PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài:
Trên tinh thần Nghị quyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp,
liên môn” là một trong những vấn đề cần ưu tiên. Qua quá trình dạy học, tôi
thấy rằng việc giáo viên soạn giảng các tiết có lồng ghép, kết hợp kiến thức các
môn học khác để giải quyết một vấn đề thực tiễn nào đó trong một môn học là
điều thực sự cần thiết với cả người dạy lẫn người học. Khi soạn giảng theo
hướng tích hợp, liên môn giáo viên sẽ tiếp cận tốt hơn, hiểu rõ hơn, sâu hơn
những vấn đề mà bài đặt ra, từ đó sẽ tổ chức tiết học linh hoạt hơn, sinh động
hơn và thực sự, với những tiết dạy như thế thì học sinh sẽ đóng vai trò trung tâm,
có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được
suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Đặc biệt, các em có thể vận dụng
kiến thức vào thực tế tốt hơn.
Trong chương trình Ngữ văn THCS, văn bản nhật dụng chiếm 10% số lượng.
Đây là những tác phẩm đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật, kịp thời
đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, cuộc sống hiện đại. Những
vấn đề mà văn bản nhật dụng hướng tới đều rất gần gũi với đời sống của cả cộng
đồng. Sự hiện diện khoảng 10% của văn bản nhật dụng đã giúp cho chương trình
Ngữ văn phần nào giảm bớt tính hàn lâm, kinh viện, tạo cơ hội cho học sinh tăng
cường việc học lý thuyết gắn với đời sống.
Việc thử nghiệm, làm quen và biến một phương pháp nào đó trở nên phổ
biến và đại chúng luôn có những khó khăn nhất định, vượt lên trên những điều
này, chúng ta không thể phủ nhận vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa của việc dạy
học theo chủ đề tích hợp kiến thức liên môn – đặc biệt là trong bộ môn Ngữ văn
với các tiết văn bản nhật dụng. Xuất phát từ thực tiễn hơn 7 năm giảng dạy bộ
môn Ngữ văn, tôi nhận thấy, muốn học sinh hứng thú với môn học, muốn có
hiệu quả trong việc dạy – học thì không thể không đổi mới phương pháp. Và,
một trong các phương pháp tối ưu nhất chính là tích hợp, liên môn.
Với những ý nghĩa như trên, tôi xin mạnh dạn trình bày và thực
hiện thử nghiệm đề tài “Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn
mục tiêu chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy
học lấy học sinh làm trung tâm.
I.2.2. Nhiệm vụ:
Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đưa ra một
tiết soạn, giảng cụ thể để trình bày rõ thế nào là dạy học "tích
hợp, liên môn" và tích hợp liên môn trong một văn bản nhật
dụng ở bộ môn Ngữ văn. Sự khác nhau giữa dạy học theo cách
tiếp cận truyền thống hiện nay với việc dạy học theo chủ đề liên
môn. Ưu điểm với học sinh, ưu điểm với giáo viên và những khó
khăn giáo viên có thể gặp phải khi dạy học theo hướng tích hợp,
liên môn. Cũng qua đề tài này, tôi trình bày những điều kiện,
cách thức và những kiến thức có thể tích hợp, liên môn trong
các văn bản nhật dụng ở các khối 6,7,8,9 trong chương trình
THCS, quy trình, thao tác và các bước cần thực hiện để soạn
giảng một văn bản theo hướng này để từ đó góp phần đổi mới
phương pháp dạy học ở trường trung học theo định hướng phát
triển năng lực người học, lấy người học làm trung tâm, giúp
người học có thêm những kiến thức, kĩ năng, năng lực cần thiết
để vận dụng vào thực tế. Chỉ ra những lợi thế nhất định của mô
hình tích hợp, liên môn khi đưa vào giảng dạy phần văn bản
nhật dụng trong bộ môn Ngữ văn ở THCS. Với những nhiệm vụ
như trên, tôi nghiên cứu đối tượng như sau:
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu các văn bản nhật dụng ở các khối lớp 6,7,8,9
- Nghiên cứu các đơn vị kiến thức ở các môn học có thể tích hợp vào một
tiết dạy cụ thể.
- Nghiên cứu các nội dung giáo dục cần thiết để tích hợp, lồng ghép vào
môn học ví dụ: Gáo dục môi trường, Giáo dục pháp luật, Giáo dục dân số, chủ
đề về Quyền trẻ em, Di tích lịch sử…
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
- Phương pháp hoạt động nhóm: Chia lớp học thành từng nhóm nhỏ từ 4-6 Hs,
nhờ thế mỗi thành viên đều phải tích cực, chủ động hơn.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tham khảo những đề tài, dự án về tích
hợp liên môn của các bạn đồng nghiệp trong và ngoài trường.
