Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý chỉ đạo hoạt động của nhà trường - Pdf 45

SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KỸ THUẬT: “TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG
CNTT TRONG QUẢN LÝ CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRƯỜNG”
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến cải tiến kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc
phải ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu. Trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, trong những
năm qua nhiều đơn vị trường học đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập cho giáo viên
và học sinh. Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong
giáo dục ở một số trường học ở nước ta còn rất hạn chế, kể cả trên địa bàn huyện Lệ
Thủy chúng ta, do vậy chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ
giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực
CNTT mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả
cho công việc của mình, mục đích của mình.
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi
nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”.
Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT
thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu
cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học,
ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi
mới phương pháp dạy học ở các môn”.
Thế giới bước vào kỷ nguyên mới nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng
CNTT trên tất cả các lĩnh vực: Sản xuất, thương mại, quốc phòng...
Trong Giáo dục đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hoá phương tiện, thiết bị
dạy học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học.( Thiết bị dạy học, không chỉ còn là
thước kẻ, compa, bảng phụ... mà là máy tính, máy chiếu…)
Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và hiệu quả to lớn của nó. Nhà
nước, Chính phủ và ngành giáo dục đã có các văn bản chỉ đạo đối với việc ứng dụng
CNTT vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và phát triển ngành giáo
dục đào tạo nói riêng.
1

sẽ đưa ra một số ý kiến, kinh nghiệm của cá nhân mình, cũng như những việc làm cụ
thể trong việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý tại trường TH số 2 Phong Thủy
2


trong năm học 2014 - 2015 để cùng các bạn đồng nghiệp thảo luận tìm ra những giải
pháp tốt hơn nữa trong công tác quản lý.
2. Điểm mới và sự cần thiết chọn SK CTKT:
Phạm vi nghiên cứu của sáng kiến này là về lĩnh vực CNTT. Với sáng kiến
CTKT này nhằm giải quyết vấn đề đưa CNTT vào nhà trường góp phần thực
hiện kế hoạch đẩy mạnh CNTT giai đoạn 2011 – 2015, phát huy hiệu quả sử
dụng trang thông tin điện tử của nhà trường.
Hiện nay không chỉ ngành giáo dục mà ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
khoa học kỹ thuật đều triển khai, áp dụng rộng rãi mô hình quản lý và triển khai hiệu
quả công việc bằng Email điện tử và đăng tải công khai thông tin trên website.
Đối với đơn vị nhà trường rất cần thiết áp dụng việc ứng dụng CNTT vào hoạt
động dạy học, sử dụng hộp thư điện tử thông qua trang thông tin điện tử của nhà trường
để triển khai nhiệm vụ công tác hàng tuần, hàng tháng đến các tổ chức đoàn thể, các bộ
phận, các tổ trưởng chuyên môn của nhà trường, và tới toàn thể cán bộ giáo viên, nhân
viên nhà trường.
Đối với cán bộ giáo viên và nhân viên rất cần thiết sử dụng hộp thư điện tử,
website để cập nhật thông tin từ các cấp quản lý; Cập nhật kế hoạch chỉ đạo thực hiện
nhiệm vụ công tác từ phía lãnh đạo nhà trường, các bộ phận, tổ có liên quan.
3. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm giúp đỡ cán bộ giáo viên nhà trường làm việc nhanh, hiệu quả trong công
tác thực hiện nhiệm vụ giáo dục, cũng như công tác giảng dạy, tham gia các hoạt động
khác. Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên có cơ hội giao lưu trao đổi kinh nghiệm trong
công tác, cũng như kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày thông qua hộp thư điện tử.
Rèn luyện cho cán bộ giáo viên có kỹ năng trong công tác truy cập Internet để
tìm kiếm thông tin, cũng như tìm kiếm các tư liệu phục vụ nhiệm vụ công tác giáo dục,

rãi, bởi với thu nhập của nhà giáo thì ít người sẽ mua được máy tính, không biết khi
nào trường có máy chiếu và các cơ sở hạ tầng CNTT khác.
Việc ứng dụng CNTT vào quản lý còn phụ thuộc nhiều vào “ý thích” của cán bộ
quản lý, của một số giáo viên, chưa có sự chỉ đạo mang tính pháp lý cùng với sự hỗ trợ
thích hợp về cơ sở vật chất,...của các cấp quản lý.
4


