DSpace at VNU: Thơ chữ Hán trên điện Thái Hòa, một di sản tư liệu có giá trị khi nghiên cứu thời Nguyễn(1802-1945) ở Việt Nam - Pdf 45

THƠ CHŨ HÁN TRÊN ĐIỆN THÁI HÒA,
MỘT DI SẢN T ư LIỆU CÓ GIÁ TRỊ
KHI NGHIÊN

cứư THỜI

NGUYỄN

(1802- 1945) Ở VIỆT NAM
Nguyễn Phước Hải Trung*

1.
Thái Hoà

Tổng quan về thơ trên công trình kiến trúc triều Nguyễn ở Huế và điện

1.1. Thơ trên công trình kiến trúc Nguyễn ở Huế
So với các loại kiến trúc cung đình của các nước đồng văn như Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản, kiến trúc cung đình triều Nguyễn ở Huế có một đặc trưng
riêng biệt, đó là hiện tượng khắc chìm, chạm nổi, sơn son, thếp vàng, cẩn xà cừ, viết
trên nền pháp lam các bài thơ chữ Hán lên công trình kiến trúc. Hầu hết các công
trinh quan trọng như cung điện, lăng tẩm, gác tạ v.v...đều có thơ chữ Hán. Hiện nay,
trên hệ thống kiến trúc này ở Huế có trên 3.500 đơn vị ô thơ chữ Hán.
Thơ được thể hiện trên các di tích cung đình Huế khá đa dạng về phương thức,
về chất liệu, về kiểu dáng và về cả vị trí tồn tại. Thơ được khắc chìm, chạm nổi trên
các liên ba1, đố bản bằng gỗ tại các công trình kiến trúc, được thếp vàng chữ, sơn
son nền như ở nội thất điện Thái Hòa, Hưng Miếu, Ngọ Môn (Đại Nội)... được thếp
vàng chữ, nền sơn các màu như ở nội thất điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng). Thơ
được viết trên nền đồng rồi tráng men (pháp lam) với nhiều màu sắc (chủ yếu chữ
màu đen hoặc xanh) như ở cổ diêm2, bờ nóc, bờ quyết lầu Ngũ Phụng, điện Thái
' ThS. Ngôn ngữ học, Giám đốc Bảo tàng c ổ vật Cung đình Huế.

bấy giờ.

1.2. Điện Thái Hoà và thơ trên điện Thải Hoà
1.2.1. Điện Thải Hoà
Điện Thái Hòa (À ÍO P Ỉ) là công trình quan trọng nhất trong Hoàng Thành
(J Ê $ ) Huế, làm nơi đặt ngai vua và tổ chức các lễ đại triều từ năm 1805 (từ khi xây
dựng) đến năm 1945 (từ khi chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam). Trải qia nhiều
thời kỳ tu sửa, trùng tu, nhưng về cơ bản, ngôi điện này vẫn còn bảo tồn được
những giá trị, nhất là về các chi tiết trang trí giàu tính thẩm mỹ và nhân văn của nỏ.
Điện Thái Hòa nằm trên trục chính của Hoàng Thành, có kết cấu theo kiểu
“trùng diêm trùng lương” 1, là một kết cấu gồm hai phần nhà trước và nhà sau (đều
7 gian 2 chái) được nối với nhau bằng một hệ thống trần thừa lưu2. Ngôi dện này
được xây dựng trên mặt bằng có chiều dài hơn 40m, chiều rộng hơn 30m với diện
tích ước tính trên 1.200m2. Nóc nhà trước cao hơn 8m, nóc nhà sau cao hơn lOm.
Toàn bộ công trình được kết cấu có tính kỹ thuật từ 80 cột gỗ liên kết với nhíu bằng
một thống vì kèo, xuyên, trến... rất vững chắc. 80 cột gỗ này đều được sơn íon thếp
vàng, trang trí bằng mô-tip long vân thủy ba (rồng ẩn vân và sóng nước).
1. Trùng diêm trùng lương (M
M %&): trùng mái, trùng xà. Phần cuối mái sau cùa nhà
trước, phần đầu mái trước của nhà sau và hệ thống xà đỡ có độ cao trùng với nhai, nối kết
bằng trần thừa lưu.
2. Trần thừa lưu
3ÍĨ ): Là hệ thống máng xối với hai phần: phần đỡ phía dưới thiờng làm
bằng gồ, phần máng xối bên trên thường làm bằng đồng, còn gọi là trần vỏ cua vì độ cong
của trần có hình như một cái vỏ cua.

