VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TIẾN DŨNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO
CHUỖI TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hà Nội, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG TIẾN DŨNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO
CHUỖI TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số:60 34 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ ANH VŨ
Hà Nội, 2017
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO CHUỖI ........................................................ 9
1.1. Khái niệm và sự cần thiết phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi 9
1.2. Nội dung phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi ........................ 14
1.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi . 20
1.4. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi và bài học rút
ra cho huyện Ba Vì .......................................................................................... 25
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG
THEO CHUỖI TẠI HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...................... 30
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hƣởng đến phát triển nông nghiệp
định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba Vì .......................................................... 30
2.2. Thực trạng phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi huyện Ba Vì 38
2.3. Đánh giá thực trạng .................................................................................. 56
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP ĐỊNH HƢỚNG THEO CHUỖI Ở HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................................................... 61
3.1. Bối cảnh mới phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba
Vì thành phố Hà Nội ....................................................................................... 61
3.2. Một số quan điểm phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi ở huyện
Ba Vì................................................................................................................ 66
3.3. Các giải pháp thúc đẩy Phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại
huyện Ba Vì thành phố Hà Nội ....................................................................... 66
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 76
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu 2.1. Sự thay đổi về tăng trƣởng kinh tế huyện giai đoạn 2012 – 2016 .. 33
Bảng 2.1. Vùng chuyên canh tập trung theo chuỗi huyện Ba Vì .................... 43
Bảng 2.2. Số lƣợng các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì giai
đoạn 2012 – 2016 ............................................................................................ 45
của Hà Nội trở thành thành phố thông minh, hiện đại và đặc biệt là thành phố
một trung tâm cung cấp thực phẩm xanh, sạch cho thị trƣờng nội thành. Chính
vì vậy, hiện nay Ba Vì đang xây dựng và phát triển khá nhiều mô hình sản
1
xuất nông nghiệp xanh, nhƣng còn nhiều khó khăn, hạn chế và thách thức rất
lớn. Đó là đất sản xuất nông nghiệp manh mún, đất đai phân tán, chia cắt
thành nhiều khu vực; ngành trồng trọt còn chiếm tỷ lệ khá cao trong đó chủ
yếu là cây lƣơng thực. Các loại nông sản hàng hóa nhƣ: lúa gạo, ngô, khoai,
rau, cây ăn quả, thịt lợn, thịt bò, chƣa có giá trịcao, chƣa trở thành đặc sản
quý hiếm. Trong khí đó, huyện chƣa tìm đƣợc chiến lƣợc đầu tƣ đồng bộ, gắn
chặt chẽ các khâu sản xuất, chế biến và thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, nên sản
xuất thiếu tính ổn định, bị động và hiệu quả kinh tế hạn chế.
Những lúng túng và chƣa hình thành rõ nét trong việc tạo ra các vùng
sản xuất hàng hóa tập chung theo cơ chế thị trƣờng đã hạn chế và chƣa phát
huy hết các tiềm năng, và lợi thế so sánh của huyện, do vậy thu nhập ngƣời
lao động còn thấp, đa số các hộ dân chƣa có tích lũy để tái đầu tƣ.
Từ những hạn chế nêu trên dẫn đến sức cạnh tranh của các sản phẩm từ
nông nghiệp chƣa cao, nhiều các nhà hàng, khách sạn, siêu cũng nhƣ ngƣời
dân ở ngay Ba Vì chƣa biết đến sản phẩm nông nghiệp tại địa phƣơng; đầu ra
của sản phẩm chƣa tạo đƣợc niềm tin cho ngƣời tiêu dùng, do vậy nhiều hộ
nông dân không an tâm đầu tƣ vào sản xuất; việc cung ứng ra thị trƣờng còn
manh mún nhỏ lẻ; chất lƣợng chƣa thực sự đảm bảo theo yêu cầu, tiêu chuẩn
đề ra. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên, song nguyên nhân
chủ yếu là việc liên kết giữa các khâu trong sản xuất nông nghiệp, giữa nông
dân với nông dân, giữa nông dân với ngƣời tiêu dùng trên địa bàn cũng nhƣ
ngoài địa còn hạn chế. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên hiện nay Ba Vì cũng
đã hình thành đƣợc một số chuỗi sản phẩm nhƣ chuỗi gà đồi, chuỗi chè Ba Vì,
quốc tế, đây là cơ hội để nông nghiệp phát triển theo hƣớng lấy thị trƣờng
toàn cầu làm căn cứ để phát triển.
