1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------------------BÁO CÁO SÁNG KIẾN
- Tên sáng kiến:
“Hướng dẫn giáo viên vận dụng một số phương pháp dạy
học tích cực trong tiết dạy luyện tập, luyện tập chung, ôn tập toán
nhằm nâng cao chất lượng môn toán trong nhà trường”
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hoa
- Thời gian đã được triển khai thực hiện: Từ tháng 15/08/ 2012 đến tháng 02/2013
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN:
- Trong quá trình dự giờ kiểm tra đánh giá và xây dựng tiết dạy giỏi cho giáo trong nhà trường.
Qua các tiết dạy luyện tập và luyện tập chung. Trên tiết dạy thực tế của giáo viên cho thấy có nhiều giáo
viên còn lúng túng khi dạy các tiết này. Hầu hết giáo viên đã chú trọng đổi mới phương pháp nhưng
chưa đi thực chất vào chiều sâu, chưa triệt để, chỉ mới dừng lại ở cải tiến phương pháp. Ít chú trọng đến
cách dẫn dắt học sinh tìm hiểu khám phá và lĩnh hội kiến thức. Do không nắm được phương pháp dạy
luyện tập. Những hạn chế nêu trên thể hiện qua nội dung bài soạn còn thiếu chưa đủ nội dung cần dạy
trong tiết luyện tập nên hiệu quả tiết dạy chưa cao.
- Khi dạy các tiết luyện tập, luyện tập chung giáo viên thường tiến hành một cách đơn giản
cho một HS làm bài tập trên bảng lớp cả lớp làm vở nháp. HS làm xong, GV cho HS nhận xét,
GV nhận xét cho điểm và sửa sai nếu có (Tiết luyện tập biến thành tiết sửa bài tập) nhiều khi bài
khó giáo viên làm hộ cho HS. GV chưa đưa ra hệ thống câu hỏi để củng cố và khắc sâu kiến thức
cho HS. Từ đó tiết dạy học toán chưa phát huy được năng lực tư duy cần thiết trong giải toán,
chưa rèn cho HS cách tự tư duy tài liệu để tìm ra kiến thức cần học. Chưa chỉ và tập cho học sinh
cách tự học cụ thể( Phương pháp tự học ).
- Mặc dù một số giáo viên đã chuẩn bị bài rất công phu, bên cạnh đó một số giáo viên chưa
chuẩn bị bài giảng đúng với trọng tâm, bài giảng còn mang hình thức chung chung, chưa phân loại
đối tượng học sinh. Chưa chỉ cho học sinh được đường đi cụ thể, chưa chỉ ra được các thiếu sót
cụ thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất.
a - Hoàn thiện hoặc nâng cao ở mức độ phổ thông cho phép đối với phần lý thuyết của tiết
học trước thông qua một số tiết học trước, thông qua một hệ thống bài tập đã được sắp xếp hợp lý
theo kế hoạch lên lớp.
* Hệ thống bài tập gồm: Các bài tập trong SGK,
b - Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, thuật toán hoặc nguyên tắc giải toán dựa trên cơ sở
nội dung lý thuyết đã học và phù hợp với đa số học sinh một lớp, thông qua hệ thống bài tập SGK.
c - Thông qua phương pháp và nội dung rèn luyện cho học sinh nề nếp làm việc có tính
khoa học, phương pháp tư duy cần thiết.
* Một vài điều cần lưu ý:
3
Tiết luyện tập không phải chỉ là tiết giải các bài tập đã cho học sinh làm ở nhà hay sẽ cho
học sinh làm trên lớp mà còn phải là tiết dạy cách suy nghĩ giải toán.
Trong tiết luyện tập phải xác định rõ:
* Thầy phải luyện cái gì?
* Trò phải tập cái gì?
Các bước thực hiện tiết luyện tập, luyện tập chung.
a. Bước 1:
Cho HS trình bày lời giải các bài tập cũ đã cho HS làm ở nhà., nhằm kiểm tra:
- HS hiểu lý thuyết đến đâu.
- Kỹ năng vận dụng lý thuyết trong việc giải bài tập.
- HS mắc những sai phạm nào?
