Diễn ngôn về giới nữ trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ - Pdf 45

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG THU

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
CỦA NGUYỄN DỮ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG THU

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ
TRONG TRUYỀN KÌ MẠN LỤC
CỦA NGUYỄN DỮ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2016

1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 7
6. Dự kiến đóng góp của khóa luận.................................................................... 7
7. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................... 8
NỘI DUNG........................................................................................................ 9
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM DIỄN NGÔN, Ý NGHĨA CỦA VIỆC TIẾP CẬN
VẤN ĐỀ GIỚI NỮ TRONG VĂN HỌC TỪ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN...... 9
1.1. Khái quát về diễn ngôn ............................................................................... 9
1.1.1. Các hướng nghiên cứu chính về diễn ngôn ............................................ 10
1.1.1.1. Hướng tiếp cận ngôn ngữ học ............................................................. 10
1.1.1.2. Hướng tiếp cận phong cách học ......................................................... 11
1.1.1.3. Hướng tiếp cận xã hội học .................................................................. 13
1.1.2. Khái niệm diễn ngôn .............................................................................. 15
1.1.3. Đặc điểm diễn ngôn ............................................................................... 16
1.2. Diễn ngôn văn học .................................................................................... 19
1.3. Ý nghĩa của việc tiếp cận vấn đề giới nữ trong văn học từ lí thuyết diễn
ngôn .................................................................................................................. 23
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ TRONG
“TRUYỀN KÌ MẠN LỤC” CỦA NGUYỄN DỮ ........................................ 26
2.1. Người phụ nữ khuôn thước, mẫu mực ...................................................... 26
2.1.1. Về chữ “Công” ....................................................................................... 27
2.1.2. Về chữ “Dung” ....................................................................................... 27


2.1.3. Về chữ “Ngôn” ....................................................................................... 29
2.1.4. Về chữ “Hạnh”........................................................................................ 34
2.2. Người phụ nữ lệch chuẩn ............................................................................ 39

của văn bản mà cần đặt văn học trong bối cảnh rộng lớn hơn của những vấn
đề văn hóa xã hội.
1.3. Nguyễn Dữ là cây bút văn xuôi xuất sắc nhất của văn học Việt
Nam thế kỉ XVI. Chỉ với một tác phẩm Truyền kì mạn lục cũng đã đủ khẳng
định tên tuổi của Nguyễn Dữ trong lịch sử văn học Việt Nam. Tác phẩm được
1


coi là mẫu mực của thể truyền kì, là “thiên cổ kì bút”, đánh dấu bước phát
triển quan trọng của văn học chữ Hán. Truyền kì mạn lục vừa có giá trị hiện
thực vừa có giá trị nhân đạo. Tác phẩm còn thể hiện tinh thần táo bạo, phóng
túng của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối. Ra đời
vào thế kỉ XVI, thuộc văn học trung đại Việt Nam đó là nền văn học mang
đậm nét ảnh hưởng của Nho giáo. Con người bị đặt trong các mối quan hệ
luân thường, bị ràng buộc bởi những điều cấm kị của Nho giáo. Trong xã hội
đó người phụ nữ phải tuân theo những qui định chặt chẽ của Nho giáo như
tam tòng, tứ đức. Họ còn bị coi như nguồn cội của sự cám dỗ đe dọa đạo đức.
Những tư tưởng của Nho giáo đối với người phụ nữ thực chất là sự tước đoạt
quyền lợi của giới nữ và tạo nên một xã hội vận hành theo kiểu nam quyền.
Người đàn ông thống ngự nữ giới và áp đặt các chuẩn mực của họ về cái đẹp,
về đức hạnh. Từ đó tạo ra những ẩn ức trong xã hội, những khao khát mong
muốn được giải phóng của người phụ nữ. Trong sáng tác thơ văn của các nhà
nho dường như ít đề cập tới vấn đề giới nữ, họ cho rằng “văn dĩ tải đạo, thi dĩ
ngôn chí” thơ văn dùng để đâm gian trừ tà, nói lên ý chí của người quân tử
chứ không đề cập tới những vấn đề nhỏ nhặt của cuộc sống, của phái yếu.
Nhưng trong tác phẩm của mình Nguyễn Dữ đã đề cập đến vấn đề này. Là
một nhà nho sinh ra từ cửa khẩu sân đình Nguyễn Dữ vẫn đứng trên lập
trường đạo đức của Nho gia để nhìn nhận đánh giá con người, những vấn đề
của con người trên quan điểm đạo đức. Tuy nhiên một tác giả văn học lớn
luôn có tinh thần nhân đạo cao cả, Nguyễn Dữ trong không ít trường hợp dù

