Nghiên cứu nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng Học sinh Sinh viên trên địa bàn xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh - Pdf 45

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA KINH TẾ& PTNT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“NGHIÊN CỨU NHU CẦU VAY VÀ HÌNH THỨC SỬ DỤNG TÍN DỤNG
HỌC SINH- SINH VIÊN TẠI XÃ MÃO ĐIỀN, HUYỆN THUẬN THÀNH,
TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2013- 2016”

Tên sinh viên: Nguyễn Thị Chinh
Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế phát triển
Lớp: K57- KTPT
Niên khóa: 2012-2016
Giáo viên hướng dẫn: TS. Quyền Đình Hà

Hà Nội, tháng 4/ 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là
trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Đồng thời tôi xin cam đoan rằng trong quá trình thực hiện đề tài này tôi luôn chấp
hành đúng mọi quy định của nơi thực tập.
Tác giả
Nguyễn Thị Chinh

2



một chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ trong việc ưu tiên phát triển giáo dục,
đảm bảo an sinh xã hội. Hỗ trợ tài chính cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn để
các em có điều kiện học tập, vươn lên trong cuộc sống. Góp phần nâng cao nguồn
lực xã hội, đào tạo nhân tài cho đất nước. Để nâng cao chất lượng hoạt động tín
dụng đối với sinh viên, đồng thời đảm bảo duy trì hoạt động bền vững của
NHCSXH, cần phải hoàn thiện hơn nữa hoạt động cho vay đối với sinh viên.
Những vấn đề đặt ra như sinh viên như thế nào thì được vay vốn? quy trình thủ tục
vay như thế nào để sinh viên dễ dàng tiếp cận được với vốn tín dụng? Mức vốn vay,
thời hạn vay và lãi suất bao nhiêu là phù hợp và còn những vướng mắc gì về
chương trình? Để đóng góp phần trả lời câu hỏi trên em tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng học sinh – sinh viên tại
xã Mão Điền, huyệnThuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”. Với mục tiêu chính là thông qua
tìm hiểu hoạt động tín dụng đối với sinh viên của xã Mão Điền- huyện Thuận
Thành – tỉnh Bắc Ninh, chỉ ra những tồn tại, hạn chế từ đó đề xuất giải pháp để
nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng đối với sinh viên và mục tiêu cụ thể
là: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về vấn đề tín dụng đối với sinh viên, đánh
giá thực trạng, phân tích yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng đối với sinh viên.
Đối tượng nghiên cứu là chương trình tín dụng đối với sinh viên của xã Mão
Điền huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Để hiểu vấn đề nghiên cứu, chúng ta cần nắm bắt rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực
tiễn của đề tài. Phần cơ sở lý luận tôi đưa ra các khái niệm cơ bản về tín dụng, bản
chất, hình thức của tín dụng. Phần cơ sở thực tiễn là kinh nghiệm tín dụng sinh viên
của các nước trên thế giới như: Anh, Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hồng Kông
(Trung Quốc), Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin và thực trạng tín dụng sinh viên ở
Việt Nam.
Đề tài đã sử dụng các phiếu điều tra người dân, phỏng vấn trực tiếp những
người có liên quan để thu thập số liệu sơ cấp, đồng thời cũng liên hệ với xã Mão

4


Phần I Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nội dung
1.4.2 Phạm vi không gian
1.4.3 Phạm vi về thời gian
Phần II Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1 Cơ sở lý luận về tín dụng
2.1.1 Tín dụng đối với HSSV
2.1.1.1 Khái niệm tín dụng
2.1.1.2 Bản chất của tín dụng
2.1.1.3 Phân loại tín dụng
2.1.1.4 Tín dụng đối với HSSV
2.1.2 Vai trò và đặc trưng của tín dụng đới với HSSV
2.1.2.1 Vai trò của tín dụng đối với HSSV
2.1.2.2 Đặc trưng của chương trình tín dụng đối với HSSV
2.1.3 Nội dung nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng HSSV
2.1.3.1 Khái niệm về nhu cầu
2.1.3.2 Nội dung nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng đối với HSSV
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng
HSSV
2.1.4.1 Chính sách tín dụng của Nhà nước
2.1.4.2 Tình hình kinh tế và nhận thức của người vay
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng đối với sinh viên trên Thế giới
2.2.2 Kinh nghiệm về hoạt động tín dụng cho HSSV ở 1 số địa phương ở Việt

