Thế giới nhân vật trong tác phẩm tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của nguyễn nhật ánh - Pdf 49

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.

Sinh viên

Trần Thị Trung Anh


Xin trân trọng gửi lời tri ân đến cô giáo ThS. Trần Thị Mỹ Hồng, người đã tận
tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô đã giảng dạy và đóng góp
những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học
Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất!

Sinh viên
Trần Thị Trung Anh


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..............................................................................................................i
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..............................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................5
3.1. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................5
3.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................5
5. Đóng góp của đề tài .....................................................................................................5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất cứ một nền văn học nào trên thế giới cũng chứa đựng trong lòng nó một bộ
phận không thể thiếu là văn học thiếu nhi. Assen Bossev – nhà văn Bungari đã từng
nói : “những cuốn sách hay đều là người bạn đời vĩnh viễn của tuổi nhỏ; chính chúng
cho trẻ con đôi cánh để bay lên mà chinh phục cuộc sống”. Văn học thiếu nhi chính là
"món quà của một bạn nhỏ ngày xưa tặng các bạn bây giờ” (Xuân Quỳnh). Đây là
những sáng tác mà tác giả, dù là trẻ em hay nhà văn lớn tuổi, đều phải biết nhìn con
người, nhìn cuộc đời bụi bặm của chúng ta bằng con mắt trong veo và ngơ ngác của
con trẻ, phải biết hiến dâng trọn vẹn cái phần tinh tuý nhất của đời mình, của tâm hồn
mình cho trẻ. Đó là những tác phẩm văn học hàm chứa tất cả những xúc cảm và
tình cảm tinh tế, hồn nhiên của trẻ thơ, được các em thích thú, say mê và có giá trị giáo
dục, hình thành tâm hồn và nhân cách trẻ thơ. Nó có vai trò quan trọng đối với sự hình
thành và phát triển toàn diện nhân cách con người ngay từ thuở nhỏ, là hành trang cho
mỗi người trên suốt đường đời. Văn học không chỉ góp phần làm giàu có tâm hồn,
nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp, mà còn giúp cho lứa tuổi thiếu nhi phát triển trí
tuệ, mở rộng sự hiểu biết và hướng tới một lối sống giàu lòng nhân ái. Với những lí do
đó mà văn học về đề tài trẻ thơ là mảng đề tài cực kì quan trọng.
Văn học thiếu nhi Việt Nam từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt từ 1986
có sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng cùng với sự phát triển chung của nền văn học dân
tộc. Công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước đã thực sự đem lại một không khí mới
cho văn học nước nhà, trong đó có bộ phận văn học thiếu nhi. Sáng tác cho các em, từ
những năm đầu thời kì đổi mới đến nay, đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nổi lên
trong mảng đề tài viết cho thiếu nhi là các tác giả Duy Khán, Nguyễn Quang Sáng,
Phùng Quán, Vũ Đức Nguyên, Vi Hồng, Vũ Bảo,… giai đoạn tiếp theo có Thu Trân,
Nguyễn Nhật Ánh, Kim Hài, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Trần Thiên Hương, Nguyễn Thị
Mai… Có thể nói, đội ngũ sáng tác văn học thiếu nhi từ đầu thời kì đổi mới đã phát
triển hùng hậu thể hiện rõ tính chuyên nghiệp của bộ phận sáng tác cho các em. Và
cũng vì vậy mà chưa bao giờ, văn học thiếu nhi Việt Nam lại phát triển phong phú như
ở thời kì này.

tác phẩm của ông xuất hiện khá nhiều trên các báo, tạp chí, các trang thông tin điện tử,
trong các cuốn sách nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt Nam cũng như ở cả những
tài liệu không trực tiếp liên quan đến văn học.