- Cách trình bày lời giải bằng ngôn ngữ, bằng kí hiệu chuẩn xác chưa ?
b. Bước 2:
- Giáo viên chốt lại những vấn đề có tính chất trọng tâm, chưa chỉ ra được các thiếu sót cụ
thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất. chưa chỉ ra được các thiếu sót cụ
thể, hướng khắc phục cho học sinh dù đó là những lỗi nhỏ nhất. Giáo viên chốt lại vấn đề theo nội
dung sau:
- Chỉ ra những sai sót của học sinh, những sai sót thường mắc phải mà giáo viên tích luỹ
kiến về các cách làm bài của học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau và củng cố nhiều lần về
kiến thức trọng tâm của tiết luyện tập đã đề ra.
* Khi soạn bài giáo viên cần phân loại đối tượng học sinh trong từng tiết dạy, chỉ ra đường
đi cụ thể cho học sinh, chốt kiến thức sau mỗi bài, lượng giá được tỉ lệ % học sinh thực hiện được.
* Trong dạy luyện tập thực hành cần cho học sinh có thói quen đặt câu hỏi ngược lại cho
giáo viên
* Mỗi giáo viên cần mạnh dạn điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học sao cho sát với đối
tượng của lớp mình phụ trách.
* Phần kiểm tra bài cũ việc huy động kiến thức cũ để khơi gợi kiến thức mới cần phải thực hiện
thường xuyên kể cả trong bài soạn (tránh tình trạng khi dự giờ, lên tiết tốt mới thực hiện)
* Trong lúc chấm chữa bài cho học sinh và đặc biệt chấm chữa bài qua các tiết kiểm tra
giáo viên cần phải nêu ra được các thiếu sót cụ thể chỉ ra được hướng khắc phục cho học sinh cho
dù đó là lỗi nhỏ nhất (cần thống kê đầy đủ số liệu từng phần cụ thể).
3. QUI TRÌNH SOẠN BÀI
*Nghiên cứu tài liệu:
- Trước hết phải nghiên cứu lại phần lý thuyết mà học sinh được học. Qua đó phải xác định
kiến thức nào là kiến thức cơ bản, trọng tâm, kiến thức nào nâng cao, mở rộng cho phép.
-
Tiếp theo là nghiên cứu các bài tập trong SGK:
a) Cách giải từng bài toán như thế nào?
b) Có thể có bao nhiêu cách giải bài toán này.
c) Cách giải nào là thường gặp? Cách giải nào là cơ bản?
5
d) Ý đồ của tác giả đưa ra bài toán này để làm gì ?
tương tự đã có khi học số tự nhiên, nhớ lại kiến thức mới học số thập phân có liên quan đến việc làm bài
tập đó. Đây là cơ hội để HS củng cố các kiến thức và kỹ năng cơ bản về các phép tính cộng trừ nhân
6
chia.Chẳng hạn khi làm các bài tập cộng trừ nhân chia số thập phân có mang tên đơn vị thì GV cho HS
hoạt động nhóm cùng trao đổi nhớ lại quy tắt thực hiện 4 phép tính đã học như: cộng số thập phân, trừ số
thập phân, nhân số thập phân, chia số thập phân lần lượt.
- Cần chú ý cách đặt tính ở phép tính cộng và trừ số thập phân, đánh dấu phẩy vào kết quả
ở phép tính nhân số thập, cách thực hiện chia số thập phân cho số thập phân( Xoá dấu phẩy ở số
chia và dời dấu phẩy ở số bị chia sang phải).
- Ví dụ: Bài tập1/ tiết luyện tập chung tuần 11.
- GV cho học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu cách tính bài toán tìm X, nêu kết quả và
cách thực hiện.
b) Giúp HS tự làm bài theo khả năng của từng HS:
- GV nêu yêu cầu HS làm bài lần lượt theo yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng. Chẳng hạn như tiết
luyện tập chung tuần 11 có 5 bài tập thì chuẩn kiến thức kỹ năng yêu cầu GV hướng dẫn HS hoàn thành
bài tập 1, 2 và 3 cho cả lớp, riêng bài 4, 5 khuyến khích cho HS trong lớp có thể làm được vào vở bài
tập luyện buổi chiều.
