TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THÀNH LĂNG
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THPT
RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC
TRONG GIỜ HỌC NGHỊ LUẬN VỀ
MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
TS. PHẠM KIỀU ANH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, TS.
Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi
hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy, cô giáo trong khoa
Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên trong nhóm khóa luận đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2016
Sinh viên thực hiện
HS
Học sinh
NXB
Nhà xuất bản
NLXH
Nghị luận xã hội
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TP
1.4. Cơ sở thực tiễn.............................................................................................15
1.4.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một hiện
tượng đời sống” ở trường THPT ....................................................................15
1.4.2. Đánh giá chung .....................................................................................19
CHƯƠNG 2. DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI
SỐNG KẾT HỢP VỚI HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC
NHẬN THỨC .......................................................................................................20
2.1. Mục đích của việc dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” .........20
2.2. Bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” trong SGK Ngữ văn 12 ........20
2.2.1. Cấu trúc bài học....................................................................................20
2.2.2. Những kiến thức và kỹ năng cần đạt trong bài “Nghị luận về một hiện
tượng đời sống” ..............................................................................................21
2.3. Cơ sở của việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức con người học
sinh trong bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” ....................................24
2.4. Xác định nội dung kiến thức có thể rút ra bài học nhận thức cho học sinh
THPT trong giờ “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”.................................25
2.4.1. Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi phân tích ngữ liệu ............. 25
2.4.2. Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi liên hệ bản thân ................ 28
2.4.3. Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi thực hiện các bài luyện tập .......... 29
2.5. Quy trình dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” có kết hợp việc
hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức .....................................................32
2.5.1. Sử dụng câu hỏi để kiểm tra bài cũ ...................................................... 33
2.5.2. Giới thiệu bài mới ................................................................................. 34
2.5.3. Hướng dẫn học sinh tham gia bài học thông qua hệ thống câu hỏi ..... 35
2.5.4. Hướng dẫn học sinh rút ra kết luận ...................................................... 37
2.5.5. Thực hành ............................................................................................. 37
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ......................................................40
3.1. Mục đích thực nghiệm .................................................................................40
IX, Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã đánh giá một trong những mặt hạn chế
yếu kém trong lĩnh vực giáo dục như sau: Trong sự nghiệp giáo dục toàn diện dạy
làm người và dạy nghề là yếu kém nhất, giáo dục về lý tưởng sống, phẩm chất đạo
đức yếu. HS thiếu hiểu biết về truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc của Đảng về
quyền lợi nghĩa vụ công dân, chất lượng giáo dục còn buông lỏng, nhất là giáo dục
đạo đức lối sống của HS, sinh viên có nhiều biểu hiện rất đáng lo ngại. Nhà tâm lý
học Vũ Kim Thanh từng cho rằng: Nếu không có sự quan tâm đúng mức, chúng ta
sẽ mất cả một thế hệ. Nhận định trên đã khẳng định việc giáo dục đạo đức HS thông
1
qua các môn học trong nhà trường là cần thiết. Vì thế, bên cạnh việc trang bị cho
HS hệ thống kiến thức và những kỹ năng cơ bản, GV còn phải quan tâm tới việc
hướng dẫn các em biết rút ra những bài học nhận thức đã học để ứng dụng trong
cuộc sống hàng ngày. Với những nội dung kiến thức có tính thực tiễn cao như
NLXH, trong quá trình dạy học, GV có thể phối hợp cung cấp kiến thức, kỹ năng và
cả giáo dục HS thông qua những bài học nhận thức.
1.3. Khi dạy học, GV phải hướng tới ba nhiệm vụ cơ bản là kiến thức, kỹ
năng và thái độ. Đó cũng là tiền đề để hình thành và phát triển năng lực người học.