572


THƠ CHỮ HÁN TRÊN ĐIỆN THÁI HÒA.

các bii hơ (thể ngũ ngôn), có khi một bài được thể hiện hoàn chỉnh trên một ô; có
khi rrộtbài lại được thể hiện trên 02 ô liên tục (mỗi ô gồm 02 đoạn, mỗi đoạn gồm
02 câi). căn cứ vào lô-gic nghĩa và vần để ghép thành một bài.
rỉeo điều tra của chúng tôi, tổng cộng số lượng thơ ở điện Thái Hòa nguyên
thuỳ ;ó201 bài. Hiện nay, có 179 bài đủ chữ; cỏ 03 bài bị mất một chữ; có 08 đoạn
khôn' >ác định được (trong đó có 2 đoạn, mỗi đoạn bị mất 1 chữ); có 10 bài bị mất
\. Ô lộc Là một thuật ngữ cùa ngành nghiên cứu lịch sử kiến trúc, chi hiện tượng chia nhỏ các
hệ tiốig liên ba, bờ nóc, cổ diêm trên công trình thành các ô để trang trí.

573


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ T ư

toàn bộ; có 01 bài bị mất nhiều chữ. Do đó, tư liệu đợc xác định ở đây là số các bài
thơ hiện còn với tổng số là 191 bài (trong đó, có 179 bài nguyên vẹn, 12 không
nguyên vẹn).
Một vấn đề đáng quan tâm khác là sự phân bố đề tài thơ trang trí tại vị trí nội
và ngoại thất cũng thể hiện một quan điểm khá đặc biệt. Quan sát bước đầu cho
thấy, trên hệ thống mái, các bài thơ (gồm 43 bài hiện còn tại vị trí bờ nóc, bờ mái,
cổ diêm) đều mang nội dung tập trung chủ yếu là bày tỏ hoài bão đối với đời sống
nhân dân, tự hào về đất nước. Trên các chi tiết gỗ ở điện tập trung nhiều tại các vị
trí trong nội thất (gồm 148 bài hiện còn trên các liên ba), các bài thơ đều mang nội
dung chủ yếu là khẳng định ngôi vua, khẳng định triều đại, khẳng định về vị thế đất
nước. Những điều này cho thấy tính chất trang trí ở đây đã tạo nên một ý nghĩa có
sự đối lập, thể hiện một mục đích khá rõ: thơ ở ngoại thất điện có'xu hướng hướng
ra bên ngoài, hướng về việc tổ chức đất nước, quan tâm đến đời sống nhân dân; thơ
ở nội thất điện có xu hướng hướng vào bên trong, hướng vào triều thần, quan lại,
hướng vào việc tổ chức bộ máy, chế độ. Nhưng cả hai xu hướng này đều được
thống nhất trong mục đích “ngôn chí” của chủ thể sáng tạo mà chúng tôi sẽ đề cập ở

thống thơ trên di tích mới có thể có kết quả. Hiện nay, chưa có nhà nghiên cứu nào lưu tâm
vào việc này.

5 74


THƠ CHỮ HÁN TRÊN ĐIỆN THÁI HÒA.

ngoại thất, ở trên một tấm pháp lam đề thơ dã đề cập đến vấn đề tác giả một cách
mơ hồ như sau: thơ vua làm, mười ba bài (fêp
fệ + E. M ngự chế thi thập tam
thủ). Điều này rất khó để xác định: thơ vua làm, vua ở đây là vua nào, khi mà ngôi
điện này đã trải qua cả một quá trình xây dựng, cải tạo dưới nhiều triều vua (?); rồi
mười ba bài, thế các bài còn lại không của vua làm (?). Điều đáng nói nừa là, tại vị
trí xác định “ngự chế thi thập tam thủ ” vừa nêu, dù ghi là mười ba bài, nhưng thực
tế chi có mười hai bài (kể cả một bài bị mất toàn bộ), điều này cũng rất khó hiểu1.
Nhìn chung, thơ trên điện Thái Hòa là mơ hồ về tác giả, người viết tạm xác định tác
giả của nó là triều Nguyễn.
2.
T ừ một sổ đặc điểm ngôn ngữ đến đặc điểm nội dung chủ đề của thơ
trên điện Thái Hoà
Nhin một cách khái quát, điện Thái Hòa là một kiến trúc truyền thống có giá
trị về lịnh sử và nghệ thuật. Thơ trên điện Thái Hòa với số lượng hiện còn là 191 bài
(kể gộp cả những bài bị mất chữ và các đoạn 02 câu) tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau
tại ngôi điện này đã tạo nên một “chỉnh thể văn bản” có những giá trị gắn kết với
những nội dung tư tưởng nhất định.
2.1. C hừ và các chủ đề
Thơ trên điện Thái Hòa như đã trình bày là điển hình cho loại thơ suy lý, dĩ
nhiên vẫn có nhừng bài mang tính chất tự tình, tả cảnh nhưng cũng không nằm
ngoài nội dung ngôn chí, bày tỏ chí hướng trong sự nghiệp, bày tỏ hoài bão về đời

