TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
HOÀNG THỊ THƯƠNG
CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG
TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH (QUA TRƯỜNG HỢP
TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ KIỀU ANH
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo của khoa Ngữ
Văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đã hết sức nhiệt tình trong quá trình
giảng dạy giúp em có những kiến thức quý giá phục vụ trực tiếp cho quá trình
thực hiện khoá luận tốt nghiệp.
Em cũng xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Kiều Anh, người đã tận
tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận, từ việc định hướng, lựa
chọn đề tài đến việc xây dựng đề cương và triển khai khoá luận. Cô đã có
những góp ý cụ thể và luôn luôn động viên để em có thể hoàn thành tốt nhiệm
vụ của mình.
Đề tài của em chắc hẳn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Em rất mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô cùng các bạn.
ĐIỆN ẢNH ......................................................................................... 6
1.1. Văn học ........................................................................................ 6
1.1.1. Thuật ngữ văn học ..................................................................... 6
1.1.2. Đặc trưng của văn học ............................................................... 8
1.1.2.1. Tính “phi vật thể” của hình tượng ngôn từ .............................. 8
1.1.2.2. Khả năng miêu tả, thâm nhập vào đời sống tâm lý, tình cảm của
con người ........................................................................................... 10
1.1.2.3. Khả năng chiếm lĩnh và xử lý không gian, thời gian. ............. 11
1.2. Điện ảnh ...................................................................................... 13
1.2.1. Thuật ngữ điện ảnh ................................................................... 13
1.2.2. Đặc trưng của điện ảnh ............................................................. 18
1.2.2.1. Ngôn ngữ thị giác .................................................................. 18
1.2.2.2. Ngôn ngữ thính giác .............................................................. 23
1.2.2.3. Montage (dựng phim) ............................................................ 25
1.3. Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh. ........................................ 26
1.3.1. Mối quan hệ gần gũi, tác động lẫn nhau .................................... 26
1.3.2. Phim chuyển thể - sản phẩm của sự giao thoa giữa văn học và
điện ảnh ............................................................................................. 28
1.3.2.1. Các hình thức chuyển thể ....................................................... 29
1.3.2.2. Những vấn đề cần lưu ý khi chuyển thể. ................................ 30
CHƯƠNG 2: TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH - SỰ
CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG TÁC PHẨM ĐIỆN
ẢNH
.............................................................................................. 32
2.1. Phim chuyển thể trong lịch sử điện ảnh Việt Nam ........................ 32
2.2. Tác phẩm “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” ................................ 35
cuốn sách này đã phân tích một số khía cạnh về đặc trưng ngôn ngữ văn học
và điện ảnh, phương pháp biểu hiện của truyện phim, thành phần văn xuôi
trong truyện phim…
Bên cạnh đó, vấn đề này còn được bàn đến trong một số bài báo như:
- Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh (Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số
12-2002, Minh Trí)
- Từ văn học đến điện ảnh (Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2 năm 2001,
Hương Nguyên).
-Từ văn học đến điện ảnh (Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6/1999, Phạm
Vũ Dũng).
2
Các bài báo trên chủ yếu chỉ ra những nét khái quát về mối quan hệ giữa
văn học và điện ảnh, đặc biệt là vai trò của văn học với điện ảnh. Và có phân
tích ít nhiều đến sự chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim điện ảnh.
Vì vậy để có được một cái nhìn tương đối đầy đủ về sự chuyển thể từ tác
phẩm văn học sang phim điện ảnh là một điều tương đối khó khăn đối với
chúng tôi khi thực hiện đề tài này.
Mặt khác, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là truyện dài mới nhất của
Nguyễn Nhật Ánh , được Đạo diễn Victo Vũ chuyển thể thành phim điện ảnh
công chiếu vào tháng 10/2015 vừa qua và qua khảo sát chúng tôi nhận thấy
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Hiện mới
chỉ có những bài viết đăng trên các báo, tạp chí giới thiệu đôi nét về sáng tác,
văn phong của tác phẩm cũng như những cảm nhận, suy nghĩ của người xem
về bộ phim. Lịch sử vấn đề như vậy quả thực là một thử thách của chúng tôi.
3. Mục đích, ý nghĩa đề tài
Từ việc phân tích đặc điểm của văn học và điện ảnh cũng như mối quan
hệ đa chiều giữa văn học và điện ảnh, chúng tôi muốn xem xét, tìm hiểu sự
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
- Phương pháp phân loại - thống kê.
- Phương pháp khảo sát - so sánh.