8
9
9
10
11
11
12
12
12
12
13
13
20
20
21
22


2.2.2.4 Nghệ An
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra
2.2.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Phần III Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
3.1.1.2 Đặc điểm thổ nhưỡng – Khí hậu thủy văn
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm 2013- 2015
3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
3.1.2.3 Hệ thống CSHT thôn xã

4.1.4 Một số nhận xét chính
4.1.4.1 Tác động của quỹ Học sinh – sinh viên

7

22
23
24
26
26
26
26
26
27
27
29
31
33
35
35
35
35
36
36
36
36
36
37
37
37

cấp xã
4.3.4 Phối hợp tốt chính quyền địa phương, Ban, Ngành, Hội đoàn thể các cấp
cũng như các phương tiện thông tin đại chúng
4.3.5 Về tổ chức cho vay
4.3.6 Kết hợp nhiều giải pháp để đôn đốc, thu hồi nợ (kể cả nợ quá hạn
4.3.7 Một số giải pháp khác
Phần V Kết luận và kiến nghị
5.1 Kết luận
5.2 Kiến nghị
5.2.1 Đối với nhà nước
5.2.2 Đối với NHCSXH huyện Thuận Thành
5.2.3 Đối với nhà trường

55
57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

72

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
ĐH

TCCN
HSSV
NHCSXH
NHNN


UBND

Ủy ban nhân dân

9


DANH MỤC BẢNG

Số bảng
Tên bảng
3.1
Tình hình sử dụng đất đai của xã Mão Điền qua 3 năm 2013- 2015
3.2
Tình hình dân số - lao động giai đoạn năm 2013 – 2015
3.3
Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Mão Điền năm 2013 - 2015
4.1
Cơ cấu nguồn vón cho vay HSSV ở xã Mão Điền
4.2
Tỷ lệ hộ sinh viên được vay vốn
4.3
Cơ cấu dư nợ phân theo đơn vị nhận ủy thác của xã Mão Điền
4.4
Tình hình chung về các hộ điều tra phân loại theo thu nhập và tổ chức
chính trị- xã hội
4.5
Tình hình trả nợ của người vay vốn
4.6

Tên biểu đồ
4.1 Dư nợ sinh viên qua các năm

Trang
46

10


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1

Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cùng với việc đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng
định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu,
là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Do đó
cần phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Muốn có nguồn
nhân lực đó nhất thiết phải chú trọng phát triển giáo dục- đào tạo vì giáo dục- đào
tạo trực tiếp giúp con người nâng cao trí tuệ, hiểu biết và khả năng vận dụng tri
thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Song song với việc nâng cao chất lượng dạy
và học, ngành giáo dục đào tạo luôn trú trọng đến thực hiện các chính sách quan
tâm đối với người đi học
Mối năm trên cả nước có thêm 2 triệu sinh viên đại học, cao đẳng và khoảng
600 nghìn học sinh trung cấp chuyên nghiệp, trong đó có hàng nghìn học sinh sinh
viên có hoàn cảnh khó khăn. Ở nước ta hiện nay là số học sinh sinh viên có hoàn
cảnh khó khăn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số học sinh sinh viên theo học tại các
trường đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề. Nếu nhà nước không có những hỗ

là chính nên kém phát triển. Mỗi năm, trong toàn xã có khoảng hơn 100 HSSV
theo học tại các trường ĐH, CĐ, TCCN và học nghề có hoàn cảnh gia đình khó
khăn, có nhu cầu vay vốn tín dụng để phục vụ công việc học tập. Theo thống kê,
trên địa bàn xã hiện có tổng nợ của HSSV đạt 30,8 tỷ đồng trong đó dư nợ HSSV
hơn 23,9 tỷ đồng với 867 hộ vay vốn.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng Học
sinh- Sinh viên trên địa bàn xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng
HSSV; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và hiệu
quả sử dụng nguồn tín dụng học sinh- sinh viên trên địa bàn xã Mão Điền, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

12


1.2.2 Mục tiêu cụ thể
(1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nhu cầu vay và

hình thức sử dụng tín dụng HSSV;
(2) Đánh giá thực trạng nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng HSSV trên
địa bàn xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
(3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín

dụng HSSV trên địa bàn xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh;
(4) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và hiệu quả sử
dụng nguồn tín dụng học sinh- sinh viên trên địa bàn xã Mão Điền, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

vay… Như vậy, tín dụng bao hàm cả việc cho vay và đi vay. Nó ra đời, tồn tại và
phát triển cùng với nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại
song song hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của tín dụng là một
yếu tố khách quan. Như vậy, xét về bản chất, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn
nhau có hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa
thuận giữa người vay và người cho vay(Hồ Diệu, 2004)
Tín dụng ra đời rất sớm, gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản suất
hàng hóa. Vì thế, tín dụng ra đời xuất phát từ cơ sở:
(i)
(ii)

Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa
Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt, cân bằng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm bảo đảm sự ổn định khi gặp các biến cố.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng:
“Tín dụng” được xuất phát từ gốc chữ Latinh: Creditium có nghĩa là tin

tưởng, tín nhiệm lẫn nhau (tiếng anh là credit) (dẫn theo Phạm Thị Duyên, 2014)
Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người
sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về người sở hữu
với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.(dẫn theo Phạm Thị Duyên,
2014)
Theo nội dung kinh tế, tín dụng thực chất là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn
tạm thời nhàn rỗi giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả
dựa trên cơ sở có sự tín nhiệm. (dẫn theo Bùi Thị Hường, 2013)
Tín dụng là phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và
người đi vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử
dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn

14

hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra
này được gọi là lợi tức tín dụng.

15


Hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ thời kỳ cuối của xã hội cộng sản khi xã hội có
phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa với hình thức sơ khai là hoạt
động cho vay nặng lãi. Do lực lượng sản xuất phát triển, chế độ tư hữu ra đời đã
dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ công xã. Người giàu tập trung trong
tay của cải và tiền tệ, người nghèo vì thiếu tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt nên
phải đi vay người giàu và chịu lãi nặng. Cho vay nặng lãi là hình thức đặc biệt
trong lịch sử của tín dụng, đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong
kiến và các quan hệ tư bản chủ nghĩa chưa phát triển.
Cho vay nặng lãi thích ứng với nền sản xuất nhỏ. Trong điều kiện này, người cho
vay nặng lãi chiếm hầu hết sản phẩm thặng dư của người nông dân và thợ thủ công
dưới hình thức lợi tức. Vì thế tín dụng nặng lãi làm bần cùng hóa phạm vi rộng lớn
những người sản xuất nhỏ và góp phần làm xuất hiện phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Tuy vậy, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, việc cho
vay nặng lãi đã trở thành chướng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vì lợi
tức tín dụng quá cao và vì vậy dần bị đẩy lùi. Chủ nghĩa tư bản chống nạn cho vay
nặng lãi thông qua những luật lệ của nhà nước tư bản và những điều răn đe cấm
hoặc kết tội của nhà thờ, nhưng chủ yếu bằng những biện pháp kinh tế như lập ra
các ngân hàng, xây dựng chế độ tín dụng tư bản chủ nghĩa.
Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền phản ánh quan hệ cung cầu và quy luật giá
trị. Mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa. Mỗi chủ thể tham gia nền kinh tế
đều cần nguồn vốn để hoạt động trên thị trường hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu của
mình. Tuy nhiên nguồn vốn tự có thường không đủ, trong khi đó, ở một nơi khác lại
có người đang có vốn nhàn rỗi. Sự tương tác giữa các chủ thể kinh tế giúp các
khoản vốn được luân chuyển từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, giúp cho người thừa

hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất hoặc tiêu
dùng thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là
dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác. Mặt khác, sự
hoàn trả của tín dụng là quá trình quay trở về của giá trị. Hình thái vật chất của sự
hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hóa hoặc giá trị. Tuy nhiên, sự vận
động đó không phải với tư cách là phương tiện lưu thông, mà với tư cách một lượng
giá trị được vận động. Sự hoàn trả trong tín dụng luôn luôn phải được bảo tồn về
mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức tín dụng. (Đặng Thị Việt
Đức- Phan Anh Tuấn, 2012)

17


2.1.1.3 Phân loại tín dụng
Đến nay có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về các hình thức tín dụng trong nền
kinh tế thị trường. Những nghiên cứu đó đã phân tích tín dụng theo các tiêu thức
nhất định như thời gian, đối tượng, mục đích cho vay, hình thức biểu hiện của vốn
và chủ thể các quan hệ tín dụng.
Theo luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam ra ngày 12 tháng 12 năm 1997, tại điều 49 quy định. Tổ chức tín dụng được
cấp tín dụng cho tổ chức cá nhân dưới các hình thức: cho vay, bảo lãnh chiết khấu
thương phiếu và giấy tờ có giá khác, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo
quy định của ngân hàng nhà nước:
(i) Theo thời gian cho vay tín dụng được chia thành tín dụng ngắn hạn(thời hạn

từ 1 năm trở xuống), tín dụng trung hạn(thời hạn từ 1 năm đến 5 năm) và tín
dụng dài hạn( thời hạn trên 5 năm)
(ii) Theo đặc điểm của vốn, tín dụng được phân ra thành vốn lưu động cho vay
để hình thành tài sản lưu động và vốn cố định cho vay để hình thành tài sản