2


Trước hết là ở các ấn phẩm mang tính chất chuyên ngành như các sách nghiên
cứu về văn học thiếu nhi, đáng chú ý nhất là công trình Bách khoa thư Văn học thiếu
nhi Việt Nam do hai tác giả Vân Thanh và Nguyên An biên soạn. Hai tác giả đã sưu
tầm và giới thiệu một loạt các bài viết về văn học thiếu nhi Việt Nam, trong đó có
nhiều bài của các tác giả khác nhau như Lã Thị Bắc Lý, Nguyễn Hương Giang, Thu
Việt, Văn Hồng, có đề cập đến Nguyễn Nhật Ánh và tác phẩm của ông. Trong bài viết
của Lã Thị Bắc Lý, mặc dù vẫn trích dẫn Nguyễn Nhật Ánh và các tác phẩm của ông
như một minh họa cho các luận điểm về văn học thiếu nhi trong thời kì đổi mới nhưng
tác giả đã có nhiều đoạn mang tính chất giới thiệu, phân tích khái quát giá trị của tác
phẩm Kính vạn hoa, bộ truyện dài đầu tiên của Nguyễn Nhật Ánh. Thêm vào đó, tác
giả Hương Giang đã dành một bài viết để nói về Nguyễn Nhật Ánh và một loạt các tác
phẩm của nhà văn như: Cô gái đến từ hôm qua, Chú bé rắc rối.
Lê Phương Liên trong bài viết Văn xuôi và trẻ em đã nhận xét: “Nhà văn Nguyễn
Nhật Ánh là một tác giả thành công với bạn đọc trẻ, anh là người có một “khóe
văn” riêng. Anh chiếm được tình cảm của hàng triệu người đọc cũng không ngoài quy
luật tự sự và đối thoại nội tâm của tuổi thơ, không ngoài sự tự phát hiện ra chất hài
hước của chính mình” [17]. Các sáng tác như Tôi là Bêtô, Cho tôi xin một vé đi tuổi
thơ và Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh chính là những tác phẩm được không chỉ trẻ em
mà cả người lớn yêu thích.
Nhà nghiên cứu Vân Thanh đã từng nhiều lần nhắc đến thành công của Nguyễn
Nhật Ánh trong sáng tác dành cho thiếu nhi. Trong bài viết “Nguyễn Nhật Ánh - nhà
văn lôi cuốn trẻ thơ”, tác giả đã đề cập đến đề tài, chủ đề, nhân vật, giọng điệu và giới
thiệu khái quát về tập truyện “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”. Nguyễn Nhật Ánh đã

xanh đã được dựng thành phim cho thiếu nhi, các tác phẩm khác cũng được dựng
thành phim như Cô gái đến từ hôm qua, Kính vạn hoa và một số truyện của Nguyễn
Nhật Ánh đang có dự án chuyển thể thành truyện tranh.
Luận văn Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật Ánh của tác giả Bùi Thu Thủy đã chỉ ra
đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức trong bốn tập truyện gồm Kính vạn hoa,
Chuyện xứ Lang Biang, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ và Tôi là Bêtô. Từ những khái
quát đó, chúng ta có thể đánh giá được đóng góp và vị trí của Nguyễn Nhật Ánh trong
nền văn học thiếu nhi Việt Nam.
Từ những đánh giá, nhận xét cùng với những công trình nghiên cứu công phu
của các tác giả vừa nêu đã cho thấy sự quan tâm của độc giả, giới nghiên cứu đến
“hiện tượng” Nguyễn Nhật Ánh là không hề nhỏ. Mặc dù vậy, đến nay vẫn chưa có
công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về “Thế giới nhân
vật trong Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyến Nhật Ánh”. Bởi vậy, chúng tôi
mạnh dạn đưa ra một hướng tiếp cận mới về phương diện này. Tất cả những ý kiến
đánh giá, nhận xét, những công trình khoa học nêu trên là những tư liệu quý báu giúp
chúng tôi triển khai đề tài.
4


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là thế giới nhân vật trong tác phẩm “Tôi
thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của Nguyễn Nhật Ánh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khảo sát tác phẩm “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, Nhà xuất bản trẻ,
2015 và một số tác phẩm khác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản
sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp phân tích giúp người viết chỉ

trên cỏ xanh”