- Phương pháp mô tả
7. Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 2
chương:
Chương 1: Một vài nét về đặc điểm của văn học và điện ảnh
Chương 2: Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh – Sự chuyển thể từ tác phẩm
văn học sang tác phẩm điện ảnh.
4
8. Quy cách trình bày
- Tên các loại tác phẩm: In nghiêng không đậm.
- Viết tắt - Nxb = Nhà xuất bản.
- Thông tin trong ngoặc vuông thứ tự là: Số thứ tự tài liệu đã dẫn, ở
trang thứ
5
CHƯƠNG 1: MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC VÀ
ĐIỆN ẢNH
“Tìm hiểu tính đặc thù của nghệ thuật không có nghĩa là tìm ra đường
biên ranh giới giữa nghệ thuật và các hình thái ý thức xã hội khác mà chủ yếu
chỉ ra những thuộc tính cơ bản, loại biệt của nghệ thuật” [10; 13]. Văn học và
điện ảnh là hai loại hình nghệ thuật độc lập, tồn tại song song và tương trợ lẫn
nhau. Chúng ta thường nghe thấy những mệnh đề: “Chất văn học trong điện
của văn học thì hoàn toàn do con người tạo ra. Đó là ngôn ngữ, hay nói cách
khác là ngôn từ. Những từ ấy tồn tại một cách khách quan trong đời sống
hàng ngày. Nhà phê bình nghệ thuật Letssing đã phân biệt chính xác khi cho
rằng hội hoạ sử dụng “các vật thể và màu sắc tồn tại trong không gian làm
phương tiện và ký hiệu, còn thơ ca thì sử dụng âm thanh phát ra từ tiếng lần
lượt trong không gian”. Bởi vậy, nếu chúng ta không biết thứ ngôn ngữ viết
trong tác phẩm văn học thì chúng ta sẽ không thể nào hiểu được nội dung của
nó.
Bản chất xã hội lịch sử của văn học với tư cách là hình thái ý thức xã hội
đặc thù được xác định bằng các khái niệm như “tính hiện thực”, “tính nhân
loại”, “tính giai cấp”, “tính tư tưởng”, “tính khuynh hướng”, “tính Đảng”,
“tính nhân dân”…
Nhưng văn học khác với các hình thái ý thức xã hội như chính trị, triết
học, đạo đức… còn ở đối tượng nhận thức và nội dung của nó. Văn học là sự
phản ánh của đời sống nên văn học lấy con người làm đối tượng nhận thức
trung tâm. Văn học nhận thức con người trong tính tổng hợp, toàn vẹn, sống
động trong các mối quan hệ đời sống phong phú và phức tạp của nó trên các
phương diện thẩm mỹ. Trong các tác phẩm văn học, nhà văn không chỉ đưa ra
những nhận thức khách quan mà còn bộc lộ tư tưởng, tình cảm, ước mơ, khát
vọng của mình đối với con người và cuộc sống. Do đó “nội dung của văn học
là sự thống nhất biện chứng giữa phương diện chủ quan và phương diện
7
khách quan” [9; 276]. Đối tượng và nội dung đặc thù đòi hỏi văn học phải có
phương thức chiếm lĩnh và biểu đạt riêng, đó là hình tượng nghệ thuật. Hình
tượng nghệ thuật làm cho văn học gần gũi với các loại hình nghệ thuật khác.
Tuy nhiên do mỗi loại hình sử dụng một chất liệu khác nhau nên hình tượng
của chúng có những điểm riêng biệt.
Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay!
Ve ngâm, vượn hú, nào tày,
Lọt tai, Hồ cũng nhăn mày, rơi châu”
(Truyện Kiều)
Hiển nhiên là chúng ta có thể nghe thấy ngữ âm của những câu thơ ấy.
Nhưng bóng dáng của Kiều, và điệu đàn “muôn oán, nghìn sầu” thì không
nghe thấy gì cả. Song những ngôn từ đó sẽ tác động vào trí não của chúng ta,
làm cho chúng ta “nghe thấy” được một cách gián tiếp qua trí tưởng tượng.
Các hình tượng văn học tuy thiếu tính trực quan nhưng lại được bù bằng
những khả năng độc đáo khác. Nhà văn có thể tái tạo các phương diện hiện
thực để người đọc có thể cảm nhận bằng mọi giác quan.
