Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong chương trình tiếng Việt môn Ngữ Văn THCS tiết ôn tập chiếm một vị trí
không nhỏ, đây là những tiết học vô cùng quan trọng. Về cấu trúc chương trình : thời
lượng dành cho tiết ôn tập, tổng kết được bố trí một cách hợp lí, có hệ thống nhằm tạo
điều kiện cho học sinh nắm được bài theo trình tự trong hệ thống ấy. Cụ thể : ở lớp 6 có
hai tiết ôn tập Tiếng Việt ở cuối chương trình ( Tiết 64 và tiết 139 ) Lớp 7 và lớp 8 đều
có 3 tiết ôn tập Tiếng Việt nhưng tới lớp 9 tổng số tiết ôn tập Tiếng Việt là 11 tiết. Điều
này cho thấy việc tăng dần thời thời lượng ôn tập ở các lớp 6, 7, 8 và tăng ở lớp 9 là một
sự thay đổi lớn của chương trình SGK. Tất cả nhằm giúp cho học sinh có thể thực hiện
tốt việc củng cố, hệ thống hóa kiến thức trong một chương trình đã học, nhất là đối với
học sinh lớp 9 chuẩn bị cho các em nắm vững kiến thức để học tiếp chương trình Tiếng
Việt ở trung học phổ thông. Cấu trúc chương trình các tiết ôn tập, tổng kết tiếng Việt như
trên là một lý do khiến giáo viên Ngữ văn thực sự lưu tâm.
Trong những năm đổi mới chương trình sách giáo khoa gần đây, việc dạy tiết ôn
tập, tổng kết thế nào cho tốt chưa được nhiều giáo viên dạy Ngữ văn quan tâm. Đa số
giáo viên rất ngại đăng kí thao giảng, dự giờ vào những tiết ôn tập cuối kì hay tổng kết
cuối năm. Học sinh chưa tích cực trong các tiết ôn tập, tổng kết. Vẫn còn ngại thường
không hay chú ý.
Trong quá trình dạy học, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều phương
pháp dạy học Tiếng Việt khác nhau, nhưng phương pháp dạy một tiết ôn tập như thế nào
thì rất ít tài liệu đưa ra. Như cuốn “ Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt” do tác giả
Bùi Tất Tươm (chủ biên) đưa ra: “Tuỳ từng dung lượng kiến thức phải ôn tập mà giáo
viên thiết kế việc thực hiện hai phần này: Có thể ôn lí thuyết và làm bài tập lần lượt theo
từng nội dung ôn tập. Có thể cho học sinh ôn lí thuyết trước ở nhà để đến lớp ôn lại dưới
hình thức kiểm tra miệng hoặc kiểm tra viết 15 phút. Hoặc đi ngay vào việc làm bài tập
rồi trong quá trình giải các bài tập nhắc lại lí thuyết”. Hay, cuốn “Một số vấn đề về đổi
mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn” đưa ra phương pháp dạy học
hợp tác chia theo từng nhóm nhỏ rất chung chung, không áp dụng vào tiết nào cụ thể.
cơ sở có quan hệ trực tiếp đến năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của thế hệ trẻ, trực
tiếp ảnh hưởng tới vận mệnh của tiếng Việt, vận mệnh của văn hoá Việt Nam.
Tiếng Việt có quan hệ khăng khít với các môn học khác trong nhà trường. Học
sinh muốn lĩnh hội tri thức khoa học phải bằng con đường nghe và đọc. Thầy giáo muốn
tổ chức hoạt động, muốn kiểm ta đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải thông
qua năng lực nói, viết của các em. Có thể nói : không có tiếng Việt sẽ không có bất cứ
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
-2-
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
một hoạt động nào trong nhà trường của chúng ta- nhà trường của người Việt Nam.
Ngược lại, thông qua việc sử dụng tiếng Việt để học tập bộ môn khoa học khác, những
tri thức, kĩ năng tiếng Việt được củng cố, khắc sâu thêm.