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý
các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
3
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục
tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số
29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy
học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng này.
Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục – trong đó chú trọng
đổi mới phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích
cực của học sinh. Theo tôi, việc tích hợp kiến thức liên môn trong các giờ học
nói chung và trong các tiết văn bản nhật dụng của bộ môn Ngữ văn nói riêng là
chí cơ bản để nhận diện văn bản nhật dụng. Nhờ vào khả năng kết hợp nhuần
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
4
nhuyễn các phương thức biểu đạt nên văn bản nhật dụng có thể tồn tại ở nhiều
hình thức khác nhau như: Thuyết minh, miêu tả, nghị luận… Trên cơ sở đó,
chúng ta có thể thấy khi dạy học tích hợp liên môn ở văn bản nhật dụng, người
dạy phải dự tính được những gì cần thiết với học sinh, học sinh phải hình thành
được những năng lực rõ ràng để từ đó hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống.
II.2. THỰC TRẠNG:
II.2.1. Thuận lợi - Khó khăn:
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và dạy học thử nghiệm dạy học theo
chủ đề tích hợp, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn nhất định:
Thuận lợi:
Ngữ văn là môn khoa học xã hội, trong dạy học môn Ngữ văn có thể tích
hợp nhiều chủ đề: Ô nhiễm môi trường, gia tăng dân số, Thuốc lá, Truyền thống
gia đình và xã hội, Sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên... Trong chương trình Ngữ
văn THCS có thể dễ dàng sử dụng kiến thức của nhiều môn học liên quan để giải
quyết một số vấn đề đã nêu ở trên như: Toán, Hóa, Sinh, Giáo dục công dân, Âm
nhạc, Mĩ Thuật... qua đó các em có thể hình thành các kỹ năng liên quan đến các
môn học khác ngay trong khi học Ngữ văn.
Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn
thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì
vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó. (Trích nhận định của
PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, Phó vụ trưởng Vụ GD trung học, Bộ GD-ĐT)
Khó khăn:
* Về phía giáo viên:
với chương trình. Tiếp cận và nắm thêm được nhiều kiến thức ngoài chuyên
môn, bài dạy linh hoạt, Hs học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh
kiến thức và rèn luyện kĩ năng, các em cũng có cơ hội để vận dụng kiến thức
nhiều môn học trong một giờ học nhất định.
- Trong quá trình dạy – học:
Với mục đích giáo dục là lấy người học là trung tâm thì việc dạy học theo
chủ đề đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, học sinh phải tự học, tự
nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học
không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên
mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn rồi từ đó tự mình tìm
ra cái chưa biết, cái cần khám phá và tự tìm kiếm kiến thức cho bản thân. Đối
với học sinh không học đều các môn thì các em sẽ có cơ hội được khẳng định ưu
thế của mình ở các môn học sở trường có liên quan đến bài "Thông tin về ngày
Trái đất 2000". Ví dụ: Học sinh không có ưu thế về môn Ngữ văn nhưng khi
tích hợp các môn thuộc sở trường của các em trong giờ Văn thì bản thân các em
cũng thấy hứng thú trong giờ học hơn khi trong một giờ Ngữ văn còn có màu sắc
của Mĩ Thuật, âm thanh của Âm nhạc, các vùng miền, phong tục trên thế giới
thông qua bộ môn Địa lý, các hiện tượng trong đời sống được lý giải qua bộ môn
Hóa học...
Bên cạnh việc người học trở thành trung tâm thì dạy học theo hướng tích
hợp rất thành công trong việc định hướng, phân hóa năng lực người học, qua đó
giáo viên có thể đưa ra nhiều biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Hạn chế:
Việc tích hợp kiến thức liên môn đòi hỏi mỗi giáo viên phải có nhiều thời
gian nghiên cứu, tìm tòi những nội dung kiến thức liên quan nên phần lớn giáo
viên còn ngại liên kết, tích hợp. Hơn nữa, dạy học tích hợp là dạy theo kiểu tư
vấn, theo hướng cá thể hóa nên việc thành công sẽ dễ dàng hơn với lớp học có sĩ
số thấp, khoảng 20 HS/lớp mới đạt hiệu quả. Với trường THCS Lê Hồng Phong
thì số học sinh dao động là 35-40 học sinh/lớp. Chính vì điều này, giáo viên sẽ
khó có thể đạt được thành công một cách tối đa theo đúng ý nghĩa mà việc dạy
Hiện nay chúng ta đang dạy – học theo định hướng nội dung, phát triển
năng lực người học vì thế thực tiễn đặt ra là phải đổi mới để sau mỗi tiết học,
học sinh biết gì, hiểu thêm về điều gì và hình thành năng lực gì… Tuy nhiên,
việc đổi mới phương pháp dạy học không thể áp dụng dàn trải một sớm, một
chiều được, nó còn phụ thuộc nhiều yếu tố, chẳng hạn: Phương tiện dạy học, cơ
sở vật chất… Bên cạnh đó là tâm lý ngại thay đổi, khi dạy học theo hướng tích
hợp, giáo viên phải tìm tòi nhiều hơn những kiến thức ngoài chuyên môn của
mình, ngoài ra, còn phải lọc những nội dung tích hợp để không dạy ở phần sau.