- Không nên bắt HS phải chờ đợi nhau trong quá trình làm bài, HS đã làm xong bài tập nào
nên tự kiểm tra( hoặc nhờ bạn, cô giáo kiểm tra) rồi chuyển sang bài tập tiếp theo.
- GV phải chấp nhận tình trạng trong cùng một khoảng thời gian, có HS này làm được nhiều
bài tập hơn HS khác. GV nên hỗ trợ hoặc tổ chức cho HS khá giỏi hỗ trợ HS yếu cách làm bài không
làm thay cho HS yếu. GV khuyến khích HS khá giỏi hoàn thành các bài tập mà chuẩn kiến thức không
yêu cầu ngay ở lớp. Ở trên lớp GV giúp HS cả lớp tìm được cách giải quyết hợp lý.
- Ví dụ: Bài tập 2/ SGK tiết luyện tập tuần 16
- GV cho HS đọc đề bài - tìm hiểu đề - trao đổi trong nhóm lớn nhớ lại kiến thức tìm tỷ số
phần trăm của 2 số - đưa ra bước giải của bài toán.
* GV gợi ý 2 khái niệm mới đối với HS: số % đã thực hiện được và số % vượt mức so với
kế hoạch cả năm.
1719
x
4
4876
- Trong phép nhân có nhớ nhiều hơn 1( nhớ 2, nhớ 3...) học sinh thường chỉ nhớ 1.
VD:
2913
x
4
9652
* Giáo viên phân tích và sửa sai cho học sinh: Đối với 2 lỗi trên, giáo viên cần khắc phục cho
học sinh bằng cách: yêu cầu các em nhẩm thầm trong khi tính (vừa tính, vừa nhẩm) như phép tính
mẫu trong sách giáo khoa và viết số cần nhớ ra lề phép tính.
- Lúc đầu khi mới học nhân số có nhiều chữ số với số có một chữ số, học sinh còn hay sai
trong cách ghi kết quả.
VD:
26
X 3
618
8
* Giáo viên phân tích và sửa sai cho học sinh: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu
làm như vậy thì tích có tới 61 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:
+ Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8 đơn vị, viết 8 ở
4
016
28
- Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt chia như sau:
VD: 43 : 5
9
Cách 1: Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích( hoặc số bị chia) trong bảng nhân
5( chia 5) : 43 ; 42 ; 41 ; 40.
40 : 5 = 8
Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )
Cách 2 : Tìm số lớn nhất( không vượt quá 43) trong các tích (số bị chia) của bảng nhân
(chia 5) ta được 40 ; 40 : 5 = 8. Vậy 43 : 5 = 8 ( dư 3 )
Học sinh yếu kém về toán là những học sinh có kết quả học tập toán thường xuyên dưới
trung bình. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những học sinh này thường đòi
hỏi nhiều công sức và thời gian so với những học sinh khác. Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay
từ bước đầu tiên, không hiểu bài toán nói gì do đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy,
giáo viên nên lưu ý giúp các em hiểu rõ đầu bài, nắm được cái gì đã cho, cái gì cần tìm, tạo điều
kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó. Để hiểu một kiến thức, rèn luyện một kĩ năng
nào đó, học sinh yếu kém cần những bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so
với các em khá giỏi và trung bình.
Đặc biệt, giáo viên cần đấu tranh kiên trì với những thói quen xấu của học sinh như: chưa học
lý thuyết đã lao vào làm bài tập, không đọc kĩ đầu bài trước khi làm bài tập, viết nháp lộn xộn,...
* Quy trình dạy các bài ôn tập cuối năm:
1. Tổ chức lớp
2. Định hướng mục đích, nhiệm vụ học tập
bình
Học sinh Khá
Bài 2.1
Bài 2.2
Bài 2.3
Bài 2.4
Bài 3.1
Bài 3.2
Bài 3.3
Bài 3.4
Học sinh Giỏi
Bài 4.1
Bài 4.2
Bài 4.3
Bài 4.4
Ghi chú: Mức độ được tăng dần từ mức 1 đến mức 4 (có thể phân bậc mịn hơn nữa càng tốt),
trong đó:
•
Bài 1.4 tương đương bài 2.1
học sinh nắm được tri thức và tri thức phương pháp.