Trong những năm học trước tại Trường TH số 2 Phong Thủy, nhất là từ năm học
2010 - 2011 trở về trước, khi việc ứng dụng CNTT vào quản lý nhà trường còn rất ít,
chủ yếu là dùng máy tính soạn thảo một số văn bản, in ấn tài liệu. Nhiều công việc
khác như tra cứu văn bản; soạn thảo văn bản, kế hoạch hàng tuần, hàng tháng; thống
kê, tổng hợp báo cáo; phải làm thủ công nên mất nhiều thời gian và nhân lực nhưng đôi
khi kết quả vẫn có sự nhầm lẫn ngoài mong muốn. Mọi văn bản chỉ đạo của nhà trường
như thông báo; Các loại Kế hoạch .v.v.v. đều sử dụng bằng giấy dán tại văn phòng nhà
trường.
Thực tế khi không ứng dụng CNTT vào quản lý tôi thấy ở trường TH số 2
PhongThủy có những hạn chế như sau:
Việc tra cứu văn bản, nhất là các văn bản, các kế hoạch ban hành cách đây đã lâu
thì việc tìm các văn bản này trong tập hồ sơ lưu trữ là một vấn đề không đơn giản, phải
mất khá nhiều thời gian nếu cần ngay các văn bản này để giải quyết công việc thì
không thể đáp ứng được.
Để phục vụ thống kê báo cáo phải huy động một lực lượng lớn CBGV, CNV ở
nhiều bộ phận khác nhau. Đơn cử như báo cáo chất lượng giảng dạy của giáo viên thì
phải huy động hết giáo viên trong trường, các tổ trưởng chuyên môn, bộ phận văn
phòng để tổng hợp, lãnh đạo phải kiểm tra lại thông tin báo cáo. Nếu các báo cáo này
cần phân loại theo giới tính, lớp, môn…thì còn đòi hỏi nhân lực và thời gian nhiều hơn.
Tuy số lượng tham gia đông, thời gian nhiều, nhưng nhiều khi số liệu lại không khớp
giữa các môn, các khối làm ảnh hưởng đến tổng hợp báo cáo của toàn trường thiếu độ
chính xác.

hỏng 4 máy ); Phòng thư viện, thiết bị: 3 máy (Hỏng 2 máy). Trang thông tin điện tử
của nhà trường nghèo thông tin, một số chuyên mục không có hoặc có nhưng không sử
dụng, như: Kế hoạch tháng, tuần; Chương trình, phiếu báo giảng .v.v.v.
Với một thực trạng như thế việc đưa CNTT vào công tác quản lý nhà trường
không chỉ là một nhu cầu tất yếu mà còn bảo đảm sự tồn tại và phát triển của nhà
trường trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của giáo dục và đào tạo.
2. Các biện pháp, giải pháp thực hiện:
2.1- Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho mọi cán bộ, giáo viên và nhân viên thấy rõ
hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp
giảng dạy thông qua việc triển khai các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành về ứng dụng
CNTT trong dạy học; thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, hội thảo
6


chuyên đề; thông qua dự giờ thăm lớp và qua việc triển khai các cuộc thi kỹ năng sử
dụng vi tính các tiết dạy có ứng dụng CNTT do trường tổ chức; Thông qua công khai
các loại Kế hoạch trên trang thông tin điện tử của nhà trường.
Phát động sâu rộng phong trào sử dụng CNTT trong dạy học và đề ra chỉ tiêu cụ
thể về số tiết dạy học có ứng dụng CNTT đối với mỗi giáo viên để chính họ có kế
hoạch bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT
trong giảng dạy, đặc biệt là đối với đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện
nay. Quy định viết bài phục vụ đăng trang TTĐT của trường vào tiêu chí thi đua bình
xét cuối kỳ, cuối năm của từng CB, GV & NV.
2.2- Tiếp tục nâng cao trình độ Tin học cho đội ngũ
Nhà trường, Công đoàn làm tốt công tác động viên CB, GV và NV nâng cao
trình độ Tin học, bằng phương pháp tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực sử dụng
CNTT, đây vừa là yêu cầu đầu tiên nhằm nâng cao trình độ vừa đáp ứng việc đẩy mạnh
CNTT trong nhà trường.
Nhà trường bố trí giáo viên Tin học sắp xếp thời gian bồi dưỡng cho giáo viên

liệu hay, dễ dàng cho giáo viên sử dụng như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án
powerpoint, hướng dẫn sử dụng máy chiếu, hướng dẫn thiết kế bài giảng điện tử,...)
- Động viên giáo viên tích cực tự học tập, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng chia sẻ,
luôn cầu thị tiến bộ, thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp; lãnh đạo nhà trường phải
là bộ phận kết nối, là trung tâm tạo ra một môi trường học hỏi chuyên môn tích cực.
- Tích cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT do các cấp tổ chức. Bởi vì khi
tham gia bất cứ cuộc thi nào yêu cầu sản phẩm cũng đòi hỏi người tham gia cuộc thi
phải có sự đầu tư nhiều hơn về thời gian, công sức, chất xám và cả việc phải học hỏi ở
những người giỏi hơn. Như vậy, vô hình chung cả việc rèn kỹ năng, tự học và học hỏi
đồng nghiệp đều được đẩy mạnh.
Để làm được điều đó, BGH đặc biệt là các tổ trưởng chuyên môn phải luôn quan
tâm sâu sát, đi đầu gương mẫu, cùng học hỏi- cùng làm với giáo viên thì mới hiểu được
họ yếu ở điểm nào, gặp khó khăn ở khâu nào, cần giúp đỡ gì? Nói đi đôi với làm luôn
được coi là biện pháp hữu hiệu nhất để thúc đẩy phong trào phát triển.

