi hp gia nh trng vi gia ỡnh v xó hi nhm m bo an ton cho
tr khi tr c chm súc, nuụi dy ti trng.
- Nõng cao cht lng chm súc, giỏo dc ton din cho tr.
- Gúp phn thc hin tt phong tro Xõy dng trng hc thõn thin, hc sinh tớch cc.
2. NI DUNG V CC BIN PHP THC HIN
2.1.
-
-
Thnh lp Ban ch o cụng tỏc y t trng hc:
Cn c Khon 1 - iu 9 ca Thụng t Quy nh v xõy dng trng hc an ton trong
c s giỏo dc mm non v iu 5 ca Quy nh v hot ng y t trong c s giỏo dc mm
non. Hiu trng ra Quyt nh thnh lp Ban ch o cụng tỏc y t trng hc bao gm cỏc
thnh viờn: Hiu trng, cỏn b y t, Phú hiu trng bỏn trỳ, 3 giỏo viờn i din cỏc khi
lp v 1 i din Hi CM tr.
Hp ng cỏn b y t chuyờn trỏch.
Trang b t thuc v cỏc dng c s cu ban u.
T chc lp bi dng cung cp nhng kin thc v yu t nguy c v cỏch phũng, chng,
x lý ban u nhng tai nn thng tớch ni tr mm non cho tt c cỏn b, giỏo viờn, nhõn
25