Một trong những nghiên cứu mới nhất về phát triển nông nghiệp của
các tỉnh miền Trung, luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh
3
KonTum” (2007) của Hà Ban cho rằng “nông nghiệp và nông thôn bền vững
là một nhân tố của phát triển bền vững” [1], và sự bền vững ở đây theo khái
niệm kinh tế chỉ mối quan hệ ổn định và cân đối giữa sản xuất nông nghiệp
và tiêu dùng.
Theo Sykuta và Parcell (2003), sản xuất theo hợp đồng trong
nông nghiệp đƣa ra những luật lệ cho việc giao dịch nông sản qua việc phân
bổ thật rõ ba yếu tố chính: lợi ích, rủi ro, và quyền quyết định. Thực hiện
nông nghiệp hợp đồng là hệ giải pháp dựa trên bằng chứng thực tiễn là nông
dân thiệt thòi trong quan hệ với doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp thu
mua. Hệ giải pháp thực hiện nông nghiệp hợp đồng mang tính đồng thuận
giữa nông dân, doanh nghiệp và những ngƣời quản lý ở các địa phƣơng có các
vùng chuyên canh [12].
Somuah và các cộng sự (2013) đã phân tích liên kết ở cấp độ vĩ mô
trong thực thi chính sách nông nghiệp và phát triển cụm ngành công nghiệp
chế biến dựa trên bản đồ hóa các chuỗi giá trị và cho rằng, sự gắn kết giữa các
lãnh thổ để hỗ trợ cho chuỗi sản xuất lúa gạo chƣa đƣợc thiết lập. Sự cắt xẻ
giữa các vùng nông nghiệp với các doanh nghiệp chế biến cũng làm cho việc
giảm sút mức độ tiếp cận dinh dƣỡng từ những sản phẩm chế biến đa dạng
khác và nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp của Ghana [12].
Vấn đề phát triển nông nghiệp đã đƣợc nhiều các nhà nghiên cứu quan
tâm, quan tổng quan tình hình nghiên cứu trên, đề tài nhận thấy:
Về kết quả:Các đề tài đã hệ thống hóa đƣợc một số lý luận liên quan
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba
Vì thành phố Hà Nội
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nông nghiệp là một ngành có phạm vi rất rộng, gồm
nhiều ngành sản xuất các sản phẩm khác nhau tạo nên sự đa dạng của nông
5
nghiệp nhiệt đới.Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung
nghiên cứu các vấn đề phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi của
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Chuỗi trong nghiên cứu này hiểu là chuỗi sản
phẩm
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Ba Vì, Hà Nội.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp định hƣớng
theo chuỗi tại huyện Ba Vì thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016, đề xuất
giải pháp thúc đẩy phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi tại huyện Ba
Vì thành phố Hà Nội giai đoạn 2018-2025.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phƣơng pháp nghiên cứu chung xuyên suốt cả đề tài là phƣơng pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Áp dụng
phƣơng pháp này để nhìn nhận và phân tích các sự việc hiện tƣợng trong quá
trình vận động tất yếu của quá trình phát triển nông nghiệp định hƣớng theo
chuỗi
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu, tài liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu, báo cáo của UBND huyện
Ba Vì, UBND các xã khảo sát, các phòng ban có liên quan của huyện Ba Vì
Đề tài phỏng vấn trực tiếp 10 ngƣời: 02 chủ doanh nghiệp; 02 kỹ sƣ; 02
cán bộ quản lý huyện Ba Vì và 04 hộ nông dân tham gia sản xuất theo chuỗi.
Mẫu phiếu phỏng vấn (Phụ lục 2).
- Kết quả khảo sát: Tổng số phiếu khảo sát hợp lệ là 186/200 (Chiếm
93%)
5.2.3. Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phần mềm Excel để xử
lý số liệu.
