SKKN ứng dụng CNTT vào quản lý và giảng dạy ở trường TH trên địa bàn huyện can lộc - Pdf 45

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Năm học 2008-2009 là năm học đầu tiên triển khai ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) vào trường học tại nhiều địa phương trong cả nước (trong đó có
các trường tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc). Việc ứng dụng Công nghệ thông
tin vào công tác quản lý và giảng dạy ban đầu đối với các trường học gặp rất nhiều
khó khăn và thử thách bởi nhiều lý do trong đó có lý do (lí do khách quan: cơ sở
vật chất; lý do chủ quan: trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên chưa đáp ứng kịp
thời với sự phát triển của công nghệ thông tin). Nhiều cơ sở trường học chưa đủ
nguồn kinh phí để trang sắm các thiết bị máy móc phục vụ cho công tác quản lý và
dạy học. Tuy vậy, đến năm học 2012-2013 với xu thế phát triển chung của xã hội
ngành Giáo dục - Đào tạo Can Lộc đã nhiều Công văn chỉ đạo các cấp học trên địa
bàn nói chung và cấp tiểu học nói riêng phải tăng cường tự học, tự bồi dưỡng nâng
cao trình độ hiểu biết về công nghệ thông tin để ứng dụng vào hoạt động quản lý
và giảng dạy. Mặc dù vậy, một bộ phận cán bộ giáo viên vẫn đang gặp nhiều hạn
chế trong khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho công việc của
đơn vị. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp ứng dụng công
nghệ thông tin trong công tác quản lý và giảng dạy ở cấp tiểu học trên địa bàn
huyện Can Lộc” nhằm nêu lên những thuận lợi, khó khăn và một số giải pháp để
nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo
viên tiểu học trên đại bàn huyện Can Lộc.
2. Mục đích và nhiệm vụ:
2.1. Mục đích:
Nhằm giúp cho cán bộ, giáo viên ở một số nhà trường tiểu học làm việc
nhanh, hiệu quả trong công tác thực hiện nhiệm vụ giáo dục, cũng như công tác
giảng dạy. Tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên có cơ hội giao lưu trao đổi kinh
nghiệm trong công tác, cũng như kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.


Rèn luyện cho cán bộ giáo viên có kỹ năng trong công tác truy cập Internet

sử dụng máy tính và phần mềm mát tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý,
truyền và thu thập thông tin. Người làm việc trong ngành này được gọi là dân
CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process
Cosnultant)
Ở Việt Nam khái niệm CNTN được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết
Chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993 “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương
pháp khoa học,các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật
máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của
con người và xã hội”
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào quản lý và
dạy học.
Công nghệ thông tin (CNTT) vào trong nhà trường là sử dụng CNTT như một
công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí
nhà trường; giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao chất lượng dạy học; trang bị cho
học sinh kiến thức về CNTT, học sinh sử dụng máy tính như một công cụ học tập


nhằm nâng cao chất lượng học tập; góp phần rèn luyện học sinh một số phẩm chất
cần thiết của người lao động trong thời kì hiện đại hoá. Việc thúc đẩy ứng dụng
CNTT trong nhà trường sẽ góp phần hiện đại hoá giáo dục và đào tạo, gắn với phát
triển nguồn nhân lực CNTT, xác định là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa rất lớn
trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và ứng dụng CNTT một cách
hiệu quả trong công tác giáo dục của nhà trường theo tiêu chí mới của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
Lãnh đạo các nhà trường sử dụng CNTT để quản lí hồ sơ, thời khoá biểu,
điểm kiểm tra của Giáo viên và học sinh, soạn thảo và quản lí các văn bản chỉ đạo
và báo cáo của nhà trường. Triển khai các phần mềm ứng dụng vào công tác giáo
dục và giảng dạy.
2. Cơ sở thực tiễn.

