ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
PHẠM THỊ THANH THỦY
NGHỆ THUẬT CHÂM BIẾM VÀ ĐẢ KÍCH
TRONG VÈ NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Xuân Kính
Hà Nội - 2009
3
MỤC LỤC
Trang
Danh mục từ viết tắt, ký hiệu ................................................................ 2
Danh mục ảnh, bảng biểu ...................................................................... 2
Mở đầu ..................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................
3
.....
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................. 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................... 7
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 8
4
2.3.1 Thế nào là yếu tố tục ............................................................
2.3.2 Sử dụng yếu tố tục trong văn học dân gian ..........................
2.4 Sử dụng thủ pháp phóng đại, cường điệu ......................................
2.4.1 Thế nào là thủ pháp phóng đại, cường điệu .........................
2.4.2 Thủ pháp phóng đại, cường điệu trong văn học dân gian ....
2.5 Sử dụng thủ pháp so sánh ví von ...................................................
2.5.1 So sánh là gì .........................................................................
2.5.2 Sử dụng thủ pháp so sánh trong vè
......................................
Chương 3: Các thủ pháp thể hiện trong một tác phẩm vè ..................
3.1 Đi chợ ăn quà .................................................................................
3.1.1 Giới thiệu tác phẩm ..............................................................
3.1.2 Phân tích thủ pháp ................................................................
3.2 Vè chửi Pháp và vua quan ..............................................................
3.2.1 Giới thiệu tác phẩm ..............................................................
3.2.2 Phân tích thủ pháp ................................................................
3.3 Vè nói ngược đời nay .....................................................................
3.3.1 Giới thiệu nhân vật và tác phẩm ...........................................
3.3.2 Phân tích thủ pháp ................................................................
57
58
65
66
66
75
75
kích trong vè đã tạo nên những nét riêng so với các thể loại khác (ca dao,
truyện cười, câu đố…) trong văn học dân gian và các thể loại trào phúng khác
trong văn học thành văn.
Tiếng cười trong vè có nhiều cung bậc khác nhau: lúc thì nhẹ nhàng, mỉa
mai, châm biếm, lúc thì quyết liệt, dữ dội. Ở đề tài này cũng không ngoài mục
đích đi vào nội dung tiếng cười đó để thấy được nét sắc mạnh độc đáo của vè.
Không những vậy, trong xã hội xưa cũng như ngày nay còn tồn tại vô vàn thói
hư tật xấu, những hành động vi phạm đến phong tục, tập quán và đạo đức của
nhân dân. Đấy là những tàn dư của xã hộ cũ cần phải quét sạch. Vè đã góp
tiếng nói của mình làm cho những kẻ có tật phải giật mình và nêu bài học
cảnh tỉnh cho những kẻ khác.
Chính vì lý do trên, chúng tôi đã chọn: “Nghệ thuật châm biếm và đả
kích trong vè người Việt” làm đề tài nghiên cứu. Hơn nữa, đây là một đề tài
xưa nay rất ít người để ý nghiên cứu đến và cho đến nay vẫn còn là mảnh đất
màu mỡ cho những ai tiếp tục công việc nghiên cứu, tìm tòi và khám phá.
Ở đề tài này chúng tôi không có tham vọng gì lớn mà chỉ đặt cho mình
yêu cầu khám phá, hệ thống hoá một vấn đề, trên cơ sở đó suy nghĩ tập dượt,
6
tìm tòi với hy vọng có thể thêm được một đôi ý kiến nhìn nhận mới cho vè
người Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Kho tàng vè người Việt cho đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng trong
việc nghiên cứu văn học dân gian. Nó đã và đang được nhiều nhà khoa học
trực tiếp hay gián tiếp bàn đến trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Vè có từ bao giờ, chưa ai có thể khẳng định dứt khoát. Có thể vè đã manh
nha từ trước nhưng chỉ phát triển thành thể loại lớn từ thế kỷ XVI, đặc biệt là
thế kỷ XVII về sau, đáp ứng nhu cầu bức thiết phản ánh thực tại xã hội một
địa phương thiên về ghi chép, tường thuật người thực, việc thực, ít chú trọng
đến hư cấu nghệ thuật. Với giáo trình này, vè trở thành một mục (mục VII)
trong phần thứ tư – phần nói về “thơ ca dân gian”. Các tác giả chia vè thành
hai loại chính: vè thế sự và vè lịch sử.