Phân môn Tiếng Việt có quan hệ đặc biệt khăng khít với các văn bản là tác phẩm
văn chương. Các tài liệu học tập tiếng Việt chủ yếu được trích ra từ các tác phẩm văn
chương, một loại tài liệu tập trung tất cả những cái hay, cái đẹp của tiếng Việt. Giờ giảng
văn là môi trường tốt nhất để các em có điều kiện thực hành giao tiếp với yêu cầu chuẩn
mực cao, yêu cầu sáng tạo độc đáo. Mặt khác, văn học là nghệ thuật ngôn từ nên không
hiểu biết tiếng Việt, không có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, học sinh không thể cảm,
hiểu và phân tích được các tác phẩm văn chương.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, bài ôn tập và tổng kết tiếng Việt là một mắt
xích không thể thiếu trong quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt. Bài ôn tập, tổng kết
tiếng Việt có mục đích ôn tập, hệ thống hoá và hoàn chỉnh các tri thức đã học sau một
học kì, một năm học, một cấp học. Như vậy có thể coi giờ học ôn tập là một giờ củng cố,
khắc sâu kiến thức tiếng Việt lần 2, thông qua đó học sinh tự đánh giá kiến thức của
mình và chuẩn bị tốt cho kiểm tra học kì I+ II và cả năm học, hay tham gia vào các kì thi
khác ( như thi học sinh giỏi, thi tuyển sinh) mà quan trọng nhất là giúp học sinh có cái
chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng như vậy những tư tưởng tình cảm
nhân cách tốt đẹp có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện, thông qua
thực tế ( học đi đôi với hành, lí thuyết gắn với bài tập luyện tập). Đó là những lí do cắt
nghĩa sự ra đời của phương pháp dạy học mới. Phương pháp tích cực hóa hoạt động của
người học: lấy học sinh làm trung tâm trong đó giáo viên là người tổ chức hoạt động của
học sinh, mỗi học sinh đều được tham gia hoạt động, đều được bộc lộ mình và phát triển
rèn luyện...
Phương pháp tích cực hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
của người học.
- Tích cực hóa trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ học tập.
Động cơ đúng tạo ra hứng thú. Hứng thú đúng là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
-4-
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
là hai yếu tố tâm lý mang tính tích cực. Tính tích cực sản sinh ra nếp tư duy độc lập. Suy
nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo. Ngược lại phong cách học tập tích cực độc lập
sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú bồi dưỡng động cơ học tập.
- Tính tích cực học tập biểu hiện ở những dấu hiệu : Hăng hái trả lời các câu hỏi
của giáo viên( GV), bổ sung các câu hỏi của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước
vấn đề đề ra, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích căn kẽ những vấn đề chưa rõ, chủ động
vận dụng kiến thức kỹ năng đòi hỏi để nhận thức vấn đề mới. Tập chung chú ý vào
những vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành bài tập, không nản trước những tình huống
khó khăn.
- Tính tích cực học tập đạt được những cấp độ từ thấp đến cao:
+ Bắt trước gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy của bạn.
+ Tìm tòi động lập suy nghĩ giải quyết vấn đề nêu tìm kiếm những cách giải quyết
- Chú trong rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập cá thể với phối hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp sự đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Nghị quyết TW 4 khóa VII/1993 đã đề ra nhiệm vụ " đổi mới phương pháp dạy
học ở tất cả các cấp học bậc học " Nghị quyết TW2 khóaVII ( 12-1996) nhận định: "
Phương pháp giáo dục đào tạo chậm được đổi mới, chưa phát huy được tính tích cưc,
chủ động sáng tạo của người học"
Trong những năm gần đây các trường THCS đã xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy
tốt áp dụng một số phương tiện dạy học hiện đại như dạy học ứng dụng công nghệ thông
tin, phát huy được tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh trí thức của học sinh. Tuy nhiên
vẵn còn không ít trường hợp dạy theo phương pháp thầy đọc trò chép hoặc giảng giải
xen kẽ vấn đáp. Đứng trước một tiết ôn tập giáo viên ngữ văn thường hay mắc phải sai
sót về thời gian cho tiết học tức là chưa xác định được thời gian dành cho lý thuyết và
vận dụng cho học sinh thực hành là bao nhiêu. Trong khi đó thời gian thì hạn hẹp, kết
quả là học sinh chỉ học một cách thụ động như vậy đi ngược với phương pháp đổi mới
dạy học hiện nay. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng như vậy:
- Học sinh vẫn quen lối học thụ động ( nhất là đối với học sinh lớp 6 ), gây khó
khăn cho việc áp dụng phương pháp mới vào dạy học.
