phân tích đánh giá quá trình xây dựng hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam - Pdf 45

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Biển Đông là một phần không thể thiếu của Việt Nam. Việt Nam có m ột quá
trình xây dựng và làm chủ các vùng biển thuộc chủ quyền lâu dài cùng quá
trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Ngày nay việc xác định và quy chế các
vùng biển trở nên ngày càng quan trọng trong lúc xung đột về lợi ích và pháp lí
về các vùng biển ngày càng trở nên gay gắt. “phân tích đánh giá quá trình xây
dựng hoàn thiện các quy định về cách xác định và quy chế các vùng bi ển thu ộc
chủ quyền Việt Nam” sẽ làm rõ phần nào quá trình xây dựng kh ẳng định chủ
quyền biển đảo Việt Nam.
NỘI DUNG

I)
1)

Cơ sở lí luận:
Chủ quyền quốc gia:
Trong thời đại hiện nay, chủ quyền quốc gia được hiểu là quyền tối cao của
quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quy ền độc l ập c ủa qu ốc gia trong
quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ của mình quốc gia có quy ền l ực
chính trị tối cao. Quyền lực chính trị tối cao thể hiện qua quy ền lập pháp,
quyền hành pháp, quyền tư pháp mà quan trọng hơn cả là quy ền quy ết đ ịnh
1


2)

3)

4)

quy chế các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam:
Việc xác lập chủ quyền biển thời kì phong kiến tới năm 1884:
Từ lâu các triều đại phong kiến đã chú trọng tới chính sách bảo vệ, làm ch ủ
các vùng biển. Trong thời kì này đã có nhiều chính sách liên quan t ới làm ch ủ
và phòng thủ biển đặc biệt đã có những sự ghi nhận ch ủ quy ền v ới hai qu ần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng nhìn chung việc xác l ập ch ủ quy ền trên các
vùng biển của Việt Nam chủ yếu gắn liền với hoạt động khai phá b ờ bi ển và
phòng thủ biển.
Các vùng biển chủ quyền thời thuộc Pháp (1884- 1954):
Trong thời kì này để tăng cường vị thế trong khu vực và khai thác ng ười
Pháp đã xác định ranh giới lãnh hải để xác định chủ quy ền trên các vùng bi ển
Việt Nam. Pháp xác định ranh giới lãnh hải Việt Nam là 3 h ải lí b ằng lu ật
1/3/1888.
2


c)

d)

II)
1)

Các vùng biển chủ quyền thời kì 1954 – 1975:
Trong thời kì này Việt Nam bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc v ới hai chính
quyền khác nhau với hai thể chế chính trị khác nhau. Việt Nam Cộng hòa bằng
tuyên bố 27/4/1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải, chính th ức thiết lập
chiều rộng lãnh hải là 3 hải lí. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn ban hành
nhiều văn bản pháp luật liên quan như tuyên bố mở rộng ph ạm vi vùng đánh
cá 50 hải lí ngày 1/4/1972. Trong th ời kì này do tình hình không cho phép do