đó là tần số xuất hiện trung bình của mỗi chữ.
Trong hệ thống thơ trên điện Thái Hòa có khoảng 75% số chữ xuất hiện với
tần số 3 lần trở xuống, thấp hơn mức trung bình; 25% còn lại xuất hiện với tần số 4
lần trở lên, cao hơn mức trung bình, trong đó có nhiều chữ xuất hiện ở rất nhiều bài
với tần số rất cao. Diễn biến cụ thể như sau:
- Số chữ sử dụng dưới mức trung bình: 497 chữ sử dụng 1 lần; 211 chừ sử
dụng 2 lần; 114 chữ sử dụng 3 lần.
- Số chữ sử dụng trên mức trung bình: 66 chữ sử dụng 4 lần; 36 chữ sử đụng 5
lần; 28 chữ sử dụng 6 lần; 25 chữ sử dụng 7 lần; 9 chữ sử dụng 8 lần; 13 chừ sử
dụng 9 lần.
- Số chữ sử dụng trên mức trung bình, đặc biệt trên 10 lần: 12 chữ sử dụng 10
lần; 6 chữ sử dụng 11 lần; 7 chữ sử dụng 12 lần; 7 chữ sử dụng 13 lần; 12 chữ sử
dụng 14 lần; 4 chữ sử dụng 15 lần, 4 chữ sử dụng 16 lần; 3 chữ sử dụng 17 lần; 4
chữ sử dụng 18 lần; 5 chữ sử dụng 19 lần; 3 chữ sử dụng 20 lần; 3 chữ sử dụng 21
lần; 2 chữ sử dụng 22 lần; 3 chữ sử dụng 23 lần; 3 chữ sử dụng 24 lần; 2 chữ sử
dụng 26 lần; 1 chữ sử dụng 31 lần; 3 chữ sử dụng 34 lần; 1 chữ sử dụng 35 lần; 1
chữ sử dụng 44 lần; 1 chữ sử dụng 50 lần.
“Theo phương pháp thống kẽ ngôn ngữ học, nếu tỳ lệ giữa sổ lượng các từ
khác nhau và độ dài văn bản mà càng lớn thì điểu đó chứng tỏ rằng việc sử dụng
kho từ vốn có cùa tác giả là phong p h ử '\ Do đó, ở đây có thể cho rằng, 75% sổ chữ
xuất hiện dưới mức trung bình đã phản ảnh vốn từ ngữ được sử dụng trong thơ trên
điện Thái Hòa là phong phủ (từ dùng đa dạng, không trùng lắp). 75% sổ lượng chữ
được sử dụng dưới mức trung bình thể hiện độ phân tích tính cao của lớp từ vựng,
nó thể hiện vốn từ vựng được sử dụng là khá lớn, có hiện tượng đồng nghĩa từ
vựng, nhiều chữ nhưng diễn đạt cho một nghĩa trong một nội dung, chủ đề có tính
tập trung. Điều này thể hiện sự uyên bác của chủ thể sáng tạo.
25% số chữ xuất hiện trên mức trung bình phàn ánh một đặc điểm khá đặc
biệt, đối lập hoàn toàn với con số 75% trên. Xét ở góc độ dùng chữ, trước hết có
1. Nguyễn Tài c ẩ n (2003), Một số chứng tích về ngón ngữ, văn tự và văn hóa , Nxb. Đại học
Quốc gia, Hà Nội, trang 197.