6


NỘI DUNG
Chương 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ VĂN
NGUYỄN NHẬT ÁNH
1.1. Tác giả Nguyễn Nhật Ánh
1.1.1. Vài nét về cuộc đời và quan điểm sáng tác cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 07/05/1955 tại xã Bình Quế, huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây có vùng cát mênh mông trắng xóa, vùng đất
chịu nhiều thiệt thòi, gian khó bởi thời tiết khắc nghiệt, nhưng bù lại cũng được thiên
nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp hấp dẫn, phong cảnh kì thú, đặc sản tươi ngon:
Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đõa, có sông Thu Bồn
Trăng rằm đã tỏ lại tròn
Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi.

Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa uống đã say.
Có thể nói, mảnh đất Quảng Nam với các đặc trưng văn hóa riêng đã in sâu vào
tâm hồn nhà văn, để rồi đi vào các sáng tác của ông một cách tự nhiên và sâu lắng.
Một tuổi thơ với miền kí ức xa xăm nhưng không thể phai mờ dần trở lại trong các
sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh. Nếu như không có quê hương với xóm làng và tuổi
thơ nhiều trải nghiệm, chắc thật khó để Nguyễn Nhật Ánh có thể viết được những
trang sách hay đến thế về tuổi thơ nơi miền quê nghèo dân dã. Theo những chia sẻ của
ông, ông chỉ sống ở ngôi làng Đo Đo, Bình Quế khoảng 8 năm nhưng nó đã trở thành
một miền kí ức rực rỡ và tươi đẹp nhất: “Tôi xa quê hương, gia đình từ rất sớm – do
đó nỗi nhớ xứ sở trong tôi bao giờ cũng vẹn nguyên và rực rỡ. Như một người đánh

tục cuộc sống tự lập, kiếm sống bằng nhiều nghề ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đó có lẽ
cũng là một trải nghiệm đáng quý đối với nhà văn. Những biến động của lịch sử đất
nước, những năm tháng bươn chải mưu sinh đã giúp nhà văn có thêm sự trưởng thành
và vững vàng. Năm 1976, sau khi tốt nghiệp Đại học, Nguyễn Nhật Ánh tình nguyện
tham gia phong trào thanh niên xung phong do không thể xin việc vì lí do gia đình.
Đây là một biến cố có thể để lại những bất mãn, những tổn thương nhưng với ông nó
lại trở thành một cơ hội để bản lĩnh của ông được tôi rèn. Nhà văn chia sẻ: “Môi
trường thanh niên xung phong đã rèn luyện cho tôi thành một con người biết vượt khó,
có nghị lực, luôn yêu đời. Nó giúp cho con người sáng tác của tôi có một niềm tin và
cái nhìn trong trẻo với cuộc sống. Nếu không có thời gian đi Thanh niên xung phong
8


thì không hẳn tôi đã có những trang viết tươi tắn như bây giờ” [25, tr. 18]. Có lẽ với
Nguyễn Nhật Ánh, những thử thách chính là cơ hội để nhà văn vươn lên. Ông luôn tìm
thấy niềm tin và hướng đi đúng đắn cho bản thân, luôn hướng tới những điều tốt đẹp,
luôn tự đấu tranh để thanh lọc tâm hồn mình.
Những năm 80, Nguyễn Nhật Ánh về làm công việc dạy học. Quãng thời gian
đứng trên bục giảng của ông không nhiều nhưng là khoảng thời gian nhà văn được
tiếp xúc với các em thiếu nhi, được gắn bó với tuổi học trò. Nếu chỉ có kỉ niệm tuổi
thơ của bản thân thôi có lẽ chưa đủ để ông hiểu biết sâu sắc, am hiểu tường tận tâm lý
lứa tuổi, để rồi viết lên những trang văn về học trò một cách trong trẻo và chân thực
đến thế. Chính những năm tháng dạy học rồi chuyển qua làm công tác Đoàn, ông đã
quan sát, lắng nghe và thấu hiểu hơn lứa tuổi tươi đẹp nhất mà cũng ẩm ương nhất
đấy. Những trang viết của nhà văn trong thời gian này vừa có tính giáo dục cao lại vừa
nhẹ nhàng, hồn nhiên, mang tính hướng thiện.
Từ năm 1986 đến nay, Nguyễn Nhật Ánh làm phóng viên nhật báo Sài Gòn Giải
Phóng ngoài ra ông còn là một bình luận viên thể thao xuất sắc. Trong cương vị một
nhà báo, ông nhanh chóng khẳng định được khả năng của mình. Bên cạnh đó ông vẫn
tiếp tục viết văn thậm chí viết nhiều và số lượng ấn bản đạt tới kỉ lục. Công việc của