của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ tính t ừ ngấn n ước
triều thấp nhất, đây là phương thức xác định đường cơ sở thông th ường theo
pháp luật quốc tế.
Nhược điểm: phương pháp đường cơ sở thông thường này ph ản ánh đúng
đường bờ biển Việt Nam nhưng khó áp dụng với các đường bờ biển gấp khúc,
ăn sâu vào bờ.
Ưu điểm: cách xác định này dễ áp dụng. Việt Nam mới th ống nh ất đất
nước, cách xác định vùng biển chủ quy ền dựa vào đường c ơ sở thông th ường
này là phương pháp dễ áp dụng nhất.
Đến năm 1982 Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều
rộng lãnh hải ngày 12/11/1982. Theo tuyên bố cách xác đ ịnh vùng bi ển thu ộc
chủ quyền Việt Nam dựa vào đường cơ sở thẳng: “ Đường cơ sở dùng để tính
chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam là đường thẳng gẫy khúc nối liền các
điểm có tọa độ ghi trong phụ lục đính theo Tuyên bố này. ” Vùng biển phía trong
đường cơ sở và giáp với bờ biển là vùng nội thủy, điều đó còn đ ược xác đ ịnh
tiếp tục trong Luật Biên giới quốc gia 2003.
Như vậy, tới năm 1982 cách xác định đường cơ s ở đã thay đ ổi t ừ vi ệc xác
định đường cơ sở thông thường sang xác định đường cơ sở thẳng, vì vậy vi ệc
xác định lãnh hải cũng có sự thay đổi. hệ thống đường cơ s ở này g ồm 10 đo ạn
nối 11 điểm. tổng chiều dài 10 đoạn là 846 hải lí, gộp vào n ội th ủy Vi ệt Nam
một khu vực rộng khoảng 27000 hải lí vuông.
Phương pháp xác định vùng biển chủ quyền như vậy căn cứ vào yêu cầu an
ninh thiết thực nhằm đẩy lui yêu sách về biển của các quốc gia khác nh ất là
Trung Quốc. Theo Tuyên bố năm 1982 thì hệ thống đường cơ s ở ven b ờ l ục đ ịa
Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm, trừ đi ểm A8 nằm trên mũi Đại Lãnh, các
điểm còn lại đều nằm trên các đảo. Đây chưa phải là hệ thống kín, còn t ồn t ại
hai điểm nằm ngoài biển chưa xác định, điểm 0 trên vùng nước lịch s ử gi ữa
Việt Nam - Campuchia và điểm kết thúc ở cửa Vịnh Bắc Bô . H ơn nữa, chúng ta

đã tái khẳng định phương pháp tính đường cơ sở là đ ường c ơ s ở th ẳng, n ội
thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển nằm phía trong đ ường c ơ s ở và nhà
nước có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với nội thủy như trên đất liền.
Lãnh hải được xác định chiều rộng 12 hải lí v ới chế đ ộ pháp lí phù h ợp v ới
Công ước Luật biển năm 1982. Như vậy, lãnh hải của nước ta là một dải biển
ven bờ nằm ngoài và tiếp liền với nội thủy của nước ta và có chiều rộng là 12
hải lý tính từ đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam và thuộc chủ quy ền hoàn
toàn, đầy đủ của Việt Nam. Ranh giới bên ngoài của lãnh hải là đ ường biên
giới quốc gia trên biển của Việt Nam, đường này chạy song song v ới đ ường c ơ
sở và cách đường cơ sở 12 hải lý.
Lãnh hải của các đảo, quần đảo xa bờ, của quần đ ảo Tr ường Sa và
Hoàng Sa rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều r ộng lãnh h ải
của các đảo hay quần đảo đó.

5


2)

Đây là một bước tương thích hóa pháp luật về biển của Việt Nam v ới pháp
luật quốc tế. Tuy còn nhiều hạn chế nhưng cách xác định nh ư hiện nay đã gi ải
quyết phần nào vấn đề chủ quyền quốc gia trên bi ển và còn trong quá trình
xây dựng, đàm phán hoàn thiện.
Quá trình xây dựng hoàn thiện quy chế các vùng bi ển thu ộc ch ủ quy ền
Việt Nam:
Để đảm bảo thực thi chủ quyền cũng như quyền của quốc gia ven biển,
Việt Nam đã ban hành hệ thống văn bản pháp lí về bi ển khá đ ầy đ ủ và d ần
ngày càng hoàn thiện. Việt Nam đã ban hành hệ thống văn b ản liên quan t ới
quy chế vùng biển thuộc chủ quyền biển được ghi nhận trong các văn bản
như:

từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính c ủa xã, ph ường, th ị
trấn giáp biển và đảo, quần đảo” (khoản 2, Điều 8).
Tới Luật Biển năm 2012, tại Điều 10 đã khẳng định: “ Nhà nước thực hiện
chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh th ổ
đất liền.”
Như vậy, quy chế pháp lý của vùng nội thủy Việt Nam do pháp luật Vi ệt
Nam quy định, điều đó đã được ghi nhận trong các văn bản pháp lu ật của Vi ệt
nam có liên quan, quá trình xây dựng quy chế dần phù hợp luật pháp quốc tế.
Tính chất chủ quyền quốc gia đối với vùng bi ển này là chủ quyền hoàn toàn,
tuyệt đối và đầy đủ.