khu biệt của người sử dụng ngôn ngữ, của chủ thể sáng tạo:
+ Thơ trên điện Thái Hòa chù yếu tập trung màng đề tài liên quan đến không
gian của đời sống cung đình triều Nguyễn, tần số các chữ liên quan đến không gian
của cung đình như, những vật thể chiếm vị trí trone không gian: đình ( 0 ) : sân triều
(10 lần); điện (1$): cung điện (9); đường (it): nhà lớn (13); các (K ): gác (6); vũ
( ^ ) : mái hiên lớn (8); môn (F^): cửa (7) ; bệ (í?ê): nơi đặt ngai vua (7); ngự (fêP):
chi về vua, vật dụng của vua (11); bên cạnh những vật thể khác: kỳ (ÍH): lá cờ (7);^
( $ ) : áo (13); quan (H ): mũ (8); thậm chí cả kim (ái): vàng, kim loại vàng (19);
ngọc ( 5 ) : ngọc ngà (20); và với tính chất gắn liền nhĩrnc sinh hoạt vui tươi: hỷ
( § ) : vui (7), hoan hi; ca (ifc): ca hát (12); nhạc, lạc (!ậl): âm nhạc, vui vẻ (21);
khánh ( 0 ) : vui vẻ, hân hoan (6) v.v. Hộ thống này rất dối lập với những hình ảnh
về đời sổng bên ngoài chốn Hoàng cung: dân (K ): nhân dân (8); chúng (flẴ): dân
chúng (5); sương (Jfë): cái chái nhà nhỏ, dùng làm nơi chứa lương thực (2); thương
( jg): cái bịch đựng thóc (1); dã (I?): chốn hoang dã , dồng nội (3); điền (E3): đong
ruộng (1); ngiru ( ^ ) : con trâu ( 1) v.v...

577


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THÚ TƯ

+ Thơ trên điện Thái Hòa thường đề cập đến những vấn đề lớn, có xu hướng
chỉ về tính thống nhất, sự hòa hợp: thái (như đã nêu); đại (À ): to, lớn (17 lần);
trường, trưởng (fü): dài, lớn lên (10); cộng (& ): cùng chung (14); đồng (Ịạị): đều,
cùng (18); quần (Sặ): hội tụ (11); thường đặt các hiện tượng được nói đến vào tính
chất chỉ sự sáng sủa, tốt đẹp, tươi mới trong sự phát triển, trong sự thành công: minh
(BE): sáng (23); quang ()£): sáng (23); khai (Hü): mở, mở ra, mở mang (18); “các
loại” diệu (BỊi,
&Ị?): đẹp đẽ, sáng sủa, kỳ diệu (10); tân (Iff): mới mẻ (16); thành
($,): thành công (10); lệ (M): tráng lệ, đẹp đẽ (6) v.v...


578


THƠ CHỬ HÁN TRỂN ĐIỆN THÁI HÒA.

bài (chiếm tỷ lệ 13%); chữ Thải (Ằ , ặ l) có trong 18 bài (chiếm tỷ lệ 9,4%); chữ
Đại (À ) có trong 17 bài (chiếm tỷ lệ 8,9%); chừ Quốc ( ũ ) có trong 16 bài (chiếm
tỷ lệ 8,3%); chữ Đức (Ü ) có trong 17 bài (chiếm tỷ lệ 9,0%); chữ Văn (3t) có
trong 14 bài (chiếm tỷ lệ 7,3%); chừ Tứ ( 0 ) có trong 28 bài (chiếm tỷ lệ 14,6%);
chữ Thiên ( í ) có trong 20 bài (chiếm tỷ lệ 9,9%); Nghiêu (H ) có trong 14 bài
(chiếm tỷ lệ 7,3%); Thuấn (lậ ) có trong 12 bài (chiếm tỷ lệ 6,2%); chữ Xuân ( # )
có trong 35 bài (chiếm tỷ lệ 18,3%)Việc sử dụng các chữ này đều có những dụng ý khác nhau. Hiện tượng xuất
hiện các chừ mà chúng tôi đánh giá là “khá đặc biệt” trong bổi cảnh của văn bản
nghệ thuật như vậy sẽ nhắm đến những chù đích nghệ thuật khác nhau của người
sản sinh ra chúng:
Chữ Thiên (trời, ông trời): xuất hiện trong các trường hợp thiên (ông trời);
thiên thanh (trời trong), thiên tâm (lòng trời), xuân thiên (trời xuân), thiên ngữ (lời
nói của trời), thiên địa (đất trời), thiên tế (ven trời), thiên đạo (đạo trời), thiên nhạc
(nhạc của trời), thiên nữ (cô gái nhà trời), thiên cù (đường trên trời), thiên nhan
(dung nhan của trời), thiên phổ (trời rộng), quang thiên (ánh sáng của trời), trung
thiên (giừa trời), cửu thiên (chín tầng trời), thiên chương (văn của trời), thiên tinh
(sao trời), thiên Nam (trời Nam), phổ thiên (khắp trời); thiên đức (đức của trời),
thiên hạ (thiên hạ, mọi người), thiên luân (tơ trời), quân thiên (đấng tối cao, chỉ
trời), thiên kinh (kinh đô của trời), thiên tử (con trời, vua), thiên uy (oai trời).
Ở trên, có thể ngoại trừ trường hợp thiên hạ (đã chuyển nghĩa gốc là “dưới
trời” để hàm nghĩa là con người khắp hành tinh, mọi người trong thiên hạ) thì tất cả
các trường hợp còn lại đều có liên quan đến hình thải nghĩa ban đầu đó là “trời”
(chỉ về một nhân vật siêu nhiên, chỉ về một không gian của tự nhiên).
Chừ Thiên ở đây xuất hiện với tần sổ khá cao ỉà có cơ sở lịch sử và xã hội của