Sáu là một số hình thức khác mang tính chất tín dụng như bán trả góp, dịch
vụ cầm đồ hay bán non nông sản
(vi) Theo phương diện tổ chức, tín dụng có thể được chia thành tín dụng chính
thức và tín dụng không chính thức
Tín dụng chính thức là hình thức huy động vốn và cho vay vốn thông qua
các tổ chức tài chính. Tín dụng chính thức có đăng kí và hoạt động công khai
theo luật, hoặc chịu sự quản lý giám sát của chính quyền nhà nước các cấp
các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm các hệ thống ngân hàng, kho bạc
nhà nước, quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính, một số tổ chức tiết
kiệm làm trung gian cho vay vốn như các đoàn thể xã hội. Tín dụng chính
thức giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tín dụng quốc gia
Tín dụng không chính thức là tín dụng do các tổ chức cá nhân nằm ngoài tổ
chức chính thức kể trên. Hoạt động của nó không chịu sự quản lý của nhà
nước nhưng vẫn có nguyên tắc nhất định giữa người vay và người cho vay
để họ tránh rủi ro về tín dụng (dẫn theo, Bùi Thị Hường, 2013)
2.1.1.4 Tín dụng đối với Học sinh- sinh viên
Tín dụng đối với HSSV là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước
huy động để cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn đang theo học tại các trường ĐH
(hoặc tương đương ĐH), CĐ, TCCN và tại các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt
động theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm góp phần cho HSSV trang trải
chi phí học tập và sinh hoạt trong thời gian theo học tại trường gồm: tiền học phí,
chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn ở, đi lại… (dẫn theo
Trương Thị Hiền, 2013)

19


Tín dụng HSSV là tín dụng chính sách, biểu hiện với sự ưu đãi về điều kiện
tín dụng (lãi suất cho vay, thời hạn vay vốn, định kỳ trả nợ, vấn đề gia hạn nợ) cho
người vay có điều kiện quy định riêng (dẫn theo Phạm Thị Duyên, 2014)


20


pháp. Mặt khác chính sách cũng góp phần thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho
mọi người đều có điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp. Tóm lại, việc
hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội (dẫn
theo Vũ Đăng Khỏe, 2013)
2.1.2.2 Đặc trưng của chương trình tín dụng đối với Học sinh- sinh viên
Các đặc trưng cơ bản của chương trình tín dụng đối với HSSV là cung cấp
cơ hội để vay tiền, giúp họ thanh toán chi phí học tập và các khoản chi phí sinh hoạt
khác. Sau khi hoàn thành việc học tập, nghiên cứu, sinh viên tốt nghiệp phải hoàn
trả số tiền vay, có hoặc không có lãi. (dẫn theo Phạm Thị Duyên, 2014)
Tính đặc thù của chương trình tín dụng đối với HSSV:
(i)

Về mục đích cho vay. Để hỗ trợ giải quyết khó khăn về tài chính,
phục vụ cho việc học tập và sinh hoạt của HSSV nghèo và các đối

(ii)

tượng chính sách
Về thời hạn cho vay. Tín dụng trung- dài hạn, là khoảng thời gian
được tính từ ngày đối tượng được vay vốn bắt đầu nhận món tiền vay
đầu tiên đến khi trả nợ( cả gốc và lãi) được ghi trong hợp đồng tín
dụng, cụ thể là thời gian HSSV đang học tập tại trường và thời gian

(iii)

trả nợ

Về mức tiền vay: Mức cho vay tối đa được Chính phủ quy định theo
từng thời kỳ và có mức điều chỉnh phù hợp với mức học phí và giá cả
tiêu dùng sinh hoạt của HSSV. Tổng số tiền cho vay tối đa được xác
định tại hợp đồng tín dụng trên cơ sở nhu cầu của HSSV, căn cứ vào
khoảng thời gian kể từ khi HSSV được vay cho đến khi kết thúc khóa
học. Số tiền cho vay cụ thể được xác định căn cứ vào nhu cầu của

(vii)