Bằng chất liệu ngôn từ, nhà văn không những tái tạo được những cái hữu
hình mà còn tái tạo được cả những cái vô hình, những cái mỏng manh, mơ hồ
nhất mà các loại hình nghệ thuật khác phải bất lực. Nhà thơ Đoàn Phú Tứ đã
từng tái hiện sinh động màu sắc và hương vị của thời gian qua tâm trạng hoài
niệm:
“Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh”.
(Màu thời gian)
9
Dưới tác động “ma thuật” của nghệ thuật ngôn từ, đắm mình vào thế giới
của các biểu tượng biến hoá khôn lường mà văn bản ghi lại, người đọc đã trở
thành người đồng sáng tạo với nhà văn trong quá trình tham gia xây dựng nên
các hình tượng nghệ thuật.
Như vậy tính “phi vật thể” của hình tượng nghệ thuật là một đặc tính nổi
Các loại hình nghệ thuật chiếm lĩnh hiện thực trong các chiều không
gian, thời gian của nó một cách khác nhau. Chẳng hạn hội hoạ và điêu khắc
miêu tả các sự vật một cách tĩnh tại, chớp lấy một khoảnh khắc nhất định của
đối tượng và biểu hiện nó trong tương quan về không gian. Nhưng văn học thì
trái lại (về mặt này thì nó giống với sân khấu và điện ảnh), chủ yếu tái hiện
các quá trình đời sống diễn ra trong thời gian, hoạt động sống của con người
gắn liền với những cảm thụ, suy nghĩ, ý định, hành vi sự kiện… Việc văn học
thiên về miêu tả các quá trình đời sống được Lecssing cắt nghĩa một cách
thuyết phục là do quảng tính thời gian của lời nói con người.
“Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học mang tính cực đại về không gian,
cực lâu và cực nhanh về thời gian” [2; 191 ]. Văn học có khả năng to lớn
trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận động, tái tạo dòng thời gian với
những nhịp độ khác nhau. Sự vận động của thời gian trong tác phẩm văn học
phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống. Trong Chiến tranh và hoà bình,
L.Tolstoy có thể tái hiện lại hoàn cảnh chiến trường Brodino mà những bức
tranh hoành tráng cũng không thể làm nổi, còn Tam Quốc có thể kể lại câu
chuyện hàng trăm năm, rồi 15 năm lưu lạc của nàng Kiều thì dù có tranh liên
hoàn cũng không thể nào vẽ được tỉ mỉ như vậy…
Vì miêu tả thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con người mà tác
phẩm văn học có thể “co” lại trong một vài dòng trần thuật ngắn hoặc “kéo
căng” trong hàng chục trang. Mặt khác, văn học còn có khả năng miêu tả thời
11
gian ba chiều (quá khứ - hiện tại - tương lai). Chính vì vậy mà văn học có thể
chiếm lĩnh và tái hiện đời sống một cách đa dạng, sâu rộng mà các loại hình
nghệ thuật khác như hội hoạ, điêu khắc không thể nào đạt được.
Ngay cả trong việc mô tả không gian nghệ thuật, văn học cũng lại có
những ưu thế riêng so với điêu khắc, hội hoạ. Vận dụng những từ ngữ để chỉ
của nó về tính trực quan, đồng thời cũng tự làm mới mình bằng cách tiếp thu
phương thức tạo hình biểu hiện của các loại hình nghệ thuật khác.
1.2. Điện ảnh
1.2.1. Thuật ngữ điện ảnh
Tính đến nay, năm 2015, nghệ thuật điện ảnh đã có 119 năm tuổi. Sự ra
đời của điện ảnh đã làm cho nghệ thuật biến động và khởi sắc, nó tác động to
lớn đến đời sống tinh thần của nhân loại. Người ta không khỏi bất ngờ trước
diện mạo mới mẻ và trẻ trung của nó. Nhưng điện ảnh là gì thì vẫn chưa có
một khái niệm như văn học.
Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt, điện ảnh đã được định nghĩa là “1Kỹ thuật thu vào phim những hình cử động liên tục và chiếu lại trên màn ảnh.
2- Ngành nghệ thuật dùng kỹ thuật để thu phát kịch bản được dàn dựng, đạo
diễn công phu” [7; 634]. Còn cuốn sách Từ điển tiếng Việt tường giải và liên
tưởng thì đưa ra cách hiểu về điện ảnh là “nghệ thuật phản ánh hiện thực bằng
những hình ảnh hoạt động liên tục, thu vào phim (nhựa, video) để chiếu các
cử động lên màn ảnh” [8; 905]. Những nhà nghệ sĩ thì tuỳ theo cảm quan của
mình mà đưa ra những ý kiến khác nhau: “điện ảnh là âm nhạc của ánh sáng”,
“là nghệ thuật của sự biến đổi”, “là hình ảnh chuyển động”, “là con đẻ của
khoa học kỹ thuật”… Tuy nhiên những nhận xét đó chưa phải là toàn bộ nội
hàm của thuật ngữ điện ảnh. Để hiểu được khái niệm điện ảnh một cách tương
đối đầy đủ cần phải có một cái nhìn toàn diện về những thuộc tính của nó.