linh. Trong quan điểm chính trị của chế độ quân chủ, mệnh trời luôn được dùng như
một khái niệm để quảng bá cho một quyết tâm lớn, để khẳng định tính tất yếu cùa
triều đại nào đó mới được thiết lập hoặc giả là để củng cố cho “giềng mối” chính
thống của một dòng vua. Quan niệm về mệnh trời của Nho giáo cũng đã để lại nhiều
dấu ấn sâu đậm trong tục lệ cổ truyền, điển hình nhất là lễ Tế Giao (tế trời, cầu mưa
thuận gió hoà), chỉ có Thiên tử mới được làm chủ tế v.v. Trời được quan niệm với
một uy đức mang tính phổ quát, cho nên người đứng đầu đất nước, thay trời để điều
hành xã hội, phải thuận lòng trời mới có thể làm cho muôn dân ấm no, hạnh phúc,
ngước lại, nếu trái ý trời thì muôn dân sẽ lâm vào kiếp nạn đắng cay, khổ nhục. Đó
quan niệm có tính tuyệt đối hóa về vai trò quyết định của mệnh trời.
Qua 43 lần tồn tại trong 42 bài thơ, chữ thiên có hướng được sử dụng với chù
đích như thế, hoặc chí ít cũng do người sử dụng bị ảnh hưởng nặng về về lỗ trời như
đã trình bày.
Bên cạnh việc đề cao thuyết “Thiên mệnh” như đã nêu ở trên, xem vua là con
trời, đề cao vai trò của “thiên tử” trong việc “thụ mệnh trời” để cai quản thiên hạ,
1. Cách đánh số các bài thơ do chúng tôi tự đặt. Trong đó, ở ngoại thất, phần điện trước đuợc
quy ước trình bày có ký hiệu viết tắt là A .l; phần điện sau được quy ước trinh bày là A.2.
Theo đó, tất cả các bài thơ đều được đánh số chạy từ 1 đến 41 cho phần tiền điện và từ ì đẻn
32 cho phần hậu điện. Thơ được trang trí tại các vị trí bờ nóc mái (ký hiệu là N), cổ diêm
mái trước (ký hiệu là C D ) , cổ diêm mái trái (ký hiệu là CDT), cổ diêm mái phải (ký hiệu là
CDP). Tương tự, đối với nội thất điện, chúng tôi cũng chia sự phân bố thơ làm hai khu vực
chính: điện trước và điện sau. Trong đó, phần điện trước được quy ước trình bày là B.l\
phần điện sau đuợc quy ước trình bày là B.2. Tất cả các bài thơ cũng đều được đánh số chạy
từ ỉ đến 90 cho phần tiền điện và 1 đên 28 cho phân hậu điện. Thơ được trang trí tại các vị
trí liên ba hàng cột 3 dãy trên (ký hiệu là LB3t) và dưới (ký hiệu là LB3d); Hên ba hàng cột
2 dãy trên (ký hiệu là LB2t) và dãy dưới (ký hiệu là LB2d); liên ba hàng cột 1 (ký hiệu là
LB1); liên ba hàng cột 8 (LB8); liên ba hàng cột 7 mặt trước (ký hiệu là LB7t); liên ba hàng
cột 7 mặt sau (ký hiệu là LB7s); liên ba vách hậu điện (ký hiệu là LBV).