Các hoạt động được diễn ra và lặp lại cho đến khi hoạt động nhận thức được thực hiện.
Ưu điểm, nhược điểm hoạt động hóa người học thông qua việc bài tập hóa những
kiến thức cơ bản.
Cách dạy học ôn tập như thế có những ưu điểm, nhược điểm chính sau:
Ưu điểm: Học sinh được hoạt động độc lập, tự giác hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức phù
hợp với trình độ nhận thức của mình.
Nhược điểm: Chuẩn bị vất vả, điều khiển giờ học phức tạp vì có nhiều học sinh hiểu
không giống nhau, nếu điều khiển không khéo giờ học sẽ bị phân tán và phản tác dụng. Mặt khác,
trong quá trình tự học như vậy, học sinh nào tự giác tích cực sẽ đạt hiệu quả cao hơn, ngược lại
một số học sinh kém, hoạt động chậm hơn luôn bị động và rất dễ dẫn đến chán học.
Khi dạy ôn tập giáo viên cần lưu ý:
11
Để chuẩn bị cho tiết ôn tập, yêu cầu học sinh làm việc ở nhà: trả lời các "câu hỏi tự kiểm
tra" và chuẩn bị các bài tập.
Mục "Tóm tắt những kiến thức cần nhớ" trong SGK nhằm mục đích để cho học sinh tra cứu nếu
cần thiết, không nên giảng lại cho học sinh trong giờ học ôn tập.
Tiết ôn tập không phải là để giáo viên nhắc lại các kiến thức đã học, mà là để giúp học sinh
nhớ lại, làm lại và tìm ra mạch kiến thức cơ bản của một nội dung được học"sợi chỉ " liên kết
các kiến thức ấy với nhau. Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới ( kiến thức đã học) để huy động.
Nếu học sinh tự đọc đề bài, tự nhận ra các dạng bài tương tự, các kiến thức đã học thì nội dung bài
dạy và học sinh học sẽ thuận lợi hơn. Nếu học sinh chưa nhận ra kiến thức đã học trong bài tập thì
giáo viên giúp học sinh bằng cách gợi ý, hướng dẫn nhớ lại kiến thức (hoặc nhờ học sinh giúp bạn
nhớ lại) không nên vội làm thay cho học sinh.
* Giúp học sinh tự thực hành theo khả năng của học sinh ( phân hóa đối tượng )
- Giáo viên bao giờ cũng yêu cầu học làm các bài tập đã sắp xếp thứ tự trong sách giáo khoa
hoặc do giáo viên sắp xếp. Không tự ý bỏ bài nào kể các bài tập học sinh cho là dễ ( đây là dạng bài tập
quá trình ôn tập kiến thức.
Tóm lại biết phát huy tính tích cực chủ động của HS trong học toán, cũng như khai thác
được khả năng vô tận của các em, thì kết quả học tập của HS sẽ nâng cao rõ rệt. Chúng ta sẽ góp
phần hình thành cho các em các phẩm chất năng động, sáng tạo, những phẩm chất cần thiết
cho con người phát triển toàn diện của thời kỳ đất nước bước vào công nghiệp hóa hiện đại hóa.
*B. Phương pháp dạy học phân hóa đối tượng.
DHPH là phương pháp dạy học có tính đến sự khác biệt của người học (cá nhân) hoặc
nhóm người học. Ở tiểu học DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức kỹ năng làm
nền cơ bản, ngoài kế hoạch dạy học thông thường phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù
hợp đưa HS yếu kém đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát triển ở mức
cao hơn.
- Quy trình thực hiện DHPH trong môn toán ở TH thường diễn ra như sau: Đánh giá,
phân loại trình độ, năng lực học toán của HS là Xây dựng kế hoạch, nội dung và lựa chọn hình
thức, PPDH cho phù hợp với từng nhóm đối tượng hoặc từng đối tượng đặc biệt à Tổ chức triển
khai thực hiện à Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, hoàn thiện.