Vì thế, chúng ta cần tìm ra những hình thức để giáo dục thái độ, nhận thức cho HS
trong từng bài học, từng nội dung học tập giúp các em trở thành những con người
không chỉ có tài mà còn có cả đức, để các em trưởng thành và là người có ích cho
xã hội.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học
sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ học Nghị luận về một hiện tượng đời
sống”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống”
Bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ cuộc
trình Ngữ văn Trung học cơ sở cũng chỉ ra cách phân loại căn cứ vào nội dung bài
học sẽ có các loại sau: nghị luận chính trị (đề tài là các vấn đề chính trị), nghị luận
xã hội (đề tài là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (đề tài là các vấn đề đạo đức,
nhân sinh quan), nghị luận văn học (đề tài là các vấn đề trong văn học)… Ở đây, tác
giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức thành kiểu bài riêng không nằm trong NLXH
như các tác giả trong cuốn Làm văn. Dù phân chia như vậy, song các tác giả cũng đã đề cập
đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu bài và đặc trưng cơ bản của NLXH.
Trong cuốn Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận của Bảo Quyến, tác giả cũng đã
bàn về văn nghị luận. Theo Bảo Quyến, văn nghị luận cũng được phân làm hai loại:
3
Nghị luận văn học và NLXH. Trong văn NLXH lại bao gồm nhiều dạng khác nhau như:
Nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận về một hiện tượng đời sống… Tuy nhiên, cuốn sách
này cũng chưa bàn luận nhiều tới việc dạy học văn nghị luận, trong đó có nghị luận về một
hiện tượng đời sống. Cũng bàn đến phương pháp dạy học kiểu bài nghị luận, trong
cuốn Hướng dẫn chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn, các tác giả đã nêu ra quy
trình dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống. Theo đó, quy trình dạy học
kiểu bài này gồm các bước (Bước 1: Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu đề bài; Bước 2:
Tìm ý và lập dàn ý; Bước 3: Xây dựng dàn ý; Bước 4: HS thảo luận để rút ra cách
làm và sau đó đọc phần Ghi nhớ; Bước 5: Luyện tập thực hành).
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về văn nghị
luận nói chung và nghị luận về một hiện tượng đời sống nói riêng. Đa phần các
công trình nghiên cứu đó mới chỉ đề cập đến các bước làm bài nghị luận về một
hiện tượng đời sống hay những cách hiểu chung chung về kiểu bài này. Trong khi
đó, việc giáo dục đạo đức HS nhằm mục đích giáo dục HS cả về kiến thức, kỹ năng
và thái độ giúp các em có sự phát triển toàn diện cả về nhận thức và nhân cách
dường như chưa được chú trọng.
2.2. Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một hiện tượng đời
sống” có kết hợp với việc hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức
hợp kiến thức và kỹ năng để tạo lập văn bản. Đây chính là những gợi dẫn để chúng
tôi triển khai đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến các mục đích sau:
- Hệ thống những cơ sở khoa học khi dạy học một nội dung kiến thức trong
chương trình Ngữ văn THPT có hướng tới việc giáo dục HS thông qua những bài
học nhận thức.
- Bước đầu đề xuất những hình thức hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức
nhằm giáo dục nhân cách các em.
5
- Góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động dạy học bài
Nghị luận về một hiện tượng đời sống đạt hiệu quả.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận tập trung vào những
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổng hợp những tri thức cơ bản về bài học nhận thức, về nghị luận xã hội.
- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Nêu ra cách vận dụng những kiến thức để giáo dục con người HS trong giờ
Nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Bước đầu kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất được nêu ra.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tập trung tìm hiểu cách hướng dẫn HS rút ra những bài học nhận
thức trong giờ học làm văn nghị luận xã hội nhằm mang tới cho các em những hiểu
biết, những suy nghĩ, nhận thức để hình thành những con người có ích cho xã hội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Chương 2. Dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống kết hợp với
hướng dẫn học sinh rút ra bài học nhận thức
- Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Những vấn đề chung về bài học nhận thức
Trong quá trình giáo dục, mỗi môn học có nhiệm vụ giáo dục con người HS
ở những phương diện cụ thể. Theo đó, khi tiến hành hoạt động dạy học, dựa vào các
nội dung học tập mà GV hướng dẫn HS tìm ra những bài học nhận thức cho cuộc
sống. Đây là một việc làm quan trọng bởi bài học nhận thức là điều kiện cần thiết để
giúp các em phát triển thái độ và nhân cách bản thân, biết đánh giá đúng mình trong
mối quan hệ với con người và môi trường xung quanh. Thông qua bài học nhận
thức, HS có cơ hội khám phá và phát triển kinh nghiệm thiết yếu nhằm phục vụ cho chính
cuộc sống của các em. Vậy, thế nào là bài học nhận thức trong quá trình giáo dục? Hiểu
một cách đơn giản nhất, bài học nhận thức chính là những bài học, những tri thức cụ
thể được rút ra sau một quá trình chiếm lĩnh tri thức. Thông qua hoạt động nhận
thức của chủ thể HS, các em rút ra được những kinh nghiệm, những hiểu biết về
thực tế cuộc sống. Qua đó các em biết nhìn nhận, biết tự đánh giá về bản thân trong
các mối quan hệ về xã hội. Như vậy, có thể nói trong quá trình giáo dục, việc hướng
dẫn HS rút ra bài học nhận thức là một hoạt động cơ bản, giúp con người có điều
kiện để hình thành và phát triển nhân cách bản thân. Muốn việc làm này đạt hiệu
quả, khi hướng dẫn HS rút ra bài học nhận thức, GV đóng vai trò vô cùng quan
trọng. GV phải là những người nhiệt huyết, cởi mở, biết lắng nghe những tâm sự và
mong muốn của HS.
sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân ở các phương diện như môi
trường tự nhiên, môi trường gia đình, môi trường xã hội (đặc biệt là nhóm và tập
thể). Trong đó, gia đình là môi trường đầu tiên có vai trò định hướng tới nhân cách
của con người.
9
Thứ tư, giáo dục. Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của cá nhân. Thông qua hoạt động giáo dục, cá nhân được tác
động có mục đích, có phương pháp và có kế hoạch để thay đổi theo những chuẩn
mực, giá trị xã hội quy định. Tuy nhiên, giáo dục không phải là chiếc chìa khóa vạn
năng có thể mở mọi cánh cửa đã bị khóa chặt. Muốn phát triển nhân cách, khả năng
tự giáo dục cũng là yếu tố quan trọng.
Thứ năm, hoạt động của cá nhân. Loài người phát triển, hoàn thiện và tiến hóa
như hiện nay chủ yếu nhờ vào hoạt động. Có thể nói, hoạt động là phương thức tồn
tại của loài người, nó cũng là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát
triển nhân cách của từng cá nhân. Không chỉ có vậy, nó còn phản ánh tính tích cực
trong nhân cách con người. Vì thế, để hoàn thiện về nhân cách, cá nhân phải tích
cực, chủ động tham gia các hoạt động của nhóm và cộng đồng.
Trong quá trình phát triển nhân cách con người HS, giáo dục nhận thức và đạo
đức HS có ý nghĩa không nhỏ. Nó giúp cho HS từ những tri thức khoa học cơ bản,
biết vận dụng vào quá trình tự suy nghĩ, đánh giá đúng sai, phải trái, biết soi lại
mình và cũng biết bày tỏ những tâm tư tình cảm của mình. Từ đó, các em sẽ tự điều
chỉnh hành vi, cách cư xử sao cho đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với
người khác, biết hướng cuộc sống của mình vào những mục tiêu cao cả.
Làm văn là một phần kiến thức và kỹ năng quan trọng, HS được học từ Tiểu
học đến THPT. Bản chất của Làm văn là giúp cho HS biết cách tạo lập những kiểu
văn bản mà con người thường sử dụng trong đời sống hàng ngày. Theo đó, khi trình
bày những vấn đề của cuộc sống, con người cũng cần phải biết thể hiện những suy
tâm lý, sinh lý và khả năng tư duy trừu tượng, khả năng khái quát cao. Không chỉ
vậy, khả năng độc lập vận dụng những hiểu biết của bản thân vào giải quyết các vấn
đề của cuộc sống cũng được các em phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc
hướng dẫn các em rút ra những bài học nhận thức khi học Làm văn NLXH.