đứa trẻ con. Khi tôi lớn lên, khi tôi già đi, đứa trẻ con trong tôi không chịu lớn và làm
sao để nuôi dưỡng đứa trẻ con đó trong con người là một điều không dễ lý giải và tôi
nghĩ đó là quà tặng của số phận. Đứa trẻ con đó đã nuôi tôi và biết đâu một ngày nào
đó đứa trẻ con đó… già đi thì không biết tôi làm sao sống được”… Đó là chia sẻ của
nhà văn khi trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ ra ngày 24/11/2013 với nhan đề
“Nguyễn Nhật Ánh: Trong tôi luôn có một đứa trẻ”. Lời chia sẻ cho thấy sự chân
thành và tâm huyết. Nguyễn Nhật Ánh thừa nhận mình may mắn có được cơ duyên
với lứa tuổi học trò, với văn học thiếu nhi. Và với Nguyễn Nhật Ánh, ông luôn biết ơn
vì điều đó. Đó chính là thái độ trân trọng với nghề, là tấm lòng của một nghệ sĩ thực
thụ dành cho nghề của mình. Ông không che giấu tình yêu dành cho nghề viết văn,
niềm hạnh phúc được viết của mình: “Nếu bây giờ tôi kiếm được rất nhiều tiền mà
không bằng nghề mình yêu thích, có lẽ tôi không cảm thấy hạnh phúc thực sự” [25, tr.
14]. Cũng bởi với Nguyễn Nhật Ánh, nghề là đam mê chứ không chỉ là phương tiện
mưu sinh, thế nên sống bằng nghề là một hạnh phúc, được sống bằng nghề đó là một
niềm vui mà không dễ gì đánh đổi được. Sự đam mê và tình yêu dành cho nghề đã
biến nhà văn thành người “không có Chủ nhật”, “người mê công việc” như bạn bè ông
thường gọi. Nguyễn Nhật Ánh suy nghĩ về nghề rất nghiêm túc. Ông luôn khẳng định
yêu nghề là tiêu chí đầu tiên của một người làm nghề, nhưng đặc biệt hơn với văn
chương người ta không nên mưu cầu danh lợi mà trước hết phải viết như một sự thôi
thúc từ bên trong nội tâm mình. Có thế tác phẩm mới có giá trị: “tiền bạc đối với một
nhà văn nếu có chỉ là cái đến sau. Nếu để kiếm tiền, không ai chọn nghề viết văn. Khi
10


ngồi vào bàn viết, nhà văn chỉ tìm kiếm một thứ duy nhất: những ý tưởng. Tôi rất
thích một câu không biết của ai: lợi và danh đi trước sáng tác là một tai họa, đi song
hành với sáng tác là một cản trở còn đến sau sáng tác là hợp quy luật” [25, tr. 17].
Nghĩa là nhà văn hãy cứ cống hiến đi, cứ như con tằm rút ruột nhả tơ đi, anh sẽ được
trả công xứng đáng. Còn nếu cầm bút đã vì những toan tính thì thường lại ít khi đạt
được thành công. Chính quan điểm nghiêm túc và đúng đắn này đã giúp ông ghi được