- Nhiều giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp mới vào bài dạy.
- Đối với tiết ôn tập, tổng kết, giáo viên chưa áp dụng được nhiều phương pháp
dạy học có sáng tạo, linh hoạt, kích thích để các em phát triển tư duy và ngôn ngữ trau
rồi vốn tiếng Việt.
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
-6-
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
Từ láy
-7-
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Hoặc tách ra thành hai phần rõ rệt: Phần lý thuyết trước, thực hành sau.
Khi soạn giảng, giáo viên thường căn cứ vào định hướng của SGK và sách giáo
viên để dạy. Thường thì giáo viên hay cho học sinh ôn và hệ thống hết toàn bộ lý thuyết
có trong SGK rồi mới cho học sinh làm bài tập thực hành. Việc tách rời giữa lý thuyết và
thực hành như vậy thường khiến cho các giờ học sa đà vào việc ôn tập củng cố lý thuyết
nhiều hơn là làm bài tập thực hành. Điều này dẫn tới việc học sinh thụ động nắm bài,
không tích cực trong giờ ôn luyện và kết quả là nhiều học sinh hiểu và nắm kiến thức
theo kiểu học vẹt, không sâu.
Mặt khác, giờ ôn tập thường vào cuối kì hoặc cuối năm nên việc chuẩn bị giờ ôn
tập còn chưa chu đáo. Đứng trước một tiết ôn tập, giáo viên ngữ văn thường hay mắc
sai sót về thời gian cho tiết học, tức là chưa định lượng được thời gian dành cho lý
thuyết và vận dụng vào thực hành là bao nhiêu. Trong khi đó thời gian thì hạn hẹp, kết
quả là học sinh học một cách thụ động. Như vậy đi ngược với phương pháp đổi mới hiện
nay.
Giáo viên chưa chú ý đến việc soạn giảng, thường là kẻ bảng hệ thống khái niệm
rồi lấy ví dụ, đây là cách học đã trở thành đường mòn trong giờ ôn tập và gần như thầy
làm phần khó học sinh làm phần dễ. Một số giáo viên chưa áp dụng nhiều giờ học với
thấy: việc thực hiện phương pháp dạy bài ôn tập, tổng kết tiếng Việt hợp lí hơn và thu
được kết quả cao hơn không phải là thực hiệc cách 1 hay cách 2 mà là sử dụng linh hoạt
cả hai cách trong một tiết dạy. Tuy nhiên, tiến hành bài dạy này như thế nào? Phương
pháp cụ thể ra sao tuỳ thuộc vào khả năng của từng người. Mục đích cuối cùng của giáo
viên phải đạt được là: củng cố khắc sâu kiến thức bài học cũ, chuẩn bị tâm thế cho học
sinh làm bài kiểm tra và thi học kì đạt kết quả tốt, để từ đó các em có ý thức sử dụng
tiếng Việt. Từ thực tế giảng dạy các tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt của các khối lớp
trong năm qua, tôi đã đúc rút được vài kinh nghiệm cho giờ dạy như sau:
Trước hết, theo tôi để dạy tốt một tiết ôn tập Tiếng Việt theo phương pháp dạy học
tích cực thì giáo viên phải xác định được mục tiêu, yêu cầu cơ bản của bài dạy là gì?
(Giúp HS hệ thống hoá một số nội dung kiến thức đã học rèn cho học sinh các kĩ năng
tổng hợp về sử dụng Tiếng Việt trong nói, viết, tích hợp các kiến thức của cả 3 phân môn
Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn).