độ phê phán thuyết “Tòng phu”. Ông nhận xét: “Truyện 2 (Chuyện người nghĩa phụ
ở Khoái Châu) và truyện 16 (Chuyện người con gái Nam Xương): Tả rõ phụ nữ ở xã
hội cũ, dù ăn ở thủy chung với chồng thế nào, cũng chịu một thân phận hèn kém:
Một đằng vì thua bạc mà gán vợ, một đằng vì ngờ vực hão huyền để vợ phải quyên
sinh. Đáng giận thay cái thuyết “Tòng phu” đã làm hại bao nhiêu bạn quần thoa trong
bao nhiêu thế kỷ!” [19; tr 234].
Đối với nhân vật nữ vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến, Bùi Kỷ tuy
không phân tích rõ nhưng lại tỏ thái độ không đồng tình với những hành vi

3


của họ. Ông cho rằng: “Truyện 3 (Chuyện cây gạo), cũng như truyện 5
(Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây), truyện 11 (Chuyện yêu quái ở Xương Giang): có
ý bài xích những thói đắm đuối trong vòng tình dục của bọn thiếu niên” [19;
tr 234]. Đương nhiên, “bọn thiếu niên” mà nhà nghiên cứu nói đến ở đây gồm
cả nhân vật nam và nữ.
Điểm qua có thể thấy, trong những lời định giá này, tiêu chí để Bùi Kỷ đánh giá
nhân vật nữ về cơ bản vẫn là tiêu chí đức hạnh của nhà Nho. Tuy có đề cập đến thân
phận thấp hèn của người phụ nữ trong tương quan với nam giới, nhắc đến bất công
trong đạo “Tam tòng” nhưng nhà nghiên cứu không nhấn mạnh những đặc điểm này
mà chú ý nhiều hơn đến ngợi khen, thương xót những người phụ nữ tiết hạnh và phê
phán những người phụ nữ sống vượt khuôn phép Nho gia. Trường nhìn của Bùi Kỷ ít
nhiều đã bao hàm vấn đề giới khi ông đặt người phụ nữ trong tương quan với người
đàn ông để phê phán thuyết “Tòng phu”, bảo vệ người phụ nữ, nhưng về cơ bản ông
vẫn đứng từ quan điểm đạo đức Nho gia để nhìn nhận họ.
Có thể thấy, khi nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, nhà
nghiên cứu Bùi Duy Tân cơ bản vẫn đứng từ góc nhìn xã hội học. Ở bài viết của mình,
nhà nghiên cứu nghiêng về khảo sát hoàn cảnh xã hội để lý giải các hiện tượng văn học
và hầu như chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu hệ thống nhân vật nữ trong tập tác phẩm này

kiến cũng rất dễ gặp ở đây. Con người, đó không phải là những tấm gương
chói lòa về các anh hùng, liệt nữ lưu danh sử sách mà là những con người của
đời sống thực tế sôi động, cay nghiệt” [10; tr 501]. Nhận định này có phần
cực đoan, bởi lẽ, tuy Nguyễn Dữ đã có nhiều điểm nhân văn tiến bộ hơn so
với nhà Nho đương thời nhưng những nhân vật của ông ở một chừng mực
nhất định vẫn được khen, chê theo tiêu chí Nho gia, những khát vọng mang
hơi hướng vật chất trong truyện không được Nguyễn Dữ công khai ca ngợi,
thậm chí ít nhiều còn bị ông phê phán.
Tác giả Toàn Huệ Khanh trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu
thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam cũng đề cập đến một số

5


nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục, phân loại họ vào nhân vật của hai kiểu
truyện là truyện kỳ quái và truyện diễm tình. Công trình này đã giúp người
đọc có cái nhìn đầy đủ hơn về sự giao thoa giữa tác phẩm truyền kỳ của các
quốc gia vùng văn hóa Hán. Tuy nhiên vì chỉ xác định mục tiêu là phân tích
nhân vật theo mô-típ nên nhà nghiên cứu này chưa quan tâm đến phương diện
giới tính nữ của các nhân vật nữ. Những tri thức về văn hóa giới ở Việt Nam
thời trung đại cũng chưa được Toàn Huệ Khanh vận dụng để lý giải hình
tượng người phụ nữ.
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu đã có về Truyền kỳ mạn lục
chưa đặt vấn đề nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ. Trường quan sát của những
nhà nghiên cứu này không hoặc ít bao hàm vấn đề diễn ngôn về giới nữ.
Sau đó có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về Truyền kì mạn
lục, đó cũng là cơ sở căn cứ, tài liệu cho chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết diễn ngôn vào việc tìm hiểu đặc điểm và cơ chế kiến
tạo diễn ngôn về giới nữ trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