Bí quyết thành công của Nguyễn Nhật Ánh có lẽ chính là dồn toàn bộ tâm trí cho
mỗi trang sách. Mỗi khi viết, nhà văn như bỏ lại phía sau lưng mình những bụi bặm
của cuộc sống để có thể giữ được sự trong trẻo thong dong: “Tôi có thể viết trong
không khí ồn ào, náo nhiệt lẫn yên tĩnh. Thậm chí tôi có thể gác việc viết lách sang
một bên để trả nợ một bài báo hoặc giải quyết một công việc gấp rút nào đó. Tuy vậy
khi ngồi vào bàn sáng tác tôi hoàn toàn sống trong thế giới của riêng mình” [25, tr. 9].
Như vậy, có thể thấy Nguyễn Nhật Ánh có một quan niệm sáng tác đúng đắn. Và
suốt hành trình sáng tác của mình, ông đã nỗ lực giữ vững quan điểm sáng tác ấy. Có
lẽ chính sự nghiêm túc, bền bỉ đó đã đưa nhà văn đến được thành công của ngày hôm
nay.
1.1.2. Hành trình sáng tác văn chương của Nguyễn Nhật Ánh
Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu sáng tác từ khá sớm, khoảng những năm nhà văn 13
tuổi ông đã có những tác phẩm đầu tay. Được biết đến với các bút danh như Anh Bồ
Câu với chuyên mục gỡ rối tơ lòng cho tuổi mới lớn, Chu Đình Ngạn khi bình luận thể
thao, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông,… nhưng có lẽ cái tên Nguyễn Nhật Ánh
là cái tên để lại dấu ấn trong lòng độc giả hơn cả. Tính tới thời điểm này, trong mảng
văn học thiếu nhi hiện đại khó có tác giả nào có thể vượt qua được Nguyễn Nhật Ánh
về số lượng đầu sách, số lượng bản in các tác phẩm văn học thiếu nhi cũng như các
giải thưởng.
Trước khi viết văn, Nguyễn Nhật Ánh được biết đến như một nhà thơ, trong đó
có bài thơ nổi tiếng của ông đã được phổ nhạc là bài Thành phố tình yêu và nỗi nhớ.
Tính đến nay ông đã có 5 tập thơ được xuất bản là: Thành phố tháng 4 (in cùng Lê Thị
Kim), Đầu xuân ra sông giặt áo, Thơ tình Nguyễn Nhật Ánh, Tứ tuyệt cho nàng và Lễ
hội của đêm đen. Ngoài thơ, ông đã từng thử sức viết ở các thể loại khác nhau. Ông
từng viết theo đơn đặt hàng của Nxb Kim Đồng về đề tài thanh niên xung phong.
Nhưng cuối cùng tác phẩm của ông không được in vì không thực sự có chất lượng.
Chỉ khi đến với mảng văn học thiếu nhi với tác phẩm đầu tiên được xuất bản là
Trước vòng chung kết (xuất bản năm 1985), Nguyễn Nhật Ánh mới khẳng định được
sở trường của mình. Từ đây ông được biết đến như một nhà văn thiếu nhi với gia tài
sáng tác đáng nể:

- Đảo mộng mơ (truyện dài, 2009)
- Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (truyện dài, 2010)
- Lá nằm trong lá (truyện dài, 2011)
- Có hai con mèo nằm trên cửa sổ (truyện dài, 2012)
- Sương khói quê nhà (tạp văn, 2012)
- Ngồi khóc trên cây (truyện dài, 2013)
- Chúc một ngày tốt lành (truyện dài, 2014)
13