Về quy chế trong lãnh hải:

Lãnh hải là một bộ phận của lãnh thổ của quốc gia ven biển, thuộc ch ủ
quyền của quốc gia đó. Do đó, chế độ pháp lý của lãnh h ải mang tính ch ủ
quyền quốc gia. Tức là quốc gia ven biển có quyền ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật quy định chế pháp lý cho vùng lãnh hải của mình, nh ưng ph ải
phù hợp với quy định của Luật biển quốc tế. Tàu thuyền n ước ngoài có quy ền
đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển và có nhiệm v ụ tuân
thủ pháp luật của quốc gia ven biển. Tuy nhiên, ở trong lãnh h ải tính ch ất ch ủ
quyền khác với vùng nội thủy. Trong vùng nội th ủy, Việt Nam th ực hi ện ch ủ
quyền đầy đủ, tuyệt đối và toàn vẹn, còn trong lãnh h ải Việt Nam th ực hi ện
chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn. Như vậy, chủ quyền trong nội th ủy quy định
chặt chẽ hơn ở trong lãnh hải và có tính chủ quyền tuy ệt đối.
Theo điểm 1 Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ. Chủ quyền của Việt
Nam trong lãnh hải Việt Nam được th ực hiện cả ở đáy biển và lòng đ ất d ưới
đáy biển và vùng trời phía trên lãnh hải . Theo quy định của pháp luật Việt
Nam, đi qua không gây hại trong lãnh hải là việc tàu thuy ền n ước ngoài đi
trong lãnh hải Việt Nam nhưng không làm phương h ại đến hoà bình, an ninh,

trọng và tuân thủ nội luật hóa Công ước Luật Biển năm 1982 th ực hiện ch ủ
quyền của Việt Nam trong lãnh hải. Ngay Điều 1 Luật Biển đã kh ẳng đ ịnh:
“Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh h ải,
vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, qu ần đ ảo
Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài
phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Vi ệt Nam; phát tri ển
kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.”
Ta có thể thấy, quy chế nội thủy, lãnh hải được khẳng định liên tục trong
các văn bản pháp luật qua các thời kì là chủ quyền hoàn toàn và tuy ệt đ ối v ới
quyền quyết định thuộc Việt Nam tuy nhiên quy chế lãnh hải có nhi ều thay
đổi để phù hợp với pháp luật quốc tế. Việt Nam ban hành nhiều văn bản liên
quan tới quy chế tàu thuyền
Thứ hai, ta thấy do các vùng biển không chỉ thuộc phạm vi điều ch ỉnh c ủa
luật quốc tế mà thuộc cả luật quốc tế liên quan tới nhiều đi ều ước nên vi ệc
8


xác định thẩm quyền và ra quy chế rất phức tạp nhất là trong ch ủ quyền về
lãnh hải. Đồng thời có nhiều lĩnh vực liên quan trong không gian vùng bi ển
chủ quyền nên có nhiều quy chế cùng với việc quản lí thuộc nhi ều đ ối t ượng.
KẾT LUẬN
Việt Nam đã có lịch sử lâu đời trong khai thác và bảo vệ bi ển. Vi ệt Nam luôn
tôn trọng pháp luật quốc tế trong chính sách pháp luật về biển, quá trình n ỗ
lực xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về cách xác đ ịnh và quy ch ế các
vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam đã thể hiện rõ tinh thần h ợp tác và phát
triển cùng các quốc gia. Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định chủ quy ền bi ển đảo
thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật .

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÁO
GIÁO TRÌNH LUẬT QUỐC TẾ (trường Đại học Luật Hà Nội)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status