và không bền vững do thiếu đội ngũ kỹ thuật chăm sóc.
Hơn nữa hệ thống thư viện trực tuyến Violet có thể hỗ trợ các đơn vị giáo dục
như các Trường học, Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT,... tạo được trang web Thư viện
cho riêng mình hoàn toàn miễn phí. Trong trường hợp đơn vị đã có website từ
trước thì có thể sử dụng trang riêng này như một chức năng thư viện cho trang web
hiện có, còn nếu đơn vị chưa có website thì có thể sử dụng trang riêng này như một
website chính thức của đơn vị.
Như vậy, Công nghệ thông tin có vai trò, ý nghĩa, tác dụng rất to lớn trong mọi
hoạt động cũng như trong công tác quản lý và giảng dạy sẽ giúp chúng ta làm việc
một cách khoa học, hợp lý. Là công cụ hỗ trợ đắc lực để đổi mới phương pháp
quản lý, giảng dạy và học tập.


Chương 2:
Thực trạng ứng dụng Công nghệ thông tin trong công tác quản lý và dạy học
ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc.
2. 1. Vị trí địa lý, kinh tế, xã hội của huyện Can Lộc.
2.1.1. Vị trí địa lý:
2.1.1.1. Vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân và Thị xã Hồng Lĩnh, phía Tây Bắc giáp
huyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Nam giáp huyện
Thạch Hà, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Lộc Hà. Can Lộc cách thủ đô Hà
Nội 330km, cách thành phố Vinh khoảng 30km, cách thị xã Hồng Lĩnh khoảng
15km và cách thị xã Hà Tĩnh khoảng 20km.
2.1.1.2. Diện tích:
- Tổng diện tích tự nhiên: 30.128,33 ha. Trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 19.460,24 ha.
+ Đất phi nông nghiệp: 7.590,35ha.
+ Đất chưa sử dụng: 3.077,74ha.
2.1.1.3. Địa hình:

thương mại và dịch vụ, du lịch. Nhờ vậy, từ một huyện vốn còn nhiều hộ nghèo, hộ
thiếu đói, nhờ làm tốt thủy lợi, đổi mới giống cây trồng vật nuôi, áp dụng tiến bộ
kỹ thuật, nông nghiệp liên tục được mùa, đời sống nhân dân không ngừng được cải
thiện, bộ mặt nông thôn Can Lộc nhiều khởi sắc. Can Lộc là huyện tiêu biểu, dẫn
đầu trong các phong trào xóa nhà tranh tre dột nát, ngói hóa nhà ở cho nhân dân.
Đặc biệt gần đây là phong trào chuyển đổi ruộng đất, mở đường cho bước phát
triển mới của nông nghiệp và nông thôn. Tính đến cuối 2008, tổng giá trị sản xuất
toàn huyện đạt 1.740 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt hơn 12 triệu đồng. Tỷ lệ cơ
cấu kinh tế giữa nông nghiệp, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch
vụ lần lượt là: 46,24%, 23,18% và 30,58%. Số hộ nghèo chỉ còn 13%, số hộ khá,
hộ giàu tăng lên rõ rệt. Toàn huyện đã làm mới 560 km đường nhựa, đường bê
tông, xây dựng 17 trụ sở cao tầng, 53 trường đạt chuẩn và 18 trạm y tế đạt chuẩn


quốc gia. Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, các công trình phúc lợi từng bước hoàn
thiện. Y tế, giáo dục, các mặt văn hóa xã hội trên địa bàn được chăm lo. An ninh
quốc phòng được giữ vững. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở vững mạnh. Vai
trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng được tăng cường, hoạt động của chính quyền các cấp
ngày càng có hiệu quả, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, hội quần
chúng không ngừng được củng cố. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được phát
huy, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Liên tục nhiều năm
Đảng bộ huyện đạt danh hiệu "trong sạch, vững mạnh" tiêu biểu. Những thành tựu
nổi bật đó đã tạo nên diện mạo Can Lộc đổi mới hôm nay, trong đó có cả sự kết
tinh các giá trị lịch sử văn hóa qua 540 năm.
2.2. Thực trạng Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và
dạy học ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện.
2.2.1. Thuận lợi:
Sau khi tách 6 xã về huyện Lộc Hà (2007), đến năm 2012 Can Lộc có 22 xã,
1 thị trấn với 29 trường tiểu học. Đầu năm học 2012-2013 thực hiện kế hoạch sáp
nhập một số trường tiểu học theo chủ trương của tỉnh, Can Lộc chỉ còn lại 24