- Bảy bước tới mùa hè (truyện dài, 2015)
- Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng (truyện dài, 2016)
- Ngày xưa có một chuyện tình (truyện dài, 2016)
Ngoài ra còn có 2 tập truyện dài kỳ là tập Kính vạn hoa (54 tập, trong đó có 45
tập được in trong khoảng từ năm 1995 – 2002) và tập Chuyện xứ Lang Biang (4 tập in
trong khoảng 2004 – 2006), cuốn tạp văn Người Quảng đi ăn mì Quảng (2012),
Thương nhớ Trà Long (2014), bộ truyện tranh cho thiếu nhi Bim và những chuyện kì
thú (1998). Có thể nói với 5 tập thơ, trên 30 tập truyện và truyện dài, 2 cuốn tạp văn
và 3 bộ truyện lớn, ông đã có một gia tài tác phẩm lớn thể hiện sức sáng tạo, khả năng
lao động và sự chăm chỉ, cần mẫn trên mỗi trang sách của mình.
Nguyễn Nhật Ánh còn sở hữu những giải thưởng như: Văn học trẻ hạng A năm
1990 với tác phẩm Chú bé rắc rối do Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh trao tặng, giải nhà văn yêu thích trong 20 năm từ 1975 – 1995 qua cuộc bình
chọn của bạn đọc do Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ phối hợp tổ
chức; Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh chọn là một trong 20 nhà văn tiêu biểu
giai đoạn 1975 – 1995; năm 1998 Nguyễn Nhật Ánh được trao giải thưởng tác giả có
sách bán chạy nhất do NXB Kim Đồng trao tặng, giải thưởng Vì thế hệ trẻ cho bộ
truyện Kính vạn hoa vào năm 2003 do Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh trao tặng; Kính vạn hoa còn được bầu chọn là 10 cuốn sách được yêu thích nhất
do Ban văn học Thiếu nhi Hội nhà văn Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, nxb Kim

hiện những cảm xúc mong manh và trong trẻo, những nỗi buồn, niềm tiếc nuối man
mác,… Nhóm thứ 2 là các sáng tác dành cho lứa tuổi từ cấp 2 trở xuống. Ở nhóm này,
ông chủ yếu miêu tả các mối quan hệ bạn bè, thầy cô, các câu chuyện trường lớp, quá
trình khám phá thế giới qua đôi mắt trong trẻo hồn nhiên của tuổi thơ. Trên những
trang sách của ông, dường như ai cũng gặp lại tuổi thơ của chính mình với những trò
nghịch ngợm, những toan tính, suy nghĩ còn non nớt,… Những cuốn sách của Nguyễn
Nhật Ánh giống như một cuốn Bách khoa toàn thư về thế giới trẻ em. Ngoài ra, ông
còn có một bộ truyện viết cho tuổi nhi đồng là bộ truyện Bim và những chuyện kì thú
với nhiều chi tiết ngộ nghĩnh gợi ra những bài học giáo dục ý nghĩa mà nhẹ nhàng.
Nguyễn Nhật Ánh khi in các tác phẩm của mình thường gọi tên nó là truyện dài,
truyện chứ không xếp nó là tiểu thuyết hay truyện ngắn. Thuật ngữ truyện dài chưa có
nhiều định nghĩa như truyện ngắn hay tiểu thuyết. Có thể hiểu truyện dài là những tự
sự có quy mô lớn hơn truyện ngắn nhưng chưa đồ sộ như tiểu thuyết. Chúng ta nhận
thấy các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh khó có thể nói đó là những truyện ngắn vì
không chỉ ở dung lượng câu chữ mà còn ở cách phản ánh hiện thực. Truyện ngắn
thường phản ánh hiện thực trong một lát cắt chứ ko phải một quá trình. Nhưng ở
truyện của Nguyễn Nhật Ánh ta thấy rõ được cả một tiến trình câu chuyện. Do đó nó
15


chắc chắn không phải là những truyện ngắn. Với quy mô các tác phẩm của Nguyễn
Nhật Ánh có nhiều truyện có dung lượng tương đương với các tiểu thuyết đương đại.
Song tác giả lại không định danh tác phẩm của mình là tiểu thuyết có lẽ vì kết cấu tác
phẩm của Nguyễn Nhật Ánh thường đơn giản hơn. Câu chuyện có thể kéo dài theo
một diễn tiến nhưng thường được chia nhỏ thành các câu chuyện bé hơn. Bản thân
cách viết này phù hợp với văn học thiếu nhi.
Như vậy, có thể thấy hành trình sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh bắt đầu từ khá
sớm, đã từng đi qua nhiều thể loại với những thử nghiệm khác nhau. Song cuối cùng
tài năng của ông được khẳng định ở mảng truyện viết cho thiếu nhi mà chủ yếu là
truyện dài (có quy mô nhỏ hơn hoặc gần bằng tiểu thuyết). Các sáng tác của ông đã