7
- Phương pháp thống kê so sánh : Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng chủ yếu
để mô tả, phân tích và so sánh kết quả thực hiện liên kết giữa các chủ thể thông
qua các chỉ tiêu định tính (các hình thức liên kết, trách nhiệm và lợi ích của các
bên...) và định lƣợng (thời gian tham gia liên kết, tỷ lệ tham gia liên kết...).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Luận văngóp phần làm rõ lý luận về vấn đề phát triển nông nghiệp định
hƣớng theo chuỗi.
Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc khuyến nghị các giải pháp
thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo chuỗi.Luận văn là tài liệu tham khảo cho
các nhà quản lý, các viện nghiên cứu và trƣờng đại học.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng
biểu, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài kết cấu thành 3
chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp định hƣớng theo
chuỗi
nói chung, chuỗi nông sản nói riêng theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau và
có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Filière (2005), khái niệm chuỗi sản phẩm đƣợc nhận thức chủ yếu
bằng kinh nghiệm thực tế và đƣợc sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động
của hàng hóa và xác định những ngƣời tham gia vào các hoạt động.
9
Theo GTZ Eschborn (2007), chuỗi sản phẩm là một loạt các hoạt động
kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị
đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó; đến sơ chế, chuyển đổi, marketing,
cuối cùng là bán sản phẩm đó cho ngƣời tiêu dùng, hay chuỗi sản phẩm là
một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức
năng chủ yếu của mình để sản xuất, chế biến và phân phối một sản phẩm cụ
thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch
sản xuất và kinh doanh, trong đó sản phẩm đƣợc chuyển từ tay nhà sản xuất,
sơ chế ban đầu đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Ganeshan và cộng sự cho rằng chuỗi sản phẩm là một mạng lƣới các
lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua
nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và
phân phối chúng đến ngƣời tiêu dùng.
Tác giả Christopher cho rằng chuỗi sản phẩm là mạng lƣới của những
tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngƣợc và xuôi theo
những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng
sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng, bao gồm mọi hoạt động liên quan đến
việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ
nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng.
Theo các quan điểm nêu trên, về cơ bản chuỗi sản phẩm nói chung hay
chuỗi nông sản nói riêng hình thành trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể; do
nghệ phù hợp, có hiệu quả về kinh tế, không tổn hại đến môi trường và được
xã hội chấp nhận nhằm đảm bảo duy trì và thỏa mãn nhu cầu của con người
cả thế hệ hiện tại và tương lai”.
1.1.2. Sự cần thiết của phát triển nông nghiệp định hướng theo chuỗi
Thứ nhất, hiện nay, sản xuất và kinh doanh hàng nông sản của nƣớc ta
còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, sự liên kết giữa sản xuất - kinh doanh - chế
11
biến - tiêu thụ còn lỏng lẻo từ đó sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản thấp,
giá thành cao. Bên cạnh đó nông nghiệp hiện nay dƣới tác động của kinh tế
thị trƣờng, ngƣời dân đã biết kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với khoa
học kỹ thuật hiện đại trong canh tác, tạo nên sự đa dạng về chủng loại, gia
tăng sản lƣợng và giá trị kinh tế. Thế nhƣng, một thực tế là, càng tăng sản
lƣợng nông sản, ngƣời dân lại càng lo tình trạng “đƣợc mùa rớt giá” vì không
tự quyết định đƣợc đầu ra cho sản phẩm. Chính vì vậy việc phát triển nông
nghiệp định hƣớng theo chuỗi trở thành tất yếu nhằm nâng cao chất lƣợng
hàng hóa, giảm giá thành sản phẩm từ đó tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm
nông nghiệp.
Thứ hai, nâng cao liên kết giữa sản xuất - kinh doanh - chế biến -tiêu
thụ tạo thị trƣờng tiêu thụ ổn định không chỉ trong phạm vi trong nƣớc mà
còn mở rộng ra thị trƣờng quốc tế. Sự thay đổi quản lý trong nông nghiệp nay
với yêu cầu cao hơn về chất lƣợng, hiệu quả là yếu tố thúc đẩy phát triển nông
nghiệp định hƣớng theo chuỗi.