Đến Văn học dân gian Việt Nam, tập hai, giáo trình của trường Đại học sư
phạm do Hoàng Tiến Tựu viết, Nhà xuất bản Giáo dục năm 1990 thì vè được
nâng lên thành một phần trong năm phần của tập sách này, nghĩa là đã có chỗ
đứng xứng đáng với thể loại mà nhân dân đã sáng tạo trong quá trình lịch sử.
Hoàng Tiến Tựu cho rằng: vè không phải là một hình thức thơ mà vè là loại
tự sự bằng văn vần được biểu hiện dưới hình thức nói hoặc kể, chủ yếu nhằm
phản ánh kịp thời và cụ thể về những truyện về người thực, việc thực ở từng
địa phương. Vè giống một loại khẩu báo (báo miệng) của nhân dân, rất gần
thể kí trong văn học Việt Nam. Khác với ca dao vè thiên về tính tự sự, thông
báo sự việc, ít tính trữ tình và ít chú ý trau chuốt về hình thức. Đó là những
nét nổi bật của vè, ông cũng chia vè ra làm hai loại là vè thế sự và vè lịch sử.
Trong Hát dặm Nghệ Tĩnh, tập một, ông Nguyễn Đổng Chi cho rằng: vè
vốn có những đặc trưng cơ bản của nó. Trước hết, vè là một loại văn vần kể
chuyện (tự sự) tường thuật sự việc nếu như người ta có dùng vè để thuyết lý
hay sự tình thì cũng thông qua phương pháp kể chuyện. Vè thường cho phép
người ta kể lể rông dài, không trau chuốt câu văn, ít khi đếm xỉa đến niêm
8
luật, vần điệu. Ông nói: Về mặt hình thức, vè còn mang tính thô sơ của một
loại phác thảo, một thứ văn ghi chép sự việc nóng hổi tựa như loại văn phóng
sự. Về tính chất thì vè mang nhiều tính thời sự, tính cụ thể và tính địa phương
hơn ca dao. Như vậy các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã có cái
nhìn tương đồng về vè.
Vè là một loại tự sự bằng văn vần, chú trọng người thật việc thật diễn ra
nhau nhưng đều gợi cho chúng tôi những suy nghĩ quý báu, là chìa khoá để
chúng tôi bước vào công trình nghiên cứu của mình được thuận lợi hơn.
Tuy vậy, khi thực hiện luận văn này chúng tôi cũng gặp không ít khó
khăn. Bởi “Nghệ thuật châm biếm và đả kích trong vè người Việt” là một vấn
đề hoàn toàn mới, chưa từng được nghiên cứu. Trong khuôn khổ của luận văn
thạc sĩ, trên cơ sở tìm hiểu và kế thừa những thành quả của những người đi
trước. Chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn góp sức mình vào việc
khám phá những vấn đề còn mới trong kho tàng vè người Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là “Nghệ thuật châm biếm và đả kích
trong vè người Việt”. Tuy vậy, trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi không
thể khảo sát hết được toàn bộ kho tàng vè người Việt.
Để làm rõ vấn đề “Nghệ thuật châm biếm và đả kích trong vè người Việt”
chúng tôi chọn bộ sách: Tổng tập văn học dân gian người Việt, gồm 19 tập do
Viện Khoa học xã hội Việt Nam giữ bản quyền, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội chủ trì phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hoá biên soạn trong hai năm
2001 - 2002. Trong 19 tập, chúng tôi tập trung nghiên cứu tập 13 và tập 14.
10
Ảnh Tổng tập văn học dân gian người Việt
Tập 13: Vè sinh hoạt
Tập 14: Vè chống phong kiến, đế quốc.
Trong hai tập này, chúng tôi chọn 82 tác phẩm có nội dung châm biếm,
đả kích với những tác phẩm tiêu biểu, đại diện cho từng tiểu loại là:
“Vè đánh bạc”
“Đả kích Trần Lệ Xuân”
“Vè trách vua Tự Đức hai lòng”
“Đi chợ ăn quà”
Vè trẻ em
31
Tập 13
4,6
2
Vè vui chơi giải trí
23
Tập 13
3,4
3
Vè kể vật kể việc
179 Tập 13
26,8
4
Vè giáo huấn
Tập 14
8,2
96
Tập 14
14,3
81
Tập 14
12,1
10 Những người anh hùng
41
Tập 14
6,1
11 Một số sự kiện đáng nhớ
10
Tập 14
- Các tài liệu cùng tác giả sắp xếp theo thời gian công bố từ trước đến nay.