chuyện cho hai anh em Thiều, Tường nghe. Nỗi muộn phiền duy nhất của chú là ở
chuyện tình trắc trở do cánh tay cụt gây ra. Chú đang yêu chị Vinh – một cô gái cùng
xóm, lại là con gái thầy chủ nhiệm lớp Thiều, người thầy mà lúc nào Thiều cũng sợ
chết khiếp. Nhiều chuyện liên tiếp xảy ra. Khi căn gác nhà Mận bị bốc cháy, Mận suy
sụp hoàn toàn bởi chịu cú sốc lớn từ gia đình. Thiều đã giúp đỡ Mận trong lúc khó
khăn nhất và đưa cô bé về ở chung với mình. Về sau, chú Đàn và chị Vinh cùng dắt
nhau bỏ trốn vì không nhận được sự chấp thuận của hai gia đình cùng với những tai
họa khác nhau mà Thiều đã gây ra cho Tường. Mận sau đó được mẹ đón đi tìm cha và
Thiều lại tận tình chăm sóc cho Tường sau những rủi ro mà chính Thiều gây ra cho
em. Một hôm, Thiều mừng rỡ khi hay tin em mình tỉnh dậy, và được nghe em kể
chuyện về nàng công chúa. Nàng công chúa ấy là Nhi – con một người mổ lợn trong
làng. Người làng lầm tưởng Nhi đã chết sau vụ tai nạn ba năm trước nhưng đã có vấn
đề về thần kinh. Sự nôn nóng muốn gặp Nhi càng làm cho Tường quyết tâm tập đi lại.
Một ngày nọ hai anh em nhìn thấy Nhi đang bị đám trẻ trong làng bắt nạt, Tường đã
dùng hết sức bằng chính đôi chân mình để bảo vệ Nhi. Kì diệu thay, nghĩa cử này lại
giúp cô bé nhớ ra mọi chuyện và trở lại bình thường. Ngoài ra câu chuyện còn xuất
hiện các nhân vật khác như ba mẹ của Thiều, thầy chủ nhiệm, thằng Sơn, bạn Xin,...
Họ đều giúp ta mở ra chân trời mới và biết yêu thương nhau, biết trân trọng tuổi thơ
của mình nhiều hơn.
Có thể nói, 81 chương trong “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” là 81 toa tàu nhỏ
chất chứa những câu chuyện nhỏ nhặt, chậm rãi và tinh khôi của những đứa trẻ giữa
khung cảnh thôn quê thân thuộc, thanh bình. Ở toa tàu này ta gặp những câu chuyện
hài hước, vui nhộn của cậu nhóc Tưởng đi làm chim xanh cho chú Đàn, hay chuyện lá
thư tình đầu đời của Thiều. Ở những toa khác ta lại gặp những câu chuyện ngậm ngùi
thương xót vì cha của bé Mận bị bạo bệnh đã bỏ nhà ra đi vì không muốn liên lụy tới
vợ con. Hay chuyện ông Tám Tàng giả điên làm vua vì đứa con gái tâm thần luôn nghĩ
mình là công chúa. Ai đã đọc rồi dù muốn quên đi cũng rất khó, đó là sự đan xen giữa
cảm xúc của các nhân vật, để rồi kết thúc là nụ cười nhẹ nhàng và mắt ướt.
17


với những trò chơi dân gian quen thuộc, để rồi qua những nhân vật trong tác phẩm, ta
cảm nhận được tình cảm, sự yêu thương giữa anh em, bạn bè, làng xóm hay là tình yêu
nỗi nhớ, là cái ác, cái phản diện trong đời sống thường ngày…Và rồi từ đó ta chợt
nhận ra tuổi thơ của mình qua những trang giấy thơm tho ngập tràn cảm xúc.
18