5 80

đến vua, đến triều đình.
Có thể thấy ràng, bên cạnh các văn bản hành chính có tính chất quản lý nhà
nirớc vào thời Nguyễn như: luật, chiếu, lệ, lệnh, chi, dụ, sắc, biểu, tấu, sớ cũng
như các loại công văn khác (truyền thị, giáo thị, tư di, trát, tờ bẩm, tư trình V.V.),
thơ trên điện Thái Hoà thường xuất hiện từ đế vương, thiên tử, thánh nhăn đã biểu
hiện rõ nhừng ý đồ của triều Nguyễn, nhắm vào hai mục đích: một là, trong quan hệ
đối nội, khiến cho trăm họ thấy rằng đây là triều đại mới thiết lập, sự lên ngôi chính
thống của vị vua mới, xã hội đã được xác lập tôn ti; hai là thực hiện ý đồ đối ngoại,
công bố về quyền tự chù của đất nước đối với các nước khác. Trong lịch sử trung
đại, Trung Hoa luôn xem Việt Nam là một nước nhỏ, như một chư hầu và vua Việt
Nam phải chịu “thụ phong” . Văn kiện ngoại giao của Trung Hoa gửi Việt Nam
581


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN THỨ T ư

thường xuất hiện cụm từ “Ẩn Nam quổc vương” {Quốc vương là một khái niệm chi
vua các nước nhỏ, nước chư hầu của Trung Hoa). Ngay từ khi mới lên ngôi, vua
Gia Long đã cử sứ giả sang Trung Hoa xin đặt quốc hiệu mới, thay quốc hiệu Đại
Việt, đến tháng 6 năm 1804, nước ta mới có quốc hiệu là Việt Nam (ÍS ĩ®). Nhưng
đến triều Minh Mệnh, năm 1838, vua lại chủ động [người viết nhấn mạnh] đổi quốc
hiệu thành Đại Nam (Ẩ ĩ?3) với lý do: “Trước xưng là Việt Nam, nay xưng là Đại
Nam, danh nghĩa đểu rõ, mà chữ Việt đã cũng cỏ trong nghĩa chữ ấy [tức nghĩa
trong chữ Đại, người viết] r ồ r *. Đó là cách để tự khẳng định, và cũng như nhiều
triều đại trước, đặc biệt hơn, bàng cách công bố tính cách “đế” với chân mệnh
“thiên tử” qua thơ ngôn ngữ như thế, triều Nguyễn cũng đã tiếp tục khẳng định vị
thế của đất nước trong quan hệ với các nước khác, tất nhiên đối với Trung Hoa, tất
yếu triều đình vẫn giữ thái độ e dè, để ưánh “búa rìu” của một nước lớn. Với Mãn
Thanh, triều Nguyễn vẫn tỏ ra thần phục và lệ thuộc. Với các nước lân bang khác,
triều Nguyễn thực hiện chính sách lấn át, xem các lân bang là những nước nhỏ. Đó


cùng xuât hiện các nét nghĩa: to lớn, tôt đẹp, yên ôn. Nêu cộng tỷ lệ sử dựng hai chừ
này (không kể chữ hồng) trong 191 bài thơ, thì sẽ có 18,6% các bài thơ có dùng một
trong hai chừ có nghĩa tương đương này, là một tỷ lệ khá cao.
Chừ Quốc (quốc gia, đất nước): xuất hiện trong các trường hợp: vạn quốc
(vạn nước), quốc thế (hình thế đất nước), quốc dung (vóc dáng đất nước), viễn quốc
(các nước ở xa), quốc uy (uy phong của đất nước). Ngoài ra, có thể kể thêm trường
hợp chữ Đồ
(cơ đồ) cũng là một hiện tượng cần bàn đến. Chữ Đồ xuất hiện trong
09 lần ở các trường hợp: vạn lý đò (cơ đồ muôn dặm), hồng đồ (cơ đồ to lớn), cơ đồ
(cơ đồ), hùng đồ (cơ đồ hùng vĩ).
Ba nhóm chữ vừa nêu (thái, đại, quốc) và thêm hai trường hợp khác (hồng,
đồ) vừa đề cập dường như có một mối quan hệ về trường nghĩa với nghĩa liên tưởng
là: sự to lớn, sự tốt đẹp trong mối liên hệ với đất nước, cơ đồ.
Ý thức về một quốc gia độc lập, một đất nước có chủ quyền, thống nhất, do
vậy thơ ưên điện Thái Hòa mới xuất hiện hàng loạt các nội dung có cùng trường
nghĩa:
+ Cộng lạc thải bình thì
A.2.19.LB),