Đến giữa năm 2016 Bộ sẽ thống nhất được chương trình trong việc đổi mới
sách giáo khoa, tuy nhiên “Giáo viên là điều cốt lõi nhất. Sách giáo khoa dù
hay đến đâu mà không có đội ngũ giáo viên giỏi thì cũng rất khó” – Tiến sĩ
Nguyễn Anh Dũng, nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học giáo dục VN (thành
viên Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa của Bộ GD-ĐT) nhấn
mạnh.
Việc chuẩn bị trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó chú
trọng về dạy học tích hợp, liên môn trong các môn học nói chung và trong bộ
môn Ngữ văn nói riêng sẽ là một bước chuẩn bị quan trọng để hướng tới áp
dụng bộ khung sách giáo khoa mới trong năm 2016/.
II.2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng:
Ở phần này, tôi xin được đề cập đến 2 vấn đề:
Thứ nhất, những ưu điểm trong việc dạy học tích hợp liên môn và những khó khăn
có thể gặp phải:
Theo phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục (Bộ GD-ĐT) Nguyễn Xuân Thành khẳng
định: “Việc thực hiện tích hợp, liên môn có thể có chút khó khăn đối với giáo viên, do
việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác.”
Có thể minh họa cho thực trạng này theo hình ảnh như sau:
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
7
sinh. Đây là những văn bản không thuộc đặc trưng thể loại nhưng lại có thể vận
dụng các phương thức biểu đạt khác nhau của các thể loại văn học khác nên khi
viết một vấn đề có tính chất thời sự ở địa phương, cuộc sống xung quanh thì tôi
nhận thấy ở một số học sinh còn lúng túng hoặc thiếu tự tin. Ví dụ: Trong bài
Tập làm văn số 5 – chương trình Ngữ văn lớp 9, tôi tích hợp phân môn Tập làm
văn với văn bản nhật dụng để học sinh viết bài nghị luận về một sự việc, hiện
tượng trong đời sống ở địa phương các em đang sinh sống, mặc dù vấn đề nghị
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
8
luận là gần gũi và các em đã được tiếp cận với văn bản nhật dụng từ lớp 6 nhưng
các em còn lúng túng trong việc thể hiện cách nhìn nhận, việc đánh giá của học
sinh về thực trạng cũng có những hạn chế nhất định dù các em đã được học các
văn bản nhật dụng đề cập đến vấn đề này. Khoảng 10% kiến thức của bộ môn
Ngữ văn thuộc về văn bản nhật dụng, nếu khai thác tốt các nội dung, vấn đề mà
loại văn bản này đề cập thì việc giáo dục kiến thức thực tế cho học sinh sẽ rất
thiết thực, gần gũi đặc biệt và việc giáo dục này gắn liền với tích hợp, liên môn.
Với đề tài về môi trường, tại trường tôi đang công tác có số học sinh đông nhất,
nhì trong huyện thì việc giữ gìn, bảo vệ môi trường chung cũng là vấn đề khá nổi
cộm, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao, các em còn xả rác bừa bãi, tùy tiện, thế
nên việc rèn luyện cho các em ý thức để rác đúng nơi quy đinh, hạn chế việc sử
dụng bao bì ni lông, bảo vệ môi trường thông qua giờ học tích hợp, liên môn sẽ
giúp các em có cái nhìn cụ thể hơn, thái độ thiết thực hơn, hành động tích cực
hơn trong việc tham gia bảo vệ môi trường chung. Các em sẽ áp dụng kiến thức
được học để giải quyết một vấn đề thực tiễn rất thực tế và thiết thực./
(Điều này, sẽ thể hiện ở phần cuối của đề tài với chính sản phẩm của
các em được hoàn thành sau khi học tiết thực nghiệm này.)
dụng.