Để đạt được những mục tiêu trên, GV có thể thực hiện theo quy trình sau :
- Quy trình dạy
+ Kiểm tra bài cũ:
Để khép kín quá trình dạy học từ đó mà có sự điều khiển tối ưu quá trình dạy học,
việc kiểm tra bài cũ về nguyên tắc, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi giờ
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
-9-
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
học trên lớp. Nó được xem là một bước của quá trình tiến hành một giờ học. Song, do
tính chất của bài ôn tập, tổng kết khác bài lí thuyết cho nên khi dạy bài ôn tập, tổng kết,
không nhất thiết phải tách phần kỉêm tra bài cũ thành một bước riêng. Việc kiểm tra bài
cũ nên lồng vào quá trình thực hiện nội dung ôn tập, tổng kết , làm như vậy vừa tiết
kiệm được thời gian, vừa phù hợp với nội dung kiểu bài, vừa không gây cho học sinh
Công đoạn 2 Tổ chức cho học sinh luyện tập thực hành
Nếu như công đoạn trên ôn để luyện thì công đoạn này luyện để ôn và để hình
thành kĩ năng. Qua luyện tập thực hành, tri thức về tiếng Việt của học sinh được củng
cố, khắc sâu. Đồng thời, qua luyện tập thực hành, luyện cho các em vận dụng những quy
tắc ngữ pháp vào lời nói để tạo ra văn bản phục vụ cho mục đích giao tiếp.
Đối với bài ôn tập, tổng kết, công đoạn này là trọng tâm của giờ học. Do vậy, nó
chiếm gần hết thời gian của tiết học (ít nhất phải dành cho công đoạn này 2/3 thời gian).
Về cách thức cho học sinh luyện tập thực hành thì có thể làm như đối với việc tổ chức
cho học sinh khi luyện tập thực hành lí thuyết. Bởi vì hệ thống bài tập ở mục “ luyện
tập” của bài ôn tập, tổng kết cũng giống như hệ thống bài tập ở mục “ luyện tập” của bài
lí thuyết- gồm các dạng bài : nhận biết - thông hiểu- vận dụng.
Điều cần nói ở thêm ở đây là việc tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn học sinh làm loại
bài tập sáng tạo hoàn toàn. Để hướng dẫn học sinh làm bài tập này đạt kết quả tốt, giáo
viên cần chú ý thêm một số điểm sau đây ;
- Về vị trí, tầm quan trọng của việc tổ chức cho học sinh làm loại bài tập sáng tạo
hoàn toàn.
- Về tính chất, yêu cầu của bài tập sáng tạo hoàn toàn.
- Về sự tiến bộ và hứng thú học tập của học sinh.
- Về phương pháp tổ chức, chỉ đạo.
+ Thứ nhất là cần tạo ra tình huống, môi trường thuận lợi làm cho các em thấy
mình cần phải nói, phải viết và có thể nói, viết một cái gì đó.
+ Thứ hai là cần động viên, khích lệ học sinh một cách đúng mức.
Ví dụ: Tiết 125- Ôn tập Tiếng Việt ( lớp 7 kì II).
Công đoạn 1: Tổ chức cho học sinh ôn tập lí thuyết những kiến thức cơ bản về
các kiểu câu đơn và dấu câu đã học.
- GV yêu cầu học sinh nhớ tên các kiểu câu đơn và dấu câu đã học và trình bày lại
trên sơ đồ trống.
1. Các kiểu câu đơn đã học
- 12 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
( Câu đơn bình thường : “Trống ngực ông lão đập thình thịch.”; câu đặc biệt :
“Có tiếng nói léo xéo ở gian trên.” và “Tiếng mụ chủ...”)
Bài tập 2 : Viết đoạn văn từ 6 đến 8 câu (chủ đề tự chọn ). Trong đoạn, có sử dụng
câu đơn bình thường và câu đặc biệt. (Gạch chân dưới câu đơn bình thường và câu đặc
biệt)
- GV cho học sinh hoạt động cá nhân => HS cùng GV nhận xét, bổ sung, sửa chữa
(nếu có) về nội dung và hình thức bài viết của HS.
- GV đọc thêm một vài bài viết ở dưới lớp của học sinh.
- GV chiếu một đoạn văn để học sinh tham khảo.
Buổi sáng tháng năm mùa hè thật đẹp. Vầng mặt trời đỏ rực nhô lên, chiếu những
tia nắng đầu tiên lên mọi cảnh vật. Cánh đồng như bừng lên sau một đêm ngủ say. Ánh
nắng ban mai làm cho đồng lúa ánh lên màu vàng óng ả. Bầu trời sáng, trong xanh, cao
thăm thẳm, không một chút gợn mây. Ôi, quê hương! Hai tiếng thân thương ấy mãi mãi
trong trái tim tôi.