“Có nhiều quan niệm khác nhau về đặc trưng điện ảnh. Song hiện nay quan
niệm phổ biến nhất cho rằng điện ảnh có 8 thuộc tính cơ bản: điện ảnh là một
13
nghệ thuật tổng hợp, có tính chất quần chúng, tính dân tộc và tính quốc tế,
tính giải trí, tính kinh tế thương mại và mang giá trị tư tưởng nhân sinh sâu
sắc. Điện ảnh là con đẻ của khoa học kỹ thuật - công nghệ và nằm trong cấu
trúc văn hoá, truyền thông đại chúng” [13; 16].
từng xem phim Xô Viết Bản tình cả của những người yêu nhau hẳn không thể
nào quên được lời bài hát đớn đau nhưng tràn đầy hy vọng của cô gái tưởng
như bị mất người yêu khi chàng trai phải đi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Hay
ca khúc Hoa sữa ngọt ngào trong bộ phim Hà Nội - Mùa chim làm tổ, ca khúc
da diết buồn Chị tôi trong phim truyền hình nhiều tập Người Hà Nội…
Những gì mà điện ảnh tiếp nhận ở những loại hình nghệ thuật khác,
những thông điệp bằng lời, bằng âm nhạc, bằng hình ảnh … đã tạo nên tính
tổng hợp của nghệ thuật điện ảnh. Bởi vậy, nói về điện ảnh, có nhà nghiên
cứu đã phải khẳng định rằng: “Điện ảnh là một nghệ thuật tổng hợp, mang
đến cho hàng triệu người xem ngôn từ của nhà văn, tranh của hoạ sĩ, diễn xuất
của diễn viên, giai điệu của nhạc sĩ… Đây là nghệ thuật liên kết hội hoạ và
kiến trúc, âm nhạc và văn học. Phim có âm thanh và màu sắc, khổ rộng và lập
thể - Đây quả thực là một nghệ thuật tổng hợp” [8; 17]. Với tính tổng hợp về
ngôn ngữ biểu hiện như vậy, điện ảnh có thể phản ánh đời sống một cách
phong phú, hiện thực hơn tất cả các nghệ thuật khác, đồng thời cũng “phi hiện
thực”, “siêu hiện thực” hơn tất cả. Điện ảnh là nghệ thuật chân tình nhất, chủ
quan nhất, cảm động nhất, thấm sâu nhất, tác động mạnh mẽ nhất vào giác
quan của người xem. Điện ảnh đã mở đường cho việc nhận thức bằng nghệ
thuật những chân trời rộng lớn.
Tuy nhiên sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng điện ảnh chỉ là sự “hoà lẫn” các
loại hình nghệ thuật khác nhau. Điện ảnh hoàn toàn là một loại hình độc lập,
tính chất độc lập của nó không kém gì so với các loại hình nghệ thuật khác.
Nó chỉ sử dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm phong phú của quá trình phát
15
triển nghệ thuật trước kia chứ không phải là sự “liên kết” các loại hình nghệ
thuật khác nhau thành một con số cộng.
Và với tư cách là một nghệ thuật thì có lẽ không có một nghệ thuật nào
công nghiệp điện ảnh.
Một tác phẩm điện ảnh có giá trị thực sự thì phải có tư tưởng nhân sinh
sâu sắc. Đó chính là thông điệp mà điện ảnh đem đến cho người xem thông
qua việc phản ánh những “vấn đề lớn”, có “sức lay động xã hội”. Một con
chim vành khuyên được cô bé Nga lúc sắp chết gắng gượng mở túi áo để có
thể bay lên trên bầu trời tự do (Chim vành khuyên), hay một nàng Thu Cúc
bụng mang dạ chửa (Thu Cúc đi kiện) đến bán từng cơn ớt khô cuối cùng để
đi thưa kiện, mong nhận được một lời xin lỗi tử tế… là những thông điệp lớn,
có chiều sâu tư tưởng nhân sinh, có sức nặng trong lòng độc giả và đem đến
thành công không nhỏ cho bộ phim.