11
1.3. Những cơ sở lí luận của nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.3.1. Khái niệm nghị luận về một hiện tượng đời sống
Xung quanh chúng ta hàng ngày có biết bao chuyện, sự việc hoặc hiện tượng
tốt, xấu xảy ra. Trước những hiện tượng đời sống ấy, con người luôn đưa ra những
lời bàn luận, đánh giá nhằm mục đích nhận thức và phản ánh được sự vật, hiện
tượng trong đời sống khách quan. Khi bàn luận, dù người nói (người viết) bàn luận
về vấn đề nào thì chúng cũng thuộc kiểu văn bản NLXH về một hiện tượng đời
sống. Như vậy, hiểu một cách khái quát, nghị luận về một hiện tượng đời sống là
một dạng bài sử dụng phương thức lập luận nhằm bàn định các vấn đề về hiện
tượng đời sống để cho người đọc (người nghe) hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu để đồng
tình hay phản đối trước những hiện tượng đó. Nói cách khác, nghị luận về một hiện
tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội. Sự việc,
hiện tượng đó có thể là đáng khen, đáng chê hay có vấn đề cần suy nghĩ. Ví dụ sau
đây chính là một văn bản nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Bệnh lề mề
Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người đều thấy,
nhưng thường bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc là một biểu hiện
[...] Cuộc sống văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tôn trọng lẫn nhau và hợp
tác với nhau. Những cuộc họp không thật cần thiết thì không nên tổ chức. Nhưng
những cuộc họp cần thiết thì mọi người cần tự giác tham dự đúng giờ. Làm việc
đúng giờ là tác phong của người có văn hoá.
(Theo phụ lục 1, Phương Thảo - Theo SGK Ngữ văn 9, tập 2, Tr. 20, NXB Giáo dục)
quốc, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu Á về mức độ ô
nhiễm bụi.
(Theo phụ lục 2, Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Bài viết trên đây đã bàn về một hiện tượng đang được mọi người trong xã
hội quan tâm, đó là: Ô nhiễm môi trường sinh thái. Cụ thể, tác giả bài viết đã chỉ rõ
thực trạng ô nhiễm môi trường sinh thái là do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt
của con người gây ra. Từ việc chỉ rõ nguyên nhân, tác giả bài viết cũng đã nêu ra
những tác hại của việc ô nhiễm môi trường ấy gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất
lượng cuộc sống của con người. Qua ví dụ trên, ta có thể nhận thấy phạm vi bàn
13
luận của nghị luận về một hiện tượng đời sống là rất rộng rãi. Tất cả những vấn đề,
hiện tượng trong đời sống hàng ngày đều được đem ra nghị luận, dù là tốt hay xấu,
dù là đúng hay sai, dù là lợi hay hại…
1.3.2.2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính thực tế, tính thời sự
Nghị luận về một hiện tượng đời sống có đề tài hết sức rộng rãi. Đó là tất cả
các vấn đề, hiện tượng luôn tồn tại và diễn ra trong đời sống hàng ngày. Vì thế có
thể nói, nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính thực tế cao. Trong bài
Thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta hiện nay, người viết đã bàn về một thực tế
đang diễn ra phổ biến trên toàn cầu - hiện tượng ô nhiễm môi trường sinh thái. Đây
là hiện tượng không hề xa lạ với mỗi người trong chúng ta. Hàng ngày, hàng giờ
mỗi chúng ta đều chứng kiến hiện tượng ô nhiễm môi trường do ảnh hưởng từ hoạt
động sản xuất và sinh hoạt của con người. Bàn về vấn đề này, tác giả đã chỉ rõ đối
tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các
khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn: những số liệu
cụ thể, những khu vực ô nhiễm có mức độ ô nhiễm cao... được tác giả nêu ra cho
thấy biểu hiện và mức độ ô nhiễm môi trường hiện nay. Không chỉ có vậy, tác giả
đủ thấy tiêu đề bài viết mà tác giả đưa ra là hoàn toàn xác thực. Sau nữa, tác giả tiếp
tục chứng minh ý kiến đó bằng những dẫn chứng cụ thể: khoảng hai tỉ người đang
thiếu nước ngọt, lượng nước có hạn trong khi nhu cầu về nước ngày càng tăng cao,
tỉ lệ thuận với sự phát triển của xã hội. Từ những con số thống kê hết sức cụ thể,
những dẫn chứng được lấy từ thực tế, ta có thể khẳng định đây là một văn bản nghị
luận giàu sức thuyết phục, mang tính thực tế rõ rệt.