* Tổ chức thực hiện nội dung bài dạy ôn tập, tổng kết Tiếng Việt theo quy trình:
luyện - ôn – luyện.
- Quy trình này gồm 3 công đoạn:
Công đoạn 1: Luyện để ôn và củng cố hình thành kĩ năng.
Công đoạn 2: Ôn luyện ở mức cao hơn.
Công đoạn 3: Luyện ở mức cao hơn để khắc sâu tri thức lí thuyết và củng cố kĩ
năng.
Theo quy trình trên, thầy tổ chức chỉ đạo học sinh luyện tập ngay từ đầu giờ học
để qua việc làm bài tập học sinh nhớ lại các tri thức lí thuyết đã học. Sau khi học sinh
làm bài tập thầy giáo hướng dẫn các em củng cố, hệ thống hoá, nâng cao tri thức lí
Học sinh:
- Thưa thầy “sóng” là bài thơ của Xuân Quỳnh ạ!
Ví dụ 2: Truyện thứ 2.
Một bà già tới phòng bán vé máy bay hỏi:
- Xin làm ơn cho biết từ TP Hồ Chí Minh tới Pa-ri bay hết bao lâu?
Nhân viên bán vé máy bay đang bận việc gì đó liền đáp:
- Một phút nhé!
- Xin cảm ơn – bà già đáp và đi ra.
Ví dụ 3: Truyện thứ 3
NÓI CÓ ĐẦU CÓ ĐUÔI.
Một lão chủ dặn anh đầy tớ :
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 14 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
- Mày ăn nói cộc lốc, người ta cười cả tao. Từ rày về sau, hễ nói gì thì phải nói có
đầu có đuôi, nghe chưa!
Một hôm, lão ăn mặc chỉnh tề, ngồi hút thuốc. Anh đầy tớ chợt chắp tay,
thưa :
- Bẩm ông, con tằm nó ăn lá dâu…
- Nghĩa là làm sao?
- Bẩm ông, con tằm nó ăn lá dâu, nó nhả tơ. Người ta mang ra chợ bán. Người
Trung Quốc mua tơ đem về kéo sợi, dệt thành the, rồi mang the sang bán cho ta. Ông
mua the về may áo. Hôm nay ông mặc áo vào, rồi ông ngồi hút thuốc.
- Thế thì sao?
- Vâng con xin nói ngay đây ạ : Tàn thuốc rơi vào áo ông. áo ông đang cháy đấy
Phương
châm
về
lượng
Phương
châm
về
chất
Phương
châm
quan
hệ
Phương
châm
cách
thức
Phương
châm
lịch
sự
+ Căn cứ trên sơ đồ về các phương châm hội thoại, giáo viên yêu cầu học sinh
nhắc lại nội dung của các phương châm hội thoại này.
- Nói phải có nội dung, nội dung của lời nói phải đáp ứng yêu cầu của một cuộc
giao tiếp không thừa, không thiếu (phương châm về lượng).
Ông A và ông B cùng họp ở một hội nghị. Ông A hỏi ông B :
- Bác làm việc ở đâu ạ?
Ông B trả lời :
- Tôi làm việc ở đây.
Sau đó phân tích được : câu trả lời của ông B vi phạm phương châm về lượng vì
đã không đáp ứng được yêu cầu mà ông A muốn biết : đó là : tên cơ quan, công ty…nơi
mà hằng ngày ông B vẫn làm việc.
2.2.2. Các phương pháp tích cực sử dụng trong một tiết ôn tập, tổng kết tiếng Việt
I. Phương pháp học hợp tác ( Thảo luận nhóm và tranh luận )
Tùy tường bài ôn tập cụ thể và yêu cầu cuả vấn đề học tập giáo viên có thể phân
nhóm, chuẩn bị nội dung câu hỏi cũng như bài tập cho từng nhóm . Các nhóm tự bầu ra
nhóm trưởng , trong nhóm nhỏ mỗi thành viên thực hiện một công việc, mỗi thành viên
đều được hoạt động tích cực, không ỷ lại vào một người năng động nổi trội hơn. Các
thành viên trong nhóm giúp nhau tìm hiểu vấn đề trong không khí thi đua với các nhóm
khác. Kết quả thảo luận của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả lớp. Để
trình bày kết quả của nhóm trước lớp có thể bằng hình thức báo cáo, hình thức báo cáo
cũng rất đa dạng: có thể báo cáo trước GV, có thể báo cáo trước lớp, báo cáo bằng giấy,
bảng phụ, bảng chính.