sức dân để mua sắm trang thiết bị, máy tính.
- Một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên thiếu nêu cao tinh thần học hỏi để
nâng cao trình độ tin học, hay ỷ lại cho nhân viên giúp việc.
- Nhiều giáo viên trẻ mới ra trường nhưng không được đào tạo cơ bản về tin
học.
- Đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên ngành Tin học cho cấp tiểu học còn
thiếu (Tính đến nay Can Lộc mới có ..../24 trường được biên chế giáo viên dạy Tin
học chính thức).
- Trình độ, kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng máy tính và các phương
tiện hỗ trợ của giáo viên không đồng đều, thậm chí có người chỉ dùng máy tính với
mục đích duy nhất là soạn thảo văn bản.
- Về học sinh, do thiếu hệ thống máy tính nên có trường 4-5 em/1 máy nên
hạn chế rất nhiều đến khả năng tiếp cận thông tin, kỹ năng thao tác, khả năng ứng
dụng... Nhiều học sinh rất ít có điều kiện tiếp xúc với máy tính hoặc một số em
chưa từng biết sử dụng máy tính cũng là khó khăn cần được quan tâm.


- Việc đưa các phần mềm vào ứng dụng trong quản lý và giảng dạy còn gặp
nhiều khó khăn vì thiếu kiến thức tập huấn nên khó sử dụng trong các nhà trường.
2.3. Nguyên nhân:
Có được một số kết quả trên là do hiện nay nhiều nhà trường đã có hướng
đầu tư trọng tâm, các bậc cha mẹ học sinh tạo điều kiện, mua sắm trang thiết bị
(mua máy tính, nối mạng Internet) cho con em học tập. Chế độ động viên, khuyến
khích cán bộ, giáo viên, học sinh kịp thời.
Tuy vậy, hiện nay đại đa số các trường tiểu học trên địa bàn huyện Can Lộc
vẫn chưa trang bị được tốt các phòng máy phục vụ cho việc quản lý cũng như
giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh do điều kiện cơ sở vật chất của địa
phương, thiếu các nguồn ngân sách hỗ trợ từ bên ngoài vào giáo dục. Bên cạnh đó,
công tác nâng cao năng lực trình độ về công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên ở
nhiều trường chưa được quan tâm đúng mức (đặc biệt là các trường thuộc vùng

- học, từ đó quan tâm, tạo điều kiện và quyết tâm triển khai thực hiện. Nếu chỉ phát
động mà không quan tâm, không thể hiện quyết tâm và thực hiện những biện pháp
bổ sung thì việc ứng dụng CNTT của giáo viên cũng không thể mang lại kết quả
như mong đợi.