1.4. Cơ sở thực tiễn
1.4.1. Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một hiện
tượng đời sống” ở trường THPT
1.4.1.1. Điều tra, thăm dò, dự giờ GV
Để đánh giá đúng thực tế dạy học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống,
chúng tôi tiến hành thăm dò, điều tra, dự giờ GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn.
Cụ thể:
Phát phiếu thăm dò ý kiến GV
15
Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua các phiếu
thăm dò. Phiếu điều tra gồm 10 phiếu, được phát cho GV tổ Văn, trường THPT Lí
Thường Kiệt - Long Biên - Hà Nội (Nội dung phiếu theo phụ lục 4). Sau khi tiếp
nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi nhận thấy:
Câu 1. Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan
trọng của bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống, song đa số các ý kiến đó vẫn có
những quan điểm chung cho rằng: Bài học Nghị luận về một hiện tượng đời sống
ngoài việc truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng còn có tầm quan trọng đặc
biệt. Nó hình thành cho HS những hiểu biết cơ bản về thực tế cuộc sống, rút ra được
những bài học cần thiết để hình thành và phát triển nhân cách, giúp các em có lối
sống lành mạnh, có được những cách ứng xử thông minh trong từng trường hợp của
đời sống, xã hội.
đạt hiệu quả.
Dự giờ GV
Bên cạnh việc phát phiếu thăm dò ý kiến GV, chúng tôi cũng tiến hành dự
giờ bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống tại lớp 12A2 trường THPT Lí Thường
Kiệt (Long Biên - Hà Nội). Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy: Nhìn chung, GV đã áp
dụng đúng theo quy trình dạy học một giờ dạy Làm văn, đồng thời cũng từng bước
thay đổi các hoạt động dạy học nhằm hướng tới mục đích rèn luyện kỹ năng và phát
triển năng lực cho HS. Cũng vì thế, trong giờ học, GV đã tổ chức các hình thức học
tập đa dạng, ít nhiều đã tạo điều kiện để HS có những hoạt động trải nghiệm và từng bước
hướng dẫn HS sáng tạo khi tạo lập văn bản nghị luận. Tuy nhiên, GV còn quá khô cứng
trong việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Làm văn, điều đó gây khó khăn không
nhỏ trong việc giáo dục kiến thức, kỹ năng cũng như con người HS.
1.4.1.2. Điều tra, khảo sát đối tượng HS
17
Bên cạnh việc thăm dò, khảo sát ý kiến của GV, chúng tôi cũng tiến hành
thăm dò thái độ, ý kiến của HS - chủ thể trung tâm của quá trình dạy học. Đối tượng
được điều tra, khảo sát là HS lớp 12, trường THPT Lí Thường Kiệt (Long Biên - Hà
Nội). Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ, không khí học tập, kết quả học tập
trước và trong quá trình GV dạy bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống để có cơ
sở đối chiếu. Phiếu điều tra gồm 50 phiếu, được phát cho HS trường THPT Lí
Thường Kiệt - Long Biên - Hà Nội (Nội dung phiếu theo phụ lục 5). Với các CH
trong phiếu, chúng tôi nhận thấy:
Câu 1. Ở CH này, đa số các em trả lời rằng chưa thực sự thích học văn và
đặc biệt là Làm văn bởi các em nhận thấy học phân môn này khô khan, máy móc, phải vận
dụng nhiều kỹ năng tạo lập văn bản. Viết bài là việc làm mà nhiều em thấy không thích thú.
Câu 2. Bước đầu đã có một số HS có hứng thú với bài học Nghị luận về một
hiện tượng đời sống. Điều này thể hiện trực tiếp qua việc các em rất hăng hái xây