Một điều quan trọng, khi tiếp cận với bài học theo hướng tích hợp, liên
môn thì học sinh tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp mà mình chiếm lĩnh
được để giải quyết các vấn đề từ thực tiễn mà không phải ghi nhớ kiến thức một
cách thụ động, máy móc và rõ ràng, các em sẽ không gặp áp lực, tránh được việc
học quá tải, không còn cảm thấy nhàm chán trong giờ học. Đặc biệt, văn bản
nhật dụng hay viết về những vấn đề bức thiết, mang tính thời sự nên rất dễ để
giúp các em học sinh hoà nhập với cuộc sống xã hội, rút ngắn khoảng cách giữa
nhà trường và xã hội tích hợp kiến thức liên môn, Đây là những mục tiêu mà
theo tôi, bất cứ phân môn nào cũng muốn hướng tới, đạt được. Ngoài ra, giáo
viên sẽ không phải gồng gánh những kiến thức nặng, công việc mà giáo viên
đảm nhiệm sẽ nhẹ nhàng và hiệu quả hơn nếu tích hợp, liên môn.
Thêm một mục tiêu nữa mà tôi hướng tới khi đề ra các giải pháp, biện
pháp đó là: các em sẽ biết tổng hợp những kiến thức và kĩ năng mà các em đã
được hình thành ở các môn học để giải quyết trước hết là nhiệm vụ học tập, sau
nữa là vận dụng, tích hợp những kiến thức đó để giải quyết vấn đề mang tính
thực tiễn, có nghĩa là các em không dừng lại ở lý thuyết suông mà biết cách thực
hành, vận hành nó. Tức là sẽ trang bị kiến thức và trau dồi tư tưởng, tình cảm,
thái độ – đúng với mục tiêu của việc dạy–học văn bản nhật dụng.
II.3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Như đã nói, cách dạy truyền thống hay dạy theo chủ đề tích hợp, liên
môn thì nền tảng vẫn là coi trọng việc lĩnh hội nội dung kiến thức của học sinh.
Tuy nhiên cách thức để học sinh lĩnh hội kiến thức có khác nhau.
Xin viện dẫn một ví dụ:
Khi giải thích câu thành ngữ: "Nước chảy đá mòn", giáo viên có thể tích
hợp kiến thức liên môn với bộ môn Hóa học.
Giáo viên hỏi học sinh về thành phần của đá là gì? Các em hoàn toàn có thể trả
lời chính xác dựa trên kiến thức Hóa học đã được cung cấp, đó là: CaCO 3 (Canxi
cacbonat). Tiếp theo, chúng ta đưa ra một giả thiết là: Khi đá gặp nước mưa và
CO2 (Cacbonic) trong không khí thì sẽ chuyển hóa như thế nào?
tiếng Anh là tích hợp ngoại ngữ, thông tin cảnh báo là tích hợp giáo dục công
dân… (Ví dụ lấy từ Internet)
Tất cả các chủ đề liên môn đều phải có mặt ít nhất là hai môn học trở lên
để bổ sung, để giải quyết một vấn đề phức hợp mà một môn không thể giải quyết
được. Riêng bộ môn Ngữ văn, vẫn có sự tích hợp trong nội bộ phân môn đó là
Văn bản, tiếng Việt và Tập làm văn, các phân môn này luôn có sự bổ sung không
tách rời các kiến thức nhằm giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những
vấn đề thuộc từng phân môn.
Phải có sự hợp tác của đại diện các môn học – điều này là quan trọng và
cần thiết vì mỗi giáo viên chỉ đảm nhiệm một phân môn và gần như chỉ nắm rõ,
nắm sâu kiến thức của bộ môn mình phụ trách, trong khi tích hợp liên môn là đòi
hỏi phải có kiến thức của ít nhất một phân môn khác, thế nên cần thiết phải có sự
hợp tác của đại diện các môn học mà mình sẽ tích hợp. Kết quả đạt được của tích
hợp và hợp tác phải được thể hiện dưới dạng tổng hợp. Như vậy, từ khái niệm
liên môn, có thể khái quát thành 3 nguyên tắc cơ bản của việc dạy, học theo
hướng tích hợp – liên môn đó là: Tích hợp, hợp tác và tổng hợp.
II.3.2. 2. Sau khi xác đinh rõ các nguyên tắc tích hợp, liên môn, chúng
ta cần xây dựng mục tiêu thích hợp:
Dạy học tích hợp, liên môn là để phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo,
bồi dưỡng và phát triển các năng lực cần thiết cho học sinh: năng lực hành động,
năng lực cộng tác làm việc của người học… Thúc đẩy khả năng nhận thức, phân
tích, tổng hợp, đánh giá của người học ở mức độ cao hơn. Từ mục tiêu này người
dạy sẽ xác định kiến thức của các môn học khác có thể tích hợp và tính tới khả
năng đóng góp của các môn này, từ đó hướng tới việc lựa chọn chủ đề.