3.2.3. Nâng cao trình độ Tin học và kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông
tin cho giáo viên và học sinh
Như đã trình bày, một trong những khó khăn cơ bản của việc triển khai ứng
dụng CNTT trong dạy - học là tâm lý ngại khó, ngại cái mới của giáo viên (đặc
biệt là giáo viên đã lớn tuổi). Như vậy, muốn triển khai hiệu quả, muốn được tất cả
các giáo viên đón nhận thì ngoài công tác tư tưởng còn cần làm thế nào đó cho họ
thấy việc ứng dụng CNTT không quá khó và họ hoàn toàn có thể thực hiện được.
Nhận thức được điều đó, các nhà trường cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng
dụng CNTT cho giáo viên thông qua nhiều hoạt động như:
3.2.3.1. Xây dựng đội ngũ cốt cán.
Phân công cho ít nhất một giáo viên có đủ năng lực và tâm huyết phụ trách
công việc này, sẵn sàng tạo điều kiện cho giáo viên học tập và tham gia các lớp tập
huấn để nâng cao năng lực.
Với các tổ chuyên môn, mỗi tổ cử một giáo viên chịu trách nhiệm chính để
được tập huấn và hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ công tác soạn giảng với CNTT.
3.2.3.2.Tổ chức tập huấn đại trà.
Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ
trợ soạn giảng. Các lớp tập huấn này được tổ chức theo hình thức trao đổi giúp đỡ
lẫn nhau, tập trung chủ yếu vào những kỹ năng mà giáo viên cần sử dụng trong quá
trình soạn giảng hàng ngày và phải bắt đầu từ những kỹ năng đơn giản nhất như:
cách tra cứu và tìm kiếm thông tin, cách chuyển đổi các loại phông chữ, cách sử
dụng một số phương tiện như máy chiếu, máy quay phim, chụp ảnh, các bước soạn
một bài trình chiếu, các phần mềm thông dụng, cách thiết kế bài kiểm tra,… mà
báo cáo viên chính là đội ngũ cốt cán của trường.


1. Kết quả đạt được:
Những giải pháp cơ bản trên đây để đẩy mạnh ứng dụng CNTT rộng rãi trong
các nhà trường đó là:
Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường nhằm
giúp các cấp lãnh đạo, các lực lượng xã hội nhận thức một cách đầy đủ ý nghĩa và
tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT và nhà trường.
Đánh giá, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, tổ chức các diễn đàn, hội
thảo để chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong việc quản lí nhà
trường, hỗ trợ dạy và học.
Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng về CNTT cho đội ngũ cán bộ quản
lý giáo dục các cấp; Khuyến khích sử dụng giáo án điện tử trong các nhà trường,
sử dụng tin học là công cụ tích cực đổi mới phương pháp dạy học ở các cấp học
trong giai đoạn mới.
2. Kết luận và bài học kinh nghiệm:
Để ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý các hoạt động giáo dục,
bản thân người quản lý, giáo viên phải có một số vốn kỹ năng về vi tính giúp cho
việc soạn thảo, lấy tư liệu, hoặc thiết kế được dễ dàng.
Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý và giảng dạy ban đầu là một bài
toán khó với các nhà quản lý, nhưng qua một thời gian không dài, kết quả đã cho
thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả đội ngũ thầy và trò không gian
mới nhiều hứng thú trong lớp học. Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm
dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh
động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với
học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện
hiện đại, làm giàu thêm vốn kinh ngiệm hiểu biết của mình.
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT không đồng nhất với đổi mới phương pháp
dạy học, CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển khai tích cực hiệu quả



Lý do chọn đề tài.
Mục đích và nhiệm vụ.
Mục đích.
Nhiệm vụ.
Kết cấu đề tài (Gồm 3 chương)

1
1
1
2
2

NỘI DUNG

1
1.1
1.2
2
3

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề.

3

Cơ sở lý luận.

3

Khái niệm Công nghệ thông tin.
Vai trò,ý nghĩa của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào

3
2.1.1.
4
2.1.2

Vị trí địa lý.

6

Diện tích.

6

Địa hình.

6

Dân cư.

6

2.2

Về Kinh tế, văn hóa, xã hội.

7-8

Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản lý và dạy học ở các trường tiểu học trên địa bàn
huyện.


3.2

Giải pháp.

11

3.2.1

Công tác bồi dưỡng đội ngũ.

11

3.2.2

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên.

11

3.2.3

Nâng cao trình độ Tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT
cho giáo viên và học sinh.

3.2.3.
1
3.2.3.
2
3.3.2.
3

Những kết quả đạt được.
Kết luận và bài học kinh nghiệm.
Kiến nghị.
MỤC LỤC

14
14-15
15
16-17


Phần phê duyệt, đánh giá của các cấp





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status