cùng vui với thời thái bình (Bài

+ Thải bình tân chế độ (* ¥ $ í$ lj® ):c h ế độ mới thái bình (Bài B1.2.LB3d),
+ Tam dương thải vận khai (—
thông (Bài B1.58.LB2),
+ Đô tại thải hỏa trung
B1.69.LB1) v.v...

tháng giêng mở ra vận hội hanh


thánh đức (đức của bậc thánh nhân); đế đức (đức của vua); nhất đức (chỉ có một
đức); minh đức (đức sáng); Thang đứ c (đức của vua Thang); đ ạ o đứ c (đạo đức); chí
đức (đạt đến đức) v.v... Đó cũng là sự bày tỏ ước nguyện “đạt đức” của người quản
tử trong tư tưởng Nho gia.
Tự hào về một đất nước đã được thống nhất, triều Nguyễn đã đề cao những
truyền thống văn hóa, văn hiến, văn vật của Việt Nam. Tôn trọng và tự hào về nền văn
hóa của dân tộc, triều Nguyễn đã tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị đó, GS.
Trần Văn Giàu từng tổng kết: “Không có thời nào, văn hóa phát triển như thời Ngiỉyĩn
(...) Cỏ thể nói sự phát triển văn hóa dưới thời Nguyễn tương đương với sự thống nhất
quốc gia. Sự thong nhất về chỉnh trị thúc đẩy sự phát triển văn hóa rất nhiều” 1.
Ý thức về truyền thống văn hóa đã chuyển hóa thành những nội dung trong
thơ trên điện Thái Hòa. Ta xét tiếp trường hợp:
+ Chừ Văn (văn vẻ, cái đẹp) xuất hiện ờ trong các trường hợp: văn hiến (văn
hiến), văn tu (trau dồi cái đẹp), văn vật (văn vật), văn công (văn hóa tốt đẹp), văn
đóa (đóa hoa văn), văn phong (phong tục văn hóa), văn quỹ (là tổ hợp rút gọn của
điển tích xa đồng quỹ, thư đồng văn tự .), văn uyên (chim uyên lộ), tinh văn (ngôi
sao đẹp).
Trong thơ trên điện Thái Hòa, không kể các trường hợp khác, các khái niệm
như văn hiển được nhắc đến 3 lần, vãn vật được nhắc đến 2 lần, văn phong được
nhắc đến 2 lần với bối cảnh cụ thể như sau:
+ Văn hiến thiên niên CỊCU

A.2.20.LB), Đường đường văn hiển quốc

xưa văn hiến ngàn năm (Bài

nước rực rỡ nền văn hiến

1. Trần Văn Giàu (1992), “Vài nhận xét về thời nhà Nguyễn”, in trong Những vấn đề văn hóa
xã hội thời Nguyễn , Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 19.

bề tôi giỏi (Bài B1.46.LB2d), Thiên tải khảnh trinh tường ( í Ệ Ỉ S l í ẫ í ặ ) : ngàn đời
luôn chúc mừng điềm lành (Bài B1.79.LB1);
1. Quốc sử quán triều N guyễn (1978), Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà N ội, Tập XXIV, trang 137, 409.