- Mỗi tài liệu được sắp xếp theo thứ tự: Họ tên tác giả hoặc tên sách, (năm
xuất bản), “tên bài”, tên tài liệu, tên nxb, trang.
Tài liệu báo, tạp chí
1. Phạm Đình Ân (1984), “Đọc sách Tục ngữ, dân ca, cao dao, vè Thanh
Hoá”, Tạp chí Văn hoá dân gian, H (số2), tr.49,50.
2. Vũ Bằng (1971), “Cái cười trong tục ngữ, ca dao”, Tạp chí Văn học (số
128), tr.54-71.
3. Tôn Thất Bình (1987), “Xét giá trị nội dung và nghệ thuật của các dị bản
vè Thất thủ kinh đô”, Tạp chí Văn học (số 2), tr.46-56.
4. Chu Xuân Diên (1997), “Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn
học dân gian, Tạp chí Văn học (số 9).
5. Ninh Viết Giao (1974), “Tiếng nói đấu tranh giai cấp trong “vè hào hộ” ở
Nghệ An”, Tạp chí Văn học, H (số 1), tr.70-78.
6. Nguyễn Văn Hầu (1959), “Vè - Định nghĩa, nguồn gốc, phân loại”, Tạp
chí Bách khoa, Sài Gòn (số 69).
7. Vũ Tố Hảo (1977) “Ca và vè, từ đặc trưng đến xếp loại”, Tạp chí Văn học
(số 6), tr.43-48.
8. Vũ Tố Hảo (1983) “Thử xác định ranh giới giữa vè lịch sử và sử ca qua
tác phẩm: Mấy bài sử ca trong giai đoạn chống xâm lăng”, Tạp chí Văn
học (số 3), tr.103-107, 176.
13
9. Vũ Tố Hảo (1984) “Vè là một thể loại văn học dân gian mang tính chất
tổng hợp”, Tạp chí Văn hoá dân gian, H (số 3), tr.57-59.
10. Vũ Tố Hảo (1985) “Thử phân loại vè Việt Nam”, Tạp chí Văn hoá dân
gian, H (số 1), tr.50-53.
11. Vũ Tố Hảo (1987), “Sơ đồ phác thảo tiến trình của thể loại vè Việt Nam”,
24. Lê Bá Hán (chủ biên), (1992), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục.
25. Lê Anh Hiền (1985), Truyện cười dân gian Việt Nam chọn lọc, Nxb Giáo
dục, H.
26. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1962), Văn học dân gian Việt Nam,
Nxb Giáo dục, H, tr.400-423.
27. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1973), “Lịch sử văn học Việt Nam Văn học dân gian”, tập 2, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H,
tr.234.
28. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2001), Văn học dân
gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.
29. Vũ Ngọc Khánh, Đặng Huy Vận (1967), Vè yêu nước chống đế quốc
Pháp xâm lược, Nxb Văn học, H, tr.7-25.
30. Vũ Ngọc Khánh, Hồ Như Sơn (1970), Vè yêu nước chống đế quốc Pháp
xâm lược, Nxb Văn học, H, tr.11-26.
31. Nguyễn Xuân Kính (2007), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia H,
tr.215-256, 355-384.
32. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb
Giáo dục, H.
33. Huỳnh Lý (1958), Mấy bài sử ca trong giai đoạn chống xâm lăng, Nxb
Văn hóa, tr.15.
34. Vũ Ngọc Phan (1978), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, in lần thứ tám
Nxb Khxh, H.
35. Hoàng Phê (chủ biên), (2001), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
15
36. Tổng tập văn học dân gian người Việt (2006), tập 13, tập 14, Nxb Khxh,
H.
37. Võ Văn Trực, Phan Hồng Giang (2003), “Tìm hiểu vè làng Hậu Luật”, in
trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt - Nhận định và tra cứu, tập