mà xã hội học quan tâm, chúng tôi sẽ soi chiếu tác phẩm dưới cái
nhìn xã hội học để nghiên cứu được trọn vẹn hơn.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng kết hợp một số phương pháp như so
sánh, thống kê, phân tích,... để rút ra những luận điểm đặc trưng và khái quát
nhất cho vấn đề.
6. Dự kiến đóng góp của khóa luận
Việc đi sâu tìm hiểu diễn ngôn về giới nữ trong Truyền kì mạn lục góp
phần làm rõ hơn một vấn đề mới của chủ nghĩa nhân đạo: Quyền tự do và sự
thức tỉnh ý thức cá nhân của con người trong văn học trung đại. Những yếu tố
chi phối, kiến tạo nên diễn ngôn của nhà văn.

7


7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tham khảo, nội dung của
khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Khái niệm diễn ngôn, ý nghĩa của việc tiếp cận vấn đề giới
nữ trong văn học từ lí thuyết diễn ngôn.
Chương 2: Đặc điểm diễn ngôn về giới nữ trong Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ.

8


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI NIỆM DIỄN NGÔN, Ý NGHĨA CỦA VIỆC TIẾP CẬN
VẤN ĐỀ GIỚI NỮ TRONG VĂN HỌC TỪ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN
1.1. Khái quát về diễn ngôn
Thời gian gần đây, trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm

gọi là phân tích diễn ngôn) trở thành một trào lưu khoa học phát triển rầm rộ
ở châu Âu và diễn ngôn trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành
rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn. Tuy nhiên, ta cũng có thể thấy rõ,
khái niệm diễn ngôn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Các nội
dung định nghĩa đó có thể khác xa nhau hay mâu thuẫn với nhau, qua đó càng
chứng tỏ tính phức tạp và nội hàm chưa được xác định rõ của thuật ngữ khoa
học này.
1.1.1. Các hướng nghiên cứu chính về diễn ngôn
Trong lí luận hiện nay có ba khuynh hướng nghiên cứu. Một là ngữ học
do các nhà ngữ học đề xuất. Hai là lí luận văn học do M. Bakhtin nêu ra và
ba là xã hội học, lịch sử tư tưởng mà tiêu biểu là Foucault.
1.1.1.1. Hướng tiếp cận ngôn ngữ học
Nền tảng cơ sở của hướng tiếp cận diễn ngôn từ phương diện ngôn ngữ
học là những luận điểm của F.de Sausure trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học
đại cương. Trong công trình này, Sausure phân biệt ngôn ngữ với lời nói.
Ngôn ngữ là một hệ thống, một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát trong
khi lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh cụ thể, bởi các cá
nhân cụ thể. Sausure còn chỉ ra, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là
ngôn ngữ, sản phẩm của xã hội kết tinh lại trong trí óc của mỗi người chứ
không phải là lời nói.
Sự đối lập lời nói/ ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure đã làm nền
tảng cho sự phân biệt giữa discourse (diễn ngôn) và text (văn bản). Văn bản
(text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, còn diễn ngôn (discourse) là
cấu trúc lời nói mang tính động.

10


Trong giai đoạn này, do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học
Saussure và chủ nghĩa cấu trúc, các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ tập