8


Phát huy khả năng chính đội ngũ và nhà trường là tự chủ động sử dụng và khai
thác websile của nhà trường, Phòng GD&ĐT đặc biết hộp thư nội bộ của cán bộ, giáo
viên và nhân viên tại địa chỉ
- Tham gia sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo,
tài nguyên dùng chung trên websile Sở, phòng và các đơn vị bạn.
- Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản
lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc mở
liên kết với trang web của trường.
- Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu
quả trong trao đổi cập nhật thông tin. Yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên lập và đăng ký một
địa chỉ mail cố định với nhà trường. Để việc tham gia có chất lượng, nhà trường cần lên
kế hoạch cụ thể từ khâu chọn cử giáo viên, tổ chức tập huấn, trao đổi kinh nghiệm,

lần/ngày.v.v.v.

3. Kết quả đạt được:
Về phía đội ngũ: Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà
trường cho cán bộ, giáo viên và nhân viên. Đến nay 100% CB, GV và NV sử dụng
thành thạo hộp thư nội bộ để chia sẽ và trao đổi kinh nghiệm cho nhau; Trên 60% giáo
viên soạn bài bằng giáo án điện tử, trong dự giờ thao giảng 100% giáo viên đều sử
dụng CNTT. 100% gia đình CB, GV & NV đều có máy tính có nối mạng ( 50% máy
xách tay ).
Về phía nhà trường: Điều kiện CSVC không ngừng được đầu tư và tăng trưởng,
đến nay toàn trường có: 22 máy tính, trong đó có 6 máy xách tay, toàn bộ đều được nối
mạng. Phòng máy có 12 máy, 2 màn hình 51 IN; 2 máy chiếu đa năng và 1 máy chiếu
hắt.v.v.v
Đến nay việc thực hiện kế hoạch đẩy mạnh CNTT giai đoạn 2011 – 2015 cơ bản
hoàn thành.
Hoạt động trang thông tin điện tử của trường: Công tác thông tin chỉ đạo của nhà
trường đều thông qua website của trường đã trở thành nền nếp, do vậy thời gian dành
cho hội họp giảm nhiều tiết kiệm được quỹ thời gian cho việc làm chuyên môn và tổ
chức các hoạt động khác. Đến nay số lượt người truy cập gần 575 000 lượt, bình quân
hàng ngày có trên 500 người truy cập.
Về tính thân thiện mà CNTT đã mang lại cho nhà trường:
10


CNTT tạo môi trường làm việc khoa học, vui vẻ, phấn khởi trong nhà trường (xử
lý công việc nhanh , chính xác)
CNTT giúp cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên (CBGV) trường TH số 2 Phong
Thủy giảm được sức ép về công việc, chia sẽ thông tin (Hỗ trợ giờ dạy , Thống kê phổ
cập , , xử lý các loại báo cáo , quản lý chất lượng , hỗ trợ tự học, học ngoại ngữ vv…)
CNTT mang đến cho giáo viên và học sinh sân chơi trí tuệ, tăng tính tích cực khả

Tuy nhiên, nhà trường cũng xác định rõ: Việc ứng dụng CNTT không đồng nhất
với đổi mới phương pháp dạy học, CNTT chỉ là phương tiện tạo thuận lợi cho triển
khai tích cực hiệu quả công việc chứ không phải là điều kiện đủ của đổi mới phương
pháp làm việc. Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá
trình công tác giáo dục. Để đội ngũ đạt chuẩn về trình độ, kỹ năng sử dụng tin học,
mạng Internet thì điều kiện tiên quyết là việc khai thác CNTT phải đảm bảo các yêu
cầu phục vụ thiết thực, sát đáng trong công việc, không lạm dụng quá vào công việc
khác như vui chơi, giải trí, lang thang, du ngoạn trên mạng.
2. Đề xuất – Kiến nghị
Việc ứng dụng CNTT vào công tác giáo dục đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở
vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để đẩy mạnh việc ứng
dụng và phát triển CNTT trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục có hiệu quả, cần có sự
quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất của các cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của ngành, của mỗi
nhà trường và đặc biệt là sự nỗ lực học hỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi cán bộ
giáo viên trong công tác này.
Trên đây là những kinh nghiện của bản thân tôi đúc rút được trong quá trình chỉ
đạo ứng dụng CNTT vào công tác quản lý nhà trường. Những kinh nghiệm này còn
mang tính cá nhân, chủ quan của bản thân. Tôi rất mong được sự góp ý của lãnh đạo
cấp trên, sự trao đổi của đồng nghiệp để các kinh nghiệm này được hoàn chỉnh hơn, áp
dụng được rộng rải hơn. /.

12


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4


1
2

Lý do chọn sáng kiến cải tiến kỹ thuật
Điểm mới và sự cần thiết chọn SK CTKT
13

1–2
3


3
4
5
6

Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi áp dụng của sáng kiến CTKT
Kế hoạch nghiên cứu

4
4
4
4

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG

1


10 - 11
PHẦN III: KẾT LUẬN

1
2

Những kết luận và bài học kinh nghiệm
Đề xuất – Kiến nghị
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC

14

11
12
13
14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status