Ví dụ 1: Tiết 40- Tổng kết từ vựng (Lớp 9).
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 17 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Tiết ôn tập thứ nhất có 4 phần: Từ đơn, từ phức – Thành ngữ - Nghĩa của từ – Từ
nhiều nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ. Giáo viên có thể chia lớp thành 4 nhóm ,
mỗi tổ 1 nhóm, mỗi nhóm một phần kiến thức. Trước hết, yêu cầu học sinh các nhóm
làm bài tập rồi từ bài tập rút ra khái niệm chung của mỗi phần. Giáo viên phát cho mỗi
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
- Lần lượt gọi học sinh trong nhóm trả lời. Nhóm nào trả lời tiếp sức đúng thì đạt
điểm tối đa, nhóm nào không tiếp sức được đổi cho nhóm khác và bị trừ điểm.
Đây là tiết ôn tập Tiếng Việt cuối cùng của cả năm, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
bài kiểm tra tổng hợp cuối kì I. Vì vậy, GV có thể tổ chức một trò chơi thi tiếp sức vui
nhộn, giúp các em hệ thống toàn bộ kiến thức một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. GV
chia cả lớp thành 2 đội chơi, mỗi dãy bàn là một đội, mỗi đội chọn ra một trọng tài quan
sát nhóm kia trong khi thi. GV sẽ cùng với học sinh là giám khảo đánh giá kết quả của
từng đội chơi. Lưu ý khi chơi học sinh phải giữ trật tự, tránh chen lấn, cãi nhau gây ồn
ào quá làm ảnh hưởng các lớp khác.
Luật thi và câu hỏi như sau:
? Hãy viết tên các đơn vị kiến thức Tiếng Việt đã học từ đầu năm lên bảng.
- Đội nào viết được nhiều và chính xác sẽ giành chiến thắng, thời gian là 1 phút.
- Mỗi học sinh chỉ được lên viết 1 lần, ai viết xong về đến chỗ thì người tiếp theo
mới được lên, phải viết đúng phần bảng của đội mình.
Sau khi đánh giá động viên về kết quả từng đội, GV sẽ nhấn mạnh đó là những
kiến thức quan trọng về phần Tiếng Việt mà các em phải ôn tập để chuẩn bị cho bài kiểm
tra cuối kì đạt kết quả tốt, đồng thời đó cũng là đơn vị kiến thức cơ bản nhất mà chúng ta
thường sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Vì thế, các em phải nắm vững để vận dụng
vào nói, viết được đúng, được hay. Đó cũng là mục tiêu cuối cùng của một giờ dạy
Tiếng Việt cần hướng tới.
Ví dụ khi dạy tiết 40: Tổng kết từ vựng (lớp 9)
Dạy Phần : I. Từ đơn và từ phức
Bài tập. Trong các từ sau, từ nào là từ ghép, từ nào là từ láy?
ngặt nghèo, nho nhỏ, giam giữ, gật gù, bó buộc, tươi tốt, lạnh lùng, bọt bèo, xa xôi, cổ
cây, đưa đón, nhường nhịn, rơi rụng, mong muốn, lấp lánh.
Từ ghép
------------------------------
- GV công bố thể lệ, cách thức trò chơi : học sinh quay vào đơn vị kiến thức nào
thì trả lời đơn vị kiến thức đó. Trả lời đúng giáo viên cho điểm thưởng.
Ví dụ: dạy phần II. Một số phép tu từ từ vựng-Tiết 54: Tổng kết từ vựng (lớp 9)
So sánh
Nhân hoá
Ẩn dụ
Hoán dụ
Nói giảm, nói tránh
Nói quá
III. Kết hợp phương pháp học hợp tác với các hình thức giống trò chơi
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 20 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Giáo viên có thể kết hợp hình thức nhóm và tổ chức thi tiếp sức cùng với phương
tiện máy chiếu để dạy tiết ôn tập đạt hiệu quả cao, đồng thời lại phát huy tính tích cực
của học sinh trong giờ ôn tập với một lượng kiến thức tương đối khó.