II.3.2. 3. Xây dựng và lựa chọn chủ đề:
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS
11
vị trí địa lý của động Phong Nha, tỉnh Quảng Bình để học sinh thấy rõ vấn đề
bảo vệ môi trường, danh lam thắng cảnh.
Ngoài ra, khi hỏi học sinh về vẻ đẹp của động Phong Nha, giáo viên gợi ý để
học sinh thấy được vẻ đẹp “lộng lẫy và kỳ ảo” của Động khô và Động nước ở
đây bằng câu hỏi tích hợp môn Hóa học: Thạch nhũ là gì? (Thạch nhũ là sản
phẩm hình thành trong các hang động do sự nhỏ giọt của dung dịch đá vôi hòa
tan trong nước có chứa a-xít các-bô-níc.)
Cũng câu hỏi Thạch nhũ là gì? Giáo viên tích hợp với kiến thức bộ môn Địa
lý để học sinh thấy được rõ hơn vẻ đẹp của động Phong Nha: Nhũ đá hay thạch
nhũ được hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng trăm,
nghìn năm. Nó là khoáng vật hang động thứ sinh treo trên trần hay tường của
các hang động.
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 12
Ở văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”, đề cập đến trách nhiệm của con
người với thiên nhiên và môi trường sống. Với chủ đề này, người dạy có thể
tích hợp kiến thức ở các môn:
Giáo dục công dân 6: Bài 7: Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên
nhiên; Giáo dục công dân 7: Bài 14: Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên
nhiên.
Địa lý 7: Khái quát Châu Mĩ
Địa lý 7: Sự phân bố dân cư và các chủng tộc trên thế giới
Mĩ Thuật: Hs vẽ tranh về bảo vệ môi trường
Lịch sử 7: Những cuộc phát kiến địa lý
Lịch sử 8: Chủ nghĩa Tư bản được xác lập trên phạm vi toàn thế giới.
Ví dụ: Em hãy nêu hiểu biết của mình về vai trò của không khí và động vật
đối với cuộc sống con người? Với câu hỏi này, học sinh có thể vận dụng kiến
thức Giáo dục công dân 6: Bài 7: Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên
thức về Toán 6: Bài 5 chương III: Tìm một số biết giá trị phân số khi Tính số
liệu bao bì ni lông thải ra hằng ngày vào môi trường;
Kiến thức Sinh học 6: Bài 11. Sự hút nước và muối khoáng của rễ sẽ cho học
sinh hiểu hơn tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông khi lẫn vào đất, vứt xuống
cống rãnh sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật;
Môn Hóa học 9 bài 34: Hợp chất hữu cơ, hóa học hữu cơ: Học sinh sẽ nắm rõ
hơn nguyên nhân gây ra những tác hại từ bao bì ni lông do đặc tính không phân
hủy của Plastic.
Môn Sinh học 9 Bài 53: Tác động của con người đối với môi trường (phần
III); Môn Giáo dục công dân 7: Bài 17 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên
nhiên - học sinh sẽ có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường;
Giúp học sinh hiểu rõ về các biện pháp hạn chế sử dụng bao bì ni lông: Kiến
thức Môn Sinh học 9 Bài: Tác động của con người đối với môi trường (Phần
III).
Qua các môn Âm nhạc, Mĩ thuật học sinh cũng sẽ thấy rõ hơn về ý nghĩa của
việc bảo vệ môi trường (Kiến thức Âm nhạc 8 Bài 7 Ngôi nhà chung của
chúng ta); Ngoài ra, học sinh cũng có thể rèn luyện và thực hành môn Mĩ thuật
khi vẽ tranh bảo vệ môi trường (Kiến thức bài 20 Mĩ thuật 7).
Văn bản “Ôn dịch, thuốc lá”: Nói đến nạn nghiện thuốc lá rất dễ lây
lan và gây những tổn thất to lớn cho sức khỏe và tính mạng con người, tích
hợp kiến thức các môn:
Toán 6: Bài 15 chương III: Tìm một số biết giá trị phân số.
Sinh học 8: Đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người
Mĩ Thuật 8: Vẽ tranh đề tài
Văn bản “ Bài toán dân số”: Với chủ đề dân số, khi nói đến nội dung nếu
không hạn chế sự gia tăng dân số thì con người sẽ tự làm hại chính mình, theo tôi
nên tích hợp:
Tích hợp kiến thức Địa lý lớp 7: Bài 1: Dân số; Bài 2: Sự phân bố dân cư
Tích hợp kiến thức Địa lý lớp 9: Bài 2: Dân số và sự gia tăng dân số
Bài 4: Lao động và việc làm
và giáo dục của trẻ em Việt Nam.