Nếu như hướng tiếp cận ngôn ngữ học về diễn ngôn được hình thành
trên cơ sở ngôn ngữ học Saussure thì hướng tiếp cận phong cách học về diễn
ngôn lại được phát triển dựa trên nền tảng đối lập với những quan điểm của
Saussure về ngôn ngữ. Bakhtin phê phán ngôn ngữ học hàn lâm chỉ tập trung
nghiên cứu phương diện cấu trúc của ngôn ngữ mà không chú ý đến bình diện
sinh thành của ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ trong đời sống, trong giao tiếp. Ông
đề xuất một lĩnh vực nghiên cứu mới mà ông gọi là “siêu ngôn ngữ”, có nghĩa
là ngôn ngữ như một thực thể đa dạng, sống động, mang tính lịch sử chứ
không phải là ngôn ngữ như một hệ thống mang tính chất tĩnh, khép kín và
trừu tượng.
Bởi vậy, diễn ngôn (hay lời nói) (discourse), là khái niệm trung tâm
trong quan điểm của Bakhtin về ngôn ngữ. Ông cho rằng, diễn ngôn là ngôn
ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối
cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng. Cũng chính bởi
vậy, Bakhtin nhấn mạnh, đối thoại là bản chất của diễn ngôn. Mỗi người nói
không phải là người nói đầu tiên, mà đều là người trả lời, là người đối thoại
với hàng ngàn những người nói trước đó. Người nghe cũng sẽ không phải là
người lắng nghe một cách thụ động mà là người chủ động hồi đáp. Lời nói
của chúng ta, vì thế, “được hình thành và phát triển trong sự tác động qua lại,
thường xuyên, liên tục với những phát ngôn của các cá nhân khác”.
Trong thực tế, các phát ngôn thường liên kết với nhau và được tổ chức
trong những hình thức ổn định mà ông gọi là các thể loại lời nói. Thể loại lời
nói là những loại hình phát ngôn tương đối bền vững, được sản sinh ra trong
một phạm vi sử dụng ngôn ngữ cụ thể, là một chỉnh thể bao gồm ba bình diện:
nội dung chủ đề, phong cách và tổ chức kết cấu.

12


Như vậy, với một quan niệm mới về diễn ngôn, Bakhtin đã đưa ngôn


học ở nhiều ngành khác nhau. Vì vậy, tiếp cận khái niệm diễn ngôn theo
hướng phong cách học, mà hạt nhân là quan niệm của Foucault.
Về khái quát, có thể đặt quan niệm của Foucault về diễn ngôn trong
mối quan hệ so sánh với các quan niệm, hướng nghiên cứu khác. Nếu ngôn
ngữ học được phát triển trên nền tảng tư tưởng Saussaure nhấn mạnh đến tính
chất hệ thống, khép kín, tĩnh tại của diễn ngôn thì các nhà tư tưởng như
M.Bakhtin, M.Foucault lại khẳng định tính chất sinh thành, đa dạng, năng sản
của diễn ngôn. Nếu Bakhtin đặc biệt chú ý đến tính liên chủ thể của diễn ngôn
thì Foucault đề cập đến tính phi chủ thể của diễn ngôn, sự biến mất của chủ
thể người trong mê cung của các diễn ngôn. Ba quan điểm tiếp cận này đều có
sức lan tỏa và ảnh hưởng rất lớn đến gần như toàn bộ lý thuyết văn học và
ngôn ngữ trong thế kỉ XX.
Tóm lại; ba cách tiếp cận ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học
này đã cung cấp ba cách định nghĩa khác nhau về diễn ngôn: diễn ngôn như là
cấu trúc của ngôn ngữ/lời nói, diễn ngôn như là lời nói - tư tưởng hệ, và diễn
ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. Ba quan
niệm này nảy sinh trên nền tảng những cách cắt nghĩa khác nhau về bản chất,
vai trò của ngôn ngữ và đều có sức lan tỏa, ảnh hưởng rất lớn đến gần như
toàn bộ lý thuyết văn học và ngôn ngữ trong thế kỉ XX.
Trên thực tế, trong quá trình phát triển, các lý thuyết diễn ngôn có xu
hướng đan bện vào nhau, tạo nên những vùng giao thoa, những khu vực
chung. Sự kết hợp này khiến cho con đường đi của khái niệm trở nên phức tạp
và cho thấy nghiên cứu diễn ngôn vẫn đang là một tiến trình vận động, hứa
hẹn nhiều những nhánh rẽ bất ngờ.
Qua ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn, chúng ta cũng có thể quan
sát thấy ngọn nguồn sự phát triển và phân nhánh phức tạp của thuật ngữ, cũng
như sự tương tác, kế thừa, phủ định, sáng tạo giữa các khuynh hướng, và đặc