HSSV, số năm được vay vốn
Về nguồn vốn cho vay: Chủ yếu do NHNN cấp theo chỉ thị của Chính
phủ giao Bộ tài chính chuyển cho NHCSXH để thực hiện chương
trình cho vay tín dụng đối với HSSV. Ngoài ra Chính phủ chỉ đạo Bộ
Tài chính chủ động bố trí nguồn vốn đảm bảo cung cấp cho
NHCSXH 1 chu kỳ vay học tập của HSSV, tập trung huy động 1
nguồn vốn hợp pháp( như thông qua trái phiếu Chính phủ, vay lãi suất
thấp từ NHNN…) để có quỹ quay vòng thực hiện tín dụng đối với

(viii)

HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn
Về tổ chức thực hiện: Tín dụng đối với HSSV là 1 chính sách xã hội
có phạm vi rộng lớn, nên việc tổ chức thực hiện được giao cho hệ
thống các bộ, ban, ngành, cơ quan có trách nhiệm, với những nhiệm

vụ quy định cụ thể
Với những đặc trưng trên, tín dụng đối với HSSV ngày càng chứng tỏ đây là
sự quan tâm đầu tư rất lớn của Đảng, Chính phủ và nhà nước cho sự nghiệp
phát triển nguồn nhân lực của đất nước (dẫn theo Phạm Thị Duyên, 2014)
2.1.3 Nội dung nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng HSSV của các hộ

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu vay và hình thức sử dụng tín dụng
Học sinh- sinh viên
2.1.4.1 Chính sách tín dụng của Nhà nước
Chính phủ đã đưa ra chủ trương, chính sách tín dụng đối với HSSV, vì thế đây là
yếu tố quan trọng để thực hiện tốt được chương trình này. Chính sách tốt sẽ được
người dân đón nhận và ủng hộ, giúp cho việc triển khai và thực hiện đem lại hiệu

23


quả cao. Các công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ
vay vốn tín dụng HSSV
2.1.4.2 Tình hình kinh tế và nhận thức của người vay
Môi trường kinh tế cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng ưu đãi đối với HSSV.
Nếu môi trường kinh tế thuận lợi, sẽ tạo được sự hỗ trợ rất lớn trong việc thực hiện
chương trình tín dụng đối với HSSV như thu hút nguồn vốn lập quỹ cho vay ưu đãi
dễ dàng hơn, HSSV sẽ yên tâm học tập, đạt kết quả cao và là sản phẩm có chất
lượng sau khi ra trường, có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt và có khả năng trả nợ cao.
Như vậy, sẽ giúp chương trình có vòng quay vốn nhanh, tạo cơ hội cho những
HSSV có hoàn cảnh khó khăn khác, để chương trình này thực sự hiệu quả và hoạt
động lâu dài. Nền kinh tế càng phát triển, công tác cho vay tín dụng ngày càng
được trú trọng,nguồn vốn dành cho chương trình ngày càng tăng lên, việc trả nợ
của các hộ gia đình cũng tốt hơn
Nhận thức của người vay cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chương trình tín
dụng đối với sinh viên. Khi người vay hiểu đúng và biết được ý nghĩa của chương
trình thì việc chấp hành tốt quy định và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với
Ngân hàng thì hiệu quả của chương trình sẽ cao hơn.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng đối với sinh viên trên thế giới
Tại Anh: Nước đứng hàng đầu trên thế giới cũng như ở châu Âu về giáo dục

Ziderman, 2006)
Tại Trung Quốc: Chương trình cho vay sinh viên lần đầu tiên xuất hiện ở
trung quốc năm 1986. Hai chương trình quốc gia chính thức được bắt đầu năm
1999 và hiện vẫn đang trong giai đoạn xây dựng, một chương trình do chính phủ trợ
cấp và chương trình thứ hai hoạt động theo hình thức thương mại.
Chương trình cho sinh viên vay vốn do chính phủ trợ cấp là chương trình cho
vay chính ở Trung Quốc. Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo hệ chính
quy tập trung ở các trường đại học công lập. Nguồn vốn vay do bốn Ngân hàng
thương mại của nhà nước cấp. Sinh viên sẽ phải trả nợ trong vòng bốn năm sau khi
tốt nghiệp. Đến cuối năm 2001, có 272.000 sinh viên đã được vay vốn từ chương
trình cho vay vốn có trợ cấp, chiếm hơn 30% số người xin vay. Nhưng quy mô nhìn
chung là rất thấp: chỉ có 3,8% sinh viên được vay vốn. (Adrian Ziderman, 2006)
Thu nhập tương đối thấp của các sinh viên tốt nghiệp đại học cộng với giai
đoạn thu hồi vốn ngắn( 4 năm) gây áp lực khá lớn đối với đối tượng vay vốn. Họ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status