Để tóm lược lại những gì về khái niệm thuật điện ảnh đã được trình bày
ở trên, chúng tôi đưa ra một sơ đồ khái quát như sau:
Tính tổng
hợp
Tính dân tộc
và quốc tế
Tính quần
chúng
Giá trị tư
tưởng nhân
sinh
Điện ảnh là
một loại hình
công nghiệp
ảnh là: “một nghệ thuật của những hình ảnh chuyển động”. Giăng ÉpStanh
viết rằng: “sự chuyển động đã thực sự tạo nên đặc điểm đầu tiên của hình ảnh
trên màn ảnh”. Trong một ý nghĩa nhất định, một cuốn phim là một loạt ảnh
chụp nối tiếp nhau, dĩ nhiên là những ảnh “hoạt động” được ghi lại trên một
cuộn phim liên tục… Nếu đem tách những hình ảnh đó ra khỏi bộ phim thì ở
một mức độ nào đó đều trở thành vô nghĩa. Việc truyền đạt sự chuyển động,
đó chính là ý nghĩa tồn tại của điện ảnh, là đặc tính chủ yếu, biểu hiện cơ bản
về bản chất của nó.
Hình ảnh điện ảnh có các đặc tính: tính hiện thực, tính đơn nhất của biểu
hiện, tính “dung lượng”, sự phát triển hành động ở “thì hiện tại”, phải là một
“hiện thực nghệ thuật”-được truyền đạt một cách có “chọn lựa, gọt dũa, và
phải có“vai trò ý nghĩa”. Sáu thuộc tính trên của hình ảnh điện ảnh đã thật sự
chứng minh cho tính chất độc đáo và đặc trưng của tri giác, cảm giác và trí
18
tuệ, đồng thời cho phép chúng ta hiểu được những nguyên nhân sâu xa của
“sức mạnh tinh thần to lớn và dễ truyền” trong nghệ thuật điện ảnh, như
Giăng Épstanh đã nói.
Đặc trưng của điện ảnh đòi hỏi phải làm thế nào cho các hình ảnh, bối
cảnh trên màn ảnh phải thật sự hiện thực và tạo ra tính chân thực cho hành
động. Bởi vậy, mọi hình ảnh xuất hiện trên màn ảnh đều thông qua dàn cảnh.
Dàn cảnh là một trong những kỹ thuật làm điện ảnh quen thuộc nhất. Đó là
một phần việc của làm phim giống như nghệ thuật sân khấu: xếp đặt, ánh
sáng, phục trang và hành vi nhân vật. Trong sự kiểm soát của dàn cảnh, người
đạo diễn đưa ra tiêu điểm cho máy quay. Bất kỳ loại phim nào mà chúng ta
xem đều sử dụng dàn cảnh. Dàn cảnh cho phép những vật thể có khả năng
diễn đạt cảm xúc và suy nghĩ, đồng thời cũng tích cực hoá chúng để tạo ra các
khuôn mẫu khác nhau. Cảnh có thể được dàn dựng, bài trí hoặc sử dụng chính
những động tác và tư thế của các nhân vật, phù hợp với những gì mà họ thể
hiện. Phục trang trong điện ảnh cần phải hết sức chân thực và thật sự điển
hình. Nó làm nổi bật lên tính cách và sự nhận thức, trạng thái xã hội của nhân
vật. Phục trang cũng có thể tạo ra những ấn tượng tâm lý đối với người xem
và nó có thể đóng vai trò thúc đẩy, tạo dựng nhân quả trong cách kể chuyện.
Ánh sáng, trang phục, màu sắc… có một vị trí quan trọng như vậy nhưng
diễn xuất của diễn viên còn có vai trò to lớn hơn: “Dù không sử dụng cảnh
dựng sẵn, nhờ diễn xuất của các diễn viên, điện ảnh vẫn cứ là một nghệ
thuật”, “điện ảnh vẫn không thể thực sự phát triển thành một nghệ thuật
phong phú và vĩ đại được nếu không có sự tham gia của diễn viên” [10; 175].
Sự cần thiết đó là do những người xây dựng phim không thể nào quay được
một khối lượng lớn lao các cảnh phim trong cuộc sống thực để dựng thành tác
phẩm. Và nếu thiếu sự tham gia của các diễn viên thì không thể quay được
những bộ phim nhằm mục đích phát hiện một cách toàn diện thế giới nội tâm
của từng người và những số phận riêng, phức tạp của họ.
20