Tích hợp môn Âm nhạc: Bài Thiếu nhi thế giới liên hoan - lớp 4 chương
trình Tiểu học.
Tích hợp môn Âm nhạc 7: Bài 3: Chúng em cần hòa bình.
Qua thực tế giảng dạy tích hợp, tôi nhận thấy việc lựa chọn những chủ đề gắn
liền với thực tiễn, với nhu cầu của người học sẽ có nhiều cơ hội để dạy tích hợp
liên môn và tích hợp liên môn có hiệu quả.
Một điều cũng cần lưu ý là không phải chủ đề nào cũng có thể dạy học theo
hướng tích hợp, liên môn.
II.3.2. 4. Sau khi lựa chọn chủ đề tích hợp, giáo viên sẽ nghiên cứu bài
dạy liên quan đến chủ đề đó, dự kiến các môn học, các nội dung sẽ tích hợp
trong bài để làm rõ chủ đề đã chọn. Đây còn gọi là tiến trình sư phạm trong
dạy tích hợp liên môn.
Nội dung này, SKKN của tôi sẽ tập trung vào việc dẫn dắt, mô tả từng
khía cạnh của vấn đề qua các bước cụ thể của quy trình thiết kế một bài học, tính
mới và giải pháp thực hiện sẽ được chứng minh qua một tiết dạy theo chủ đề tích
hợp kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
(Phần này kèm bài giảng Powerpoint)
MÔ TẢ QUA CẤU TRÚC MỘT BÀI HỌC CỤ THỂ:
Văn bản: THÔNG
TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT
NĂM 2000 (Văn bản nhật dụng)
(Theo tài liệu của Sở KH-CN Hà Nội)
A- Mục tiêu cần đạt:
1. Kiến thức: Giúp học sinh thấy được:
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 15
- Đoạn clip về việc sử dụng bao bì ni lông hiện nay của người dân Việt Nam.
- Các kiến thức có thể tích hợp liên môn trong bài học: Có thể tích hợp kiến thức
về Toán 6: Bài 5 chương III: Tìm một số biết giá trị phân số khi Tính số liệu
bao bì ni lông thải ra hằng ngày vào môi trường;
Kiến thức Sinh học 6: Bài 11. Sự hút nước và muối khoáng của rễ sẽ cho học
sinh hiểu hơn tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông khi lẫn vào đất, vứt xuống
cống rãnh sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật;
Môn Hóa học 9 bài 34: Hợp chất hữu cơ, hóa học hữu cơ: Học sinh sẽ nắm rõ
hơn nguyên nhân gây ra những tác hại từ bao bì ni lông do đặc tính không phân
hủy của Plastic.
Môn Sinh học 9 Bài 53: Tác động của con người đối với môi trường (phần
III); Môn Giáo dục công dân 7: Bài 17 Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên
nhiên - học sinh sẽ có ý thức và trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường;
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 16
Giúp học sinh hiểu rõ về các biện pháp hạn chế sử dụng bao bì ni lông: Kiến
thức Môn Sinh học 9 Bài: Tác động của con người đối với môi trường (Phần
III).
Qua các môn Âm nhạc, Mĩ thuật học sinh cũng sẽ thấy rõ hơn về ý nghĩa của
việc bảo vệ môi trường (Kiến thức Âm nhạc 8 Bài 7 Ngôi nhà chung của
chúng ta); Ngoài ra, học sinh cũng có thể rèn luyện và thực hành môn Mĩ thuật
khi vẽ tranh bảo vệ môi trường (Kiến thức bài 20 Mĩ thuật 7).
2. Học sinh:
- Soạn bài, tìm hiểu tình hình dùng bao bì nilông ở địa phương mình.
- Tranh, ảnh về môi trường; Bảng nhóm.
C .Hoạt động dạy học:
1. Ổn định lớp:
2. Giới thiệu bài mới: (1’)
HS nghe
HS đọc theo hướng dẫn
Đọc phần chú thích 1, 4, 5, 6, 7
Nghe và ghi
Nêu bố cục
+ P1: Từ đầu...-> “1 ngày không sử
dụng bao bì ni lông.”
-> Thông báo về ngày trái đất
2000”
+ P2: Như chúng ta đã biết...->
“Đối với môi trường.”
-> Tác hại của việc sử dụng bao
bì ni lông và 1 số giải pháp nhằm
ngăn chặn nó.
+ P3: Còn lại
-> Lời kêu gọi mọi người bảo vệ
môi trường.
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 17
Văn bản được sáng tác theo thể loại nào?
Hs trung bình-yếu: Văn bản nhật
? Câu hỏi dành cho Hs Trung bình – khá: Y/c hs dụng thuyết minh vấn đề khoa học
nhắc lại văn bản nhật dụng là gì?
tự nhiên.