14

15


Thứ hai, diễn ngôn là một nhóm các diễn ngôn cụ thể, được qui ước
theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc hoặc một hiệu lực nói chung,
“được nhóm lại với nhau bởi một áp lực mang tính thiết chế nào đó, bởi sự
tương tự giữa xuất xứ và bối cảnh hay bởi chúng cùng hành động theo một
cách gần giống nhau”. Ví dụ, diễn ngôn nữ giới là một nhóm các diễn ngôn có
chung một hiệu lực là nhằm phản kháng lại diễn ngôn về phụ nữ của đàn ông,
diễn ngôn chủ nghĩa đế quốc là nhóm các diễn ngôn có chung một hiệu lực là
áp đặt quyền lực thực dân lên những xứ sở thuộc địa…
Thứ ba, diễn ngôn là một thực tiễn sản sinh ra vô số các nhận định và
chi phối việc vận hành của chúng.
Quan niệm thứ ba về diễn ngôn là quan niệm có ảnh hưởng lớn nhất đến
các nhà nghiên cứu sau này. Ở đây, diễn ngôn không chỉ được coi như “một cái
gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập”, mà là
những qui tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ
thể. Cách định nghĩa thứ ba này cho thấy bản chất thuộc về các thiết chế, bản
chất bị chi phối bởi luật lệ của diễn ngôn, nó cho thấy các diễn ngôn không
được tạo ra từ hư không, mà sinh mệnh của nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của
các thiết chế, và đằng sau nó là bàn tay vô hình của quyền lực. Lời nói và suy
nghĩ của con người không phải là sự biểu hiện một cách tự do những tư tưởng
cá nhân, mà bị định hình và nhốt chặt vào trong một thứ khung có trước.
Nếu coi quyền lực và tri thức là hai mối quan tâm lớn nhất của Foucault
thì diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này. Với
Foucault, cả tri thức và quyền lực đều chỉ có thể được tạo ra, được hiện thực
hóa, được vận hành và phân phối bởi diễn ngôn.
1.1.3. Đặc điểm diễn ngôn

16

17


định do sự khuếch tán của chủ thể và tính không liên tục của nó trong đó.
Diễn ngôn là không gian ngoại tại, trong đó triển khai một mạng lưới ở các vị
trí khác nhau. Phạm vi của sự kiện diễn ngôn truớc sau là hữu hạn, hiện thời
do các đoạn ngữ nghĩa hợp thành chỉnh thể hữu hạn, đoạn ngữ nghĩa có thể vô
số, nhưng là chỉnh thể hữu hạn. Nhưng diễn ngôn lại không phải là chủ đề, đề
tài, lí luận, văn bản, không phải bộ môn chuyên ngành hay phạm vi môn học.
Nhà văn, tác phẩm, thư tịch, chủ đề đều là đối tượng của diễn ngôn, nhưng
không cấu thành bản thân diễn ngôn. Cũng đều là mĩ học, nhưng mĩ học
Trung Quốc và phương Tây tạo thành hai diễn ngôn hoàn toàn khác biệt, về lí
luận văn học cũng thế, diễn ngôn có tính hệ thống, tính lịch sử, tính liên tục,
tính thống nhất, do đó diễn ngôn căn bản là một sự tụ họp, kiến tạo. Foucault
nói, diễn ngôn không phải là cái hình thành một cách tự nhiên, mà trước sau
là kết quả của một sự kiến tạo. Rõ ràng, chủ đề, trần thuật, lí luận… thuộc về
diễn ngôn, nhưng bản thân chúng không phải là diễn ngôn. Foucault nói:
Chúng tôi gọi một diễn ngôn hình thành, thay thế một diễn ngôn khác không
có nghĩa là một chỉnh thể lựa chọn lí luận hoàn toàn mới mẻ về đối tượng,
trần thuật, khái niệm, đột nhiên được trang bị hoàn thiện, tổ chức tốt đẹp, xuất
hiện trong một văn bản, văn bản đó làm một sự sắp xếp ngon lành… mà có
nghĩa là một sự thay đổi về quan hệ sẽ nảy sinh, nhưng sự thay đổi đó không
có nghĩa là thay đổi toàn bộ mọi thành phần. Cũng tức là nói, trần thuật phục
tùng một số quy luật hình thành mới, không có nghĩa là tất cả đối tượng hoặc
khái niệm tất cả trần thuật hoặc tất cả lí luận đều biến mất. Diễn ngôn là một
loại tổ chức, cơ chế, cấu trúc, có tính chỉnh thể và tính chức năng, các hệ
thống diễn ngôn khác nhau có thể sử dụng các khái niệm giống nhau, đối
tượng nói đến cũng có thể tương đồng. Đối với Foucault thì diễn ngôn và văn
bản có quan hệ rất khác với ngữ học và khác với Bakhtin. Theo ông, văn bản
có độ dài, có tác giả, có cấu trúc, có thể loại, còn diễn ngôn thì không, nó chỉ

Có thể nhận diện được đặc điểm của diễn ngôn này bằng cách chỉ ra
quan hệ của nó đối với các diễn ngôn khác; rất khó để nhận diện được bản thể
của diễn ngôn, và vì thế chỉ nên nói về chức năng của nó mà thôi.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status