Chương 2
CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
“TÔI THẤY HOA VÀNG TRÊN CỎ XANH”
2.1. Khái niệm nhân vật và thế giới nhân vật
2.1.1. Khái niệm nhân vật
Trong tác phẩm văn học, xây dựng nhân vật là vấn đề rất quan trọng mà nhà văn
quan tâm. Bởi bản chất của văn học là một quan hệ với đời sống, văn học tái hiện đời
sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của đời sống.
Nhân vật trong tác phẩm không chỉ thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm mà còn thể
hiện quan điểm nghệ thuật về con người của một nhà văn ở những thời điểm lịch sử
nhất định. Nhà văn Tô Hoài, trong Sổ tay viết văn (1977), khi nói về nhân vật, ông cho
rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy trong một sáng tác, giải quyết hết
thảy trong một sáng tác”. Quả đúng như vậy, nhân vật không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng,
chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị của tác phẩm. Thành bại của một đời
văn, của một tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng nhân vật. Khi nhắc đến
tên của tác giả hoặc tác phẩm của nhà văn, người đọc thường nhớ đến tên nhân vật của
họ. Chẳng hạn khi nhắc đến Nam Cao, người đọc nghĩ ngay đến các nhân vật văn học:
Chí Phèo, Lão Hạc, Thứ. Nhắc đến Vũ Trọng Phụng người ta nghĩ ngay đến Xuân Tóc
Đỏ, Nghị Hách.
Trong giáo trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên đã nêu lên định nghĩa
khá kĩ về khái niệm nhân vật văn học: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người
được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân vật
có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh,… đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ,

định nghĩa nhân vật văn học vẫn căn bản gặp nhau ở những nội hàm không thể thiếu của
khái niệm này: Thứ nhất, nó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng
phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự
vật, hiện tượng mang tính ước lệ và có tính cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó
đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ.
2.1.2. Thế giới nhân vật
Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một chỉnh thể
nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể. Mỗi thế giới nhân vật
được quy định bởi cách tổ chức, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật, sự sáng tạo của nhà văn
làm sao cho các nhân vật trong tác phẩm liên kết, tác động lẫn nhau, soi sáng nhau để
cùng phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng tác giả và điều nhà văn muốn nói cùng bạn
đọc.
20


Xét về phía độc giả, thế giới nhân vật là sự cảm nhận của người đọc về hình tượng
các nhân vật trong tác phẩm từ hình dáng đến nội tâm, việc làm, các loại quan hệ chằng
chịt của chúng. Từ đó, rút ra được những hiểu biết, ý nghĩa của tác phẩm về nhiều
phương diện theo tiêu chuẩn cái đẹp nghệ thuật trong sự vận động không ngừng của đời
sống ý thức nhân loại nói chung. Thế giới nhân vật trong thơ với chủ thể trữ tình đóng
vai trò chủ đạo và quanh nó là các kiểu nhân vật trữ tình. Thơ trữ tình chú trọng đến vẻ
đẹp của tâm trạng con người và cuộc sống khách quan. Cùng một đối tượng phản ánh,
nhà tiểu thuyết quan tâm đến chất liệu của hiện thực khách quan, đến tính sự kiện còn
nhà thơ thì quan tâm chủ yếu đến vẻ đẹp bên trong, cái đẹp truyền cảm của đối tượng.
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết đông đúc hơn và nhân vật tồn tại trên
nền bối cảnh hiện thực xã hội.
Tác phẩm văn học nào cũng là một hệ thống chỉnh thể của những hệ thống nhỏ
hơn. Các nhân vật trong một tác phẩm cũng thực sự tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh,
chúng liên quan với nhau, móc nối với nhau không chỉ bằng tiến trình các sự kiện miêu
tả, mà suy cho cùng còn bằng logic từ nội dung nghệ thuật của nhà văn. Hệ thống nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status