Kết luận:
HS suy nghĩ, trả lời: Văn bản nhật
Gv trình chiếu khái niệm và ví dụ về văn dụng: Nêu những vấn đề thời sự
bản nhật dụng. (Slide 4)
Gv bổ sung thêm:
Ni lông là một rác thải sinh hoạt gắn với đời
sống, tiện dụng nhưng lại gây ra tác hại với môi
trường sống nên tất cả mọi người trước khi dùng Nghe và ghi
bao bì ni lông cũng cần có những hiểu biết tối
thiểu về nó để có hướng xử lý, bảo vệ môi trường
sống. Vì vậy đây là vấn đề gần gũi, thiết thực, có
ý nghĩa to lớn đối với mỗi người.
GV trình chiếu các hình ảnh bao bì ni lông sử Quan sát trên máy chiếu
dụng tràn lan, phổ biến và nêu câu hỏi: (Slide
8)
? Khi chưa đọc văn bản này, em thấy việc sử dụng Có lợi: Tiện dụng; màu sắc bắt
bao bì nilông có lợi và có hại gì? (Câu hỏi mở
mắt; đựng được nhiều đồ...
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 18
dành cho tất cả các đối tượng học sinh)
Gv chuyển ý:
Bao bì nilông gắn liền với đời sống mỗi người
nên không ít người phớt lờ tác hại của chất liệu
này, vì thế bản thông điệp đã trình bày rất rõ
những nguy hại khi dùng bao bì ni lông. Vậy bao
bì nilông có những tác hại gì? Chúng ta làm gì để
xử lí nó? Chúng ta chuyển sang phần 2
2. Tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông và
biện pháp hạn chế sử dụng nó: (15’)
* Y/c HS đọc thầm P2 và thảo luận nhóm 3’
GDKNS: Kỹ năng lắng nghe và hoạt động
(Slide 11 - Slide 16)
Tích hợp kiến thức môn Sinh học 6: Sự hút
Hại: ô nhiễm môi trường
Đọc phần 2
- Hs thảo luận nhóm và đại diện
trả lời (3’)
Hs nhận xét chéo phần trình bày
của từng nhóm.
Hs đối chiếu với câu trả lời trên
máy chiếu với kết quả của nhóm
mình.
Dựa vào chú thích để trả lời
Plastic (chất dẻo, nhựa): Vật liệu
tổng hợp gồm các phân tử pôlime.
Nghe & ghi bài
Quan sát trên máy chiếu
Tích hợp kiến thức Sinh học 6 để
trả lời: Tất cả các cây đều cần
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 19
nước và muối khoáng của rễ.
GV đưa ra câu hỏi: (dành cho Hs Tr.bình, yếu)
? Nước có vai trò như thế nào đối với thực vật?
Rút ra kết luận: Bao bì ni lông Lẫn vào đất, rễ
Quan sát trên máy chiếu
Quan sát trên máy chiếu
Làm tắc đường nước thải, gây ngập lụt
-> muỗi phát sinh lây truyền dịch bệnh.
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 20
Quan sát trên máy chiếu
-> muỗi phát sinh lây truyền dịch bệnh.
Gv chốt ý:
* Tác hại:
Tích hợp: Kỹ năng liên kết các kiến thức giữa các
phân môn.
Bài 11 Sự hút nước và muối khoáng của rễ.
(Kiến thức môn Sinh học 6)
Gv rút ra kết luận:
Thực vật cần nước để sinh trưởng và phát triển,
nếu thiếu hoặc thừa nước thì cản trở quá trình
phát triển của thực vật, bao bì ni lông lẫn vào
trong đất có thể khiến rễ thực vật khó khăn trong
việc hấp thụ nước và các khoáng chất.
Gv cho Hs trình bày tác hại của bao bì ni lông
sau đó trình chiếu, chốt ý về tác hại của bao bì
ni lông với môi trường thiên nhiên.
GV trình chiếu hình ảnh bao bì ni lông dùng để
Khi đốt: sinh ra khí độc gây ngộ độc, khó thở ,
nôn ra máu...
Làm ô nhiễm thực phẩm đựng trong túi, gây hại
cho não, ung thư phổi.
Để học sinh thấy được số bao bì ni lông khổng
lồ thải ra môi trường mỗi năm:
Tích hợp Toán 6 – Bài 19 – Chương III
Tìm 1 số khi biết giá trị phân số của nó
Gv yêu cầu học sinh làm phép tính để xác định
bao bì ni lông được sử dụng trong 1 năm ở
nước ta.