1- Kết hợp nhiều hình thức kiểm tra để đánh giá, chẩn đoán, phân loại đối tượng HS
theo trình độ
- Kết hợp kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên và quan sát lớp học: GV cần thận trọng khi
đưa ra kết luận một HS nào đó thuộc nhóm trình độ nào. Do vậy cần phải kết hợp nhiều hình thức
kiểm tra trong dạy học để có kết quả khách quan và chính xác. Ngoài việc kiểm tra định kỳ và kiểm tra
thường xuyên, GV nên có sổ tay ghi chép kết quả quan sát, theo dõi hàng ngày, trong đó lưu ý đến
những trường hợp đặc biệt, hoặc quá xuất sắc hoặc quá yếu để tiến hành DHPH phù hợp.
- Kết hợp kiểm tra độ khó và độ nhanh, tăng cường cho HS tự đánh giá: Hiện nay GV
thường chỉ thiết kế đề kiểm tra theo độ khó. Để có thể phân loại sâu hơn, GV thiết kế đề kiểm tra
13
kết hợp độ khó và độ nhanh, tức là tăng số lượng bài tập trong mỗi lần kiểm tra, kết quả đánh giá
không theo thang điểm 10 mà là GV ghi nhận trong cùng một khoảng thời gian đó, HS làm đúng
(như các kỹ năng trình bày, diễn đạt, suy luận logic...). Chẳng hạn các dạng toán “ Tìm số thỏa
14
mãn điều kiện cho trước, các bài toán có lời văn điển hình, các bài toán có nội dung hình học gắn
liền thực tiễn, bài toán suy luận đơn giản,...
Với dạng toán này, khi tổ chức thực hiện GV cần chú ý đến yêu cầu HS trình bày những
lâp luận logic để giải bài toán. Ví dụ: Tìm x biết 57 < x < 62 và a) x là số chẵn; b) x là số lẻ; c) x
là số tròn chục.
- Sau khi HS thực hiện câu a) với kết quả là 58, 60. GV có thể đặt câu hỏi Vì sao x không
thể là 59 và 61 ? (vì x phải là số chẵn) Hoặc x cần tìm thỏa mãn mấy điều kiện. Đó là những điều
kiện nào?
Dạng 3: Một số bài tập có ưu thế trong việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy thuật
giải, tư duy sáng tạo,... Chẳng hạn như dạng toán phát hiện lỗi sai và chữa lại cho đúng, tính
nhanh, giải bài toán bằng nhiều cách, bài toán mở , ...)
Khi tổ chức DHPH nội dung thực hành luyện tập và sửa bài tập toán, thường yêu cầu cao
về năng lực tổ chức và quản lý lớp học của người GV. Do đó GV cần dự kiến về thời gian và biện
pháp sao cho phù hợp nhất để phát huy khả năng của từng HS.
3- Linh hoạt trong tổ chức hoạt động nhóm khi DHPH
Tùy theo mục tiêu dạy học, việc chia nhóm có thể theo nhiều cách: Nhóm đôi (nhóm đối
ngẫu), nhóm ngẫu nhiên, nhóm hỗn hợp và nhóm phân theo trình độ. Trong DHPH, nhóm hỗn
hợp được sử dụng khi nhiệm vụ của các nhóm là như nhau, với mục đích là HS giỏi sẽ giúp đỡ
HS yếu hơn. Nhóm theo trình độ được sử dụng khi mức độ yêu cầu của nhiệm vụ từng nhóm
khác nhau, như ví dụ nêu ở trên hoặc trong thực hành giải bài tập để mỗi nhóm được yêu cầu làm
những bài tập với độ khó khác nhau.
4- Giao tiếp trong dạy học phân hóa .
Đối với GV, lời nói của GV trong dạy học hoặc giao tiếp với HSTH rất có ý nghĩa vì đặc
điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi này là rất vô tư và hồn nhiên, các em đặt rất nhiều niềm tin vào
giáo viên. Do vậy GV cần có kỹ thuật nói rõ ràng, tốc độ vừa phải dễ nghe, thân thiện nhưng
nghiêm túc và luôn khuyến khích. Không nên gay gắt hay nặng lời với những HS yếu kém. Với
1. Kiểm tra bài cũ:
- Gọi HS trung bình, yếu nêu dấu hiệu chia hết cho 5; HS khá nêu dấu hiệu chia hết cho cả
2 và 5.