Thứ ba, trong các chuỗi cung ứng sản phẩm nông sản luôn tồn tại các
mâu thuẫn do sự bất cân xứng giữa cung và cầu. Liên kết phát triển chuỗi
cung ứng nông sản là rất cần thiết, bởi vì liên kết phát triển chuỗi cung ứng
không chỉ giải quyết đƣợc làm thế nào các thành viên trong chuỗi chia sẻ
trách nhiệm và lợi ích thu đƣợc từ việc cải thiện lợi ích chung, mà còn giải
các “nhà” còn lại còn lúng túng và hiệu quả chƣa cao. Nhất là việc liên kết
với ngƣời nông dân để “xã hội hóa” các công nghệ hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp, là “đầu tàu”, là động cơ của mối liên kết. Doanh
nghiệp giữ vai trò quan trọng liên kết 3 nhà còn lại để hình thành vùng
nguyên liệu sản xuất; hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm cho nông dân; từng
bƣớc tiến tới xây dựng thƣơng hiệu sản phẩm nông sản. Tuy nhiên, hiện nay
các doanh nghiệp đang còn ngần ngại đầu tƣ cho sản xuất, kinh doanh nông lâm - ngƣ nghiệp do vốn đầu tƣ lớn nhƣng lại rủi ro cao và thu hồi chậm.
13
Đối với nông dân,đây là bộ phân tham gia trực tiếp vào quá trình sản
xuát nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi, họ sẽ thực thi những chính sách của
Nhà nƣớc, áp dụng khoa học công nghệ và bán sản phẩm cho các doanh
nghiệp. Đồng thời một bộ phận nông dân còn hạn chế trong nhận thức về
trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật nên họ rất dễ vi phạm hợp
đồng trong quá trình liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhiều hộ nông
dân mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tƣ ứng trƣớc của doanh nghiệp, nhƣng khi
giá nông sản trên thị trƣờng lên cao thì lại sẵn sàng bán cho tƣ thƣơng hoặc
doanh nghiệp khác để hƣởng giá cao hơn.
1.2. Nội dung phát triển nông nghiệp định hƣớng theo chuỗi
1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hướng chuỗi
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo định hƣớng phát triển các
sản phẩm nông nghiệp đặc thù có giá trị gia tăng cao dựa trên sự liên kết trong
chuỗi sản phẩm. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là sự chuyển dịch
vai trò, vị trí và tỷ lệ hợp thành của các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong sản
xuất nông nghiệp theo hƣớng hợp lý nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế, xã hội
cao. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hiện đại là chuyển
sang cơ cấu có khả năng tái sản xuất mở rộng, khai thác đƣợc lợi thế so sánh,
lấy thị trƣờng và thị phần quốc tế làm căn cứ, tăng những ngành có giá trị gia
dựng vùng chuyên canh phải xuất phát từ nhu cầu của thị trƣờng; phát triển hạ
tầng nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo điều kiện cho lƣu thông nông sản, hạ
chi phí sản xuất và giao dịch; phát triển hệ thống công nghiệp và dịch vụ liên
kết với nông nghiệp.
1.2.2. Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tham gia vào chuỗi
Tổ chức sản xuất trong nông nghiệp là việc phối hợp các nguồn lực,
điều kiện của sản xuất nông nghiệp thông qua việc thiết lập các hình thức
kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của sản xuất nông
nghiệp. Phát triển có tổ chức sản xuất nông nghiệp, chính là phát triển các
15
hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với qui mô và trình độ sản xuất nông
nghiệp nhằm không chỉ tạo ra sản lƣợng cao mag còn đem lại giá trị kinh tế
cao của nông sản sản xuất ra. Các hình thức tổ chức sản xuất phổ biến trong
sản xuất nông nghiệp là hình thức tổ chức sản xuất của hộ nông dân và trang
trại. Ngoài ra, còn có các hình thức hợp tác xã và các doanh nghiệp sản xuất
nông nghiệp. Dù đƣợc tổ chức dƣới hình thức sản xuất nào thì các đơn vị sản
xuất trong nông nghiệp không thể đạt hiệu quả kinh tế nếu không hợp tác và
liên kết kinh tế. Hiện có hai mô hình liên kết đƣợc xem là tiến bộ đối với các
nông hộ và các đơn vị sản xuất nông nghiệp là liên kết ngang và liên kết dọc.