Như vậy, mỗi năm ở nước ta, có tới hơn 9 tỉ bao
bì ni lông thải ra môi trường, trên thực tế thì con
số này còn gấp nhiều lần vì 1 gia đình mỗi ngày
sử dụng ít nhất là 3-5 bì ni lông. Với số lượng
bao bì ni lông khổng lồ như thế, chúng ta có
biện pháp gì để xử lí nó?
GV chốt ý: Chôn lấp: Tốn diện tích, gây hại cho
đất; Tái chế: Nan giải, khó làm; Đốt: gây ô
nhiễm, nhiễm độc
GV trình chiếu hình ảnh về tác hại của sử
dụng bao bì lông bừa bãi. (Slide 19, 20) Bao bì ni lông ảnh hưởng đến sức khỏe
Ảnh hưởng đến các nội tiết tố.
Giảm khả năng miễn dịch.
Gây rối lọan chức năng.
Dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh.
Hs tích hợp Toán 6:
Một hộ gia đình 1 bao bì nilông
? Hãy chỉ ra tác dụng của từ “Vì vậy”? (Câu hỏi
dành cho Hs Trung bình, khá)
Chốt ý: Vừa khẳng định vấn đề, vừa có kêu gọi
chúng ta phải làm-> như 1 câu nối dẫn dắt suy
nghĩ của người đọc 1 cách tự nhiên.
? Vậy tác giả đã đưa ra các biện pháp nào?
(Câu hỏi dành cho Hs Trung bình, yếu)
* Biện pháp:
Gv trình chiếu Slide 21 về các biện pháp hạn
chế sử dụng bao bì ni lông.
Giáo dục học sinh kỹ năng ra quyết định khi vận
dụng kiến thức vào thực tế
- Thay đổi thói quen sử dụng bao bì nilông
- Không sử dụng bì nilông khi không cần thiết.
- Thay túi nilông bằng vật liệu khác
- Vận động mọi người cùng làm theo.
? Theo em, biện pháp nào hiệu quả nhất? Vì sao?
(Câu hỏi dành cho Hs khá, giỏi)
-> Gv giảng thêm: Biện pháp vận động mọi
người cùng làm theo là quan trọng nhất vì nó tác
động đến ý thức của mỗi người, nếu không có ý
thức hạn chế sử dụng bao bì ni lông thì những
giải pháp khác đều không có ý nghĩa.
Gv trình chiếu Slide 22, 23, 24 về các hình ảnh
tuyên truyền, vận động mọi người cùng hạn
chế sử dụng bao bì ni lông.
Trình bày các biện pháp hạn chế sử
dụng bao bì ni lông:
Thay đổi thói quen sử dụng bao bì
phương pháp liệt kê kết hợp với phân tích, ngôn
từ sáng tỏ, rành mạch, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm
theo-> Đó chính là đặc điểm cơ bản của VB
thuyết minh.
3. Lời kêu gọi và hành động: (8’)
Y/c Hs đọc phần 3
? Đoạn văn cuối này có 3 từ “hãy”. Từ này có ý
nghĩa như thế nào trong ngôn ngữ?
? Đoạn văn cuối này có 3 từ “hãy” đã nêu lên
những yêu cầu gì? (Hs yếu)
GV chốt ý và trình chiếu Slide 25
HS trả lời
+ Quan tâm đến trái đất
+ Bảo vệ trái đất
+ Cùng nhau hành động
Quan sát máy chiếu
Hs phát hiện sự khác nhau của từ
“hãy” và từ “phải”
Hãy: mang tính đề nghị, thuyết
phục.
Phải: Ra lệnh
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 24
Vì trái đất là điều kiện sống của
mỗi người.
hoặc địa phương em nhằm góp phần bảo vệ môi
trường? (Dành cho Hs yếu trung bình, khá, giỏi)
GV trính chiếu slide 29, 30, 31 để học sinh thấy
1 số hình ảnh đẹp về bảo vệ môi trường.
Hs tự trình bày những việc làm
cụ thể để bảo vệ môi trường sống
- Trồng rừng
- Xây dựng hệ thông nước thải ở
các khu công nghiệp
- Xây dựng hệ thông xử lý rác thải
sinh hoạt và rác thải công nghiệp
- Sử dụng nguồn năng lượng xanh.
Hs tự kể
Trình bày
Dựa vào kiến thức môn Môn Giáo
dục công dân 7 và kiến thức thực
tế để trả lời
Bằng kiến thức thực tế và dựa
trên hình ảnh máy chiếu Hs
trình bày giải pháp nào để bảo
vệ môi trường tự nhiên.
Quan sát hình ảnh trên máy chiếu
SKKN: Dạy học theo hướng tích hợp kiến thức liên môn các văn bản nhật dụng ở THCS 25