- Hai HS trung bình lên bảng mỗi em viết hai số có 4; 5 chữ số chia hết cho 5; chia hết
cho cả 2 và 5.
- GV nhận xét cho điểm.
2. Bài mới:
a. Giới thiệu bài: GV nêu mục đích, yêu cầu của tiết học.
b.Hướng dẫn HS hoạt động
*Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tự tìm ra dấu hiệu chia hết cho 9.
- HS Trung bình, yếu nêu VD về các số chia hết cho 9 và các số không chia hết cho 9, viết
thành hai cột trong vở nháp.
16
- GVhướng sự chú ý của HS vào cột bên trái để HS nhận ra dấu hiệu chia hết cho 9
- HSKG nêu dấu hiệu chia hết cho 9.
- GV nhận xét, kết luận: HSTB nhắc lại : Các số có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì chia
hết cho 9.
- Các số không chia hết cho 9 có đặc điểm gì?
- HSKG rút ra kết luận về các số không chia hết cho 9.
- GV kết luận; HSTB nhắc lại: Các số không có tổng các chữ số chia hết cho 9 thì không
chia hết cho 9.
- HSKG: Nêu căn cứ khác nhau về dấu hiệu chia hết cho 2 hoặc 5 và dấu hiệu chia hết cho 9.
*Hoạt động 3: Thực hành
Bài 1: HS nêu yêu cầu của bài; GV yêu cầu HS nêu cách làm.
- Nếu HS còn lúng túng chưa hiểu cách làm GV có thể hướng dẫn HS làm mẫu một vài số.
(Dành cho HS chậm)
- Gọi một vài HS đọc bài làm của mình và giải thích lý do tại sao chọn các số đó. Cho HS
nhận xét các số bạn chọn xem đã đúng chưa.
- Gọi HS TB, yếu:
+ Nêu dấu hiệu chia hết cho 3, cho 9. Số chia hết cho 9 có chia hết cho 3 hay không ?
- Gọi HSK:
+ Số chia hết cho 3 có chia hết cho 9 hay không ?
- HSKG nhận xét, nhắc lại.
b. Bài mới : Tiến hành dưới hình thức : Luyện tập – Thực hành
Bài 1: Trong các số sau: 0; 9; 273; 1269; 26814; 106272; 54036; 72729.
a/ Số nào chia hết cho 3.
b/ Số nào chia hết cho 9.
c/ Số nào chia hết cho cả 3 và 9.
- GV gọi 1 HS TB nêu yêu cầu của bài.
- Yêu cầu HS tự làm, GV HD thêm cho HS yêú, TB.
- Gọi 3 HS TB, yêú lên bảng làm và giải thích kết quả.
- GV cùng HS nhận xét và chốt kết quả.
- Gọi HS TB nhắc lại dấu hiệu chia hết cho 3, 9 và chia hết cho cả 3 và 9.
Bài 2: Cho các số 0; 4; 5. Hãy viết tất cả các số chia hết cho cả 3 và 9.
- Yêu cầu HS tự làm bài. 1 HS K lên bảng làm.
- Lớp nhận xét và giải thích, GV chốt kết quả.
Bài 3 (Dành cho HS K, G). Tìm x biết x là số chia hết cho 3 và 359 < x < 370
- Gọi HS TB đọc đề bài.
- GV lưu ý HS :Số phải tìm vừa phải chia hết cho 3 vừa phải lớn hơn 359 và nhỏ hơn 370.
- HS tự làm, GV HD thêm cho HS TB,Y. 1 HS K, G lên làm bài.
18
- Lớp nhận xét và chốt đáp án.
Bài 4 (Dành cho HS K, G). Tìm x biết x là số chia hết cho 9 và 629 < x < 640
- GV tiến hành tương tự BT3.
c.Củng cố, dặn dò
209
366
117
12,1
26,6
46,5
14,9
SL
347
345
226
86
Cuối kỳ I
%
34,6
34,4
22,5
8.6
SL
533
277
167
21
%
53,4
Người báo cáo
………………………………….. ……….
…………………………………………….
…………………………………………….
…………………………………………….
Nguyễn Thị Hoa