Liên kết dọc thể hiện sự liên kết giữa nông hộ và trang trại với các đối tác trên
chuỗi cung ứng. Còn liên kết ngang là sự liên kết của cá nông hộ và trang trại
nhằm tạo ra các vùng chuyên canh để thực hiện đƣợc các đơn hàng lớn.
Sản xuất nông nghiệp truyền thống chủ yếu theo phƣơng thức sản xuất
ra sản phẩm, sau đó cung cấp cho thị trƣờng thu lợi nhuận và quay lại đầu tƣ
mở rộng sản xuất. Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hƣớng tham gia vào
chuỗi chính là tổ chức lại sản xuất nông nghiệp từ nông nghiệp truyền thống
chuyển sang nông nghiệp theo chuỗi tức là tạo ra chuỗi liên kết các khâu từ
nông nghiệp gồm giao thông thủy lợi nội đồng, giao thông nông thôn, hệ
thống điện, nhà lƣới, sân phơi, lò xấy …; các hoạt động logistics gắn liền với
hoạt động sản xuất kinh doanh nông sản.
Sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, năng suất và chất lƣợng
sản phẩm thấp... khiến việc phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Ứng
dụng khoa học trong nông nghiệp là “chìa khóa” để thực hiện thành công
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào nông nghiệp đƣợc xem là đem lại những hiệu quả thiết thực và ngày càng
thể hiện đƣợc ƣu thế vƣợt trội so với sản xuất nông nghiệp truyền thống.Ứng
dụng công nghệ cao giải quyết phần nào những khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp. Thế nhƣng ngƣời nông dân vẫn còn lo ngại đầu tƣ công nghệ cao vào
17
sản xuất nông nghiệp. Bởi họ sợ rủi ro trong quá trình sản xuất, cũng nhƣ khi
áp dụng công nghệ cao sẽ giúp nâng cao sản lƣợng, nhƣng ngƣời nông dân sẽ
bán sản phẩm ở đâu khi mà thông tin về thị trƣờng tiêu thụ họ không nắm
đƣợc.
Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất nông nghiệp công cao là một định
hƣớng đúng đắn, đƣợc Đảng, Nhà nƣớc quan tâm chỉ đạo và ban hành nhiều
cơ chế, chính sách đặc thù, thu hút đầu tƣ vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao. Việc xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao, phát triển toàn diện ngành theo hƣớng sản xuất hàng hóa lớn, có sức
cạnh tranh cao, thân thiện với môi trƣờng và thích ứng với biến đổi khí hậu,
đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn.
1.2.4. Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp
Xây dựng, nâng cấp hệ thống các công trình phục vụ nông nghiệp nhƣ
hệ thống điện, giao thông, thủy lợi… nhằm phục vụ tốt cho việc sản xuất
đó tại một địa bàn nhất định và trong một thời kỳ nhất định. Để đáp ứng nhu
cầu thị trƣờng và xã hội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nông nghiệp
không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nƣớc mà cả cho xuất khẩu nông sản; không
chỉ sản xuất đủ sản lƣợng mà phải nâng cao chất lƣợng, đa dạng hóa sản
phẩm; không chỉ cung ứng nông sản đòi hỏi phải kịp thời, không chỉ trong
ngắn hạn mà phải ổn định dài hạn. Để đạt đƣợc điều này việc hình thành các
chuỗi sản phẩm nông sản đóng vai trò quyết định. Chuỗi sản phẩm đƣợc xem
nhƣ là chuỗi cung cấp nhằm liên kết chặt chẽ từ ngƣời sản xuất, ngƣời thu
mua, ngƣời chế biến, ngƣời bán buôn, ngƣời bán lẻ và đến ngƣời tiêu dùng
cuối cùng với chi phí thấp nhất.
Điểm đáng chú ý, trong sản xuất, chuỗi cung ứng trong tiêu thụ nông
sản ngày càng đƣợc quan tâm hơn. Vùng nông thôn đã từng bƣớc hình thành
tổ chức sản xuất đa dạng nhƣ doanh nghiệp, kinh tế hợp tác, trang trại, làng
19