Ví dụ 2: Tiết 128 - Ôn tập Tiếng Việt (Lớp 7).
Ôn tập về các phép biến đổi câu.
Đầu tiên giáo viên đặt câu hỏi để hỏi học sinh.
? Có mấy phép biến đổi câu đã học, kể tên?
- HS: có 4 phép biến đổi câu.
GV dùng máy chiếu các phép biến đổi câu hiện lên dần dần trên màn hình cho học
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 21 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
GV phát cho mỗi nhóm một tờ giấy khổ to và bút dạ, yêu cầu trong thời gian 10
phút các nhóm ôn lại toàn bộ kiến thức bằng việc ghi hết kiến thức có liên quan đến
phép biến đổi câu mà nhóm mình được giao.
HS thảo luận, làm việc theo nhóm xong sẽ lên dán kết quả trên bảng, GV cho các
nhóm nhận xét và sửa chữa chéo nhau, nhóm nào làm nhanh và chính xác sẽ được tuyên
dương.
IV. Sử dụng các sơ đồ, bảng biểu
Để giờ ôn tập đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải chú trọng tới việc đầu tư làm và
sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học. Đây là cách học có hiệu quả trong giờ học nói chung
và trong tiết ôn tập nói riêng. Với giờ ôn tập Tiếng Việt thì việc sử dụng đồ dùng dạy
học mang lại hiệu quả cao, kích thích tư duy sáng tạo của học sinh một cách độc lập.
Giáo viên có thể áp dụng một số cách như: sử dụng sơ đồ câm, tổ chức trò chơi bằng sơ
đồ câm một bên nêu khái niệm, một bên nêu ví dụ, thi các nhóm tìm ví dụ. Nhưng cần
lưu ý sử dụng sao cho hợp lí, học sinh dễ thực hiện và đạt hiệu quả cao.
+ Sử dụng sơ đồ câm ở các giờ ôn tập lớp 6, 7,8.
Ví dụ: Lớp 6 - Tiết 64
Câu hỏi: Từ có cấu tạo như thế nào? Lấy ví dụ minh hoạ.
Giáo viên sử dụng sơ đồ sau:
Học sinh có thể dựa vào sổ tay Tiếng Việt hoặc SGK lên bảng điền ngay và đưa ví
dụ minh hoạ.
Ở một số tiết, bảng phụ còn được dùng để ghi những sơ đồ ôn tập còn thiếu,
khuyết vào bảng phụ rồi thông qua sơ đồ đó có thể hệ thống lại kiến thức một cách rõ
Từ láy
Từ ghép
đẳng lập
Từ láy
toàn bộ
Từ láy
bộ phận
Từ láy
âm
Từ láy
vần
Đối với sơ đồ này có thể học sinh cho ví dụ ngay hoặc giáo viên tổ chức cho học
sinh thi hai tổ lấy ví dụ minh hoạ cho các từ trong sơ đồ.
Có thể đưa ra những câu hỏi vận dụng nhằm củng cố khắc sâu kiến thức.
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 23 -
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Ví dụ: ? Viết một đoạn văn khoảng 5 đến 7 câu (chủ đề tự chọn) trong đó có sử
dụng một số từ có trong sơ đồ.
Giỏi
Khá
- 24 -
Trung bình
Yếu
Kinh nghiệm: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong tiết ôn tập, tổng kết Tiếng Việt.
Thời gian
Khảo sát đầu năm
Tháng 5/2014
51
51
SL
3
3
TL
5,9%
5,9%
SL
10
dạy học cũng hết sức cần thiết vì chính những đồ dùng này quyết định rất lớn đến thành
công của tiết dạy. Đồng thời, giáo viên cần tích cực chuẩn bị đồ dùng dạy học trước khi
lên lớp và sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học vào giờ ôn tập trên lớp.
Xây dựng một hệ thống câu hỏi tối ưu có tính khoa học, tính sư phạm và có tính
tư tưởng. Đó là những dạng câu hỏi mang tính hệ thống khái quát song cũng cần có câu
hỏi phản đề, so sánh, suy luận để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh giúp các em có
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thành thạo.
III. PHẦN KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Lê Thúy Thảo - Trường THCS Tiên Lãng
- 25 -