585


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỨ T ư

+ Văn hiến thiên niên cựu (X IX í ¥ flf): xưa văn hiến ngàn năm (Bài
A.2.20.LB),Văn hiển thiên niên quốc (;£ XX í ¥ 18): nước có nền văn hiến hàng
ngàn năm (Bài B 1.1. LB3d);
+ Tứ hải ngưỡng xuân phong ( 0 M itp # HI): bốn biển nghênh đón gió cúa
mùa xuân (Bài A.2.18.LB), Tứ hải ngưỡng hoàng phong ( 0 M icp M JS): bốn biến
đều ngưỡng mộ phong hoá của vua (Bài A.2.25.LB); Tứ hải cộng tuân vương
( ữ m h m ầ ) : bốn biển cùng noi theo nhà vua (Bài B1.57.LB2), Tứ hải cộng
vương thần (R 3 /ặ ^ 3 E Ẽ ): bốn biển cùng là vương thần (Bài B2.20.LB7t), Tứ hải
cộng chiêm y ( R a » « * « ) : bốn biển cùng nhau trông lên mà noi theo (Bài
B1.40.LB2d), Tứ hải cộng chiêm y
bốn biển cùng nhau trông lên mà
noi theo (Bài B1.77.LB1>.
Và còn khá nhiều trường hợp khác nữa.
Những kiểu trình bày công thức trên không phải là ngẫu nhiên, không phải là
sự “bế tắc chữ nghĩa”. Hiện tượng này phản ảnh cái tập quán “giáo điều” trong mối
hệ lụy và ràng buộc của những khuôn phép. Đó là “dấu ấn ngôn ngữ” in sâu vào
những khuôn mẫu, không thoát ra được những công thức diễn đạt. Điều này còn cắt
nghĩa thêm cho tính chất “nghi thức, hành chính” của một hệ thống ngôn ngữ thơ
ca. Điển hình nhất là bài thơ ngay tại vị trí trung tâm của điện TháiHòavới một ấn
tượng giàu tính tuyên ngôn:

chính nhiều lần; sử dụng những hình thức câu thơ trùng lắp về nội dung. Bên cạnh
vốn từ ngừ với 75% chữ được sử dụng dưới mức trung bình phản ánh một số lượng
từ ngừ phong phú, các dạng thức trùng lặp khác (trong việc dùng chữ, dùng tổ hợp
từ ngữ, dùng tổ hợp câu) đã phản ảnh khá rõ về một kiểu thơ có tính chất hướng
ngoại trong mục đích “giao tiếp” rất đặc biệt.
Qua việc khảo sát, phân tích trên, thiết tưởng cũng cần nhấn mạnh về tính
tuyên ngôn của thơ ca trên điện Thái Hòa. Thực chất, ngôn ngữ thơ ở đây đã biểu
hiện một quá trình chuyển hóa trong “tập quán ngôn ngữ cung đình”, những nội
dung mà đáng lý được trình bày ở một dạng văn bản có tính cách hành chính, thì
ưèn điện Thái Hòa chủng lại được trình bày ờ dạng thơ trong phong cách nghệ
thuật. Một hệ thống thơ với 764 câu trong 1.078 chữ có tần số xuất hiện như đã đề
cập, có sự trùng lắp về câu chữ ở rất nhiều trường hợp như thế đã nói lên rằng, triều
Nguyễn đã đùng thơ như “công cụ bổ sung” cho việc trị nước: để giáo huấn, để bày
tỏ lý tưởng, để bày tỏ ước mơ, để khẳng định về triều đại mình. Tính chất đó mang
đậm màu sắc chính trị, triều Nguyễn đã dùng văn hóa nghệ thuật trong hoạt động
chính trị của mình phục vụ nhận thức về lý tưởng thẩm mỹ. Lý tưởng đỏ có thể
chưa phải là cái có thực, mà thường là chi biểu hiện thông qua những ước mơ. Ước
mơ đó nằm ở tầng thế giới quan và có thể nhận thức được: phản ảnh ước mơ theo
cảm quan thế giới và cảm quan xã hội về điều cần phải xảy ra.
3. Kết luận

v ề đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, thơ trên điện Thái Hòa có một hệ thống chữ
nghĩa, từ ngữ, hệ thống loại câu giống nhau, gần nhau được sử dụng với tần số cao
phản ảnh rõ bản chất về phương cách sử dụng có đặc trưng “mô phạm và nghi thức”
cùa chủ thể sáng tạo. Đây là ngôn ngữ nghệ thuật nhưng để nhàm phù ứng với nội
dung có tính cách tuyên truyền, giáo huấn, bày tỏ hoài bảo nên đã bị “nghi thức
hỏa”. Thực tế này diễn ra rất phổ biến và có tính lặp lại. Do vậy, đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ ở đây đã chỉ ra rằng, có thể quan niệm thơ trên điện Thái Hòa là những
tuyên ngôn bằng thơ, chủ thể sáng tạo đã dùng thơ như một công cụ để tuyên truyền
cho chế độ và những ý thức hệ chính trị của chế độ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status