Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện châu thành, tỉnh kiên giang - Pdf 45

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TÉ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN DŨNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP VÀ
KHẢ NĂNG ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VẴN THẠC sĩ KINH TÉ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017


NGUYỄN VĂN DŨNG

PHÂN TÍCH CÁC YÉU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN THU NHẬP VÀ
KHẢ NĂNG ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quăn lý kinh tế
Mã số: 60340410

LUẬN VẴN THẠC sĩ KINH TÉ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TẤN KHUYÊN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu được khảo sát trung thực, khách quan;
nguồn trích dẫn tài liệu có địa chỉ rõ ràng; kết quả nghiên cứu, thảo luận được trình bày trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào trước đây.

lần luợt sử dụng các phuơng pháp thống kê mô tả, mô hình Logit và mô hình hồi quy
tuyến tính.
Qua kết quả phân tích thông tin từ các nông hộ trên địa bàn nghiên cứu cho thấy
mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ còn thấp chi số SID bình quân của 119 hộ
khảo sát chi đạt 0,323. Thu nhập từ phi nông nghiệp của hộ chiếm gần 39% tông thu
nhập của hộ chủ yêu từ kinh doanh, buôn bán nhỏ và lao động làm thuê, làm công huởng
luơng của các thành viên trong hộ. Trong đó, thu nhập từ làm thuê là 60,5% chiếm tỷ
trọng cao hơn thu nhập từ hoạt động kinh doanh chỉ chiếm 39,5%.
Ket quả chạy mô hình hồi quy Binary logistic chi ra rằng các yếu tố diện tích đất
canh tác, tỷ lệ lao động và số thành viên của hộ có tác động đến khả năng đa dạng hóa
thu nhập của nông hộ. Trong đó, các nhân tố tỷ lệ lao động và thành viên của hộ có tác
động thuận còn diện tích đất canh tác có tác động nghịch đến khả năng đa dạng hóa cúa
hộ trên địa bàn nghiên cứu.
Bèn cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các nhân tố quan trọng có ảnh hirởng đến thu
nhập của nông hộ bao gồm: Diện tích đất canh tác, tỷ lệ lao động và mức độ đa dạng hóa
đều có tác động thuận đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.
Từ đó, để nâng cao thu nhập và khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ đề tài
đề ra một số giải pháp gồm: các thành viên của hộ cần tham gia vào các làng nghề để
giúp đa dạng hóa thu nhập, cần tích tụ ruộng đất cũng nhu tăng nguồn thu từ thu nhập phi
nông nghiệp và đầu tu phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi về việc
làm, tăng hiệu quả sản xuất làm tăng nguồn thu nhập của nông hộ.


TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT MỤC
LỤC
DANH MỤC CHỮ VIÉT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG




hiệu
Bảng
3.1
Bảng
3.2

Phân bố mẫu khảo sát theo địa bàn huyện Châu Thành
Bảng tóm tắt các biến với dấu kỳ vọng trong mô hình hồi quy
Binary logistic

Tran
g
1
4
1
9

Bảng
3.3

Bảng tóm tắt các biến với dấu kỳ vọng trong mô hình hồi quy
các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập

2
1

Bảng

9

Bảng
4.5

Thông tin tổng quát về chủ hộ

3
0

Bảng
4.6

Đặc điếm chung về nguồn lực nông hộ

3
0

Bảng
4.7

Các nguồn thu nhập của nông hộ

3
1

Bảng
4.8

Số hoạt động tạo thu nhập và nguồn lực của nông hộ


Ket quả mô hình hồi quy đa biến các nhân tố ảnh hường đến
thu nhập của nông hộ
Kết quả mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập
của nông hộ (tác động biên)

3
9

Báng
4.12
Bảng
4.13
Báng
4.14

Tên

3
7

4
1


Hìn
h
Sơ đồ 1

Tên

nghiệp và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp.
Như vậy, đe chuyến dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng và đạt yêu cầu đề ra, cùng với


đạt các chỉ tiêu về phát triển nông thôn mới thì một trong những yêu cầu là cần đa dạng
hóa sản xuất nông nghiệp. Đây là hoạt động thường thấy trong quá trình sản xuất nông
nghiệp do nông dân thường phải đối mặt với nhiều rủi ro về thị trường, dịch bệnh, thiên
tai. Do đó đa dạng hóa sản xuất là cần thiết đế giảm thiệt hại và tăng thu nhập cho nông
hộ (Mai Văn Nam, 2008). Hơn nữa khi nông hộ không có đủ nguồn lực cho sản xuất
nông nghiệp thì họ cũng có xu hướng tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp để tạo
thêm thu nhập. Điều này phù họp với quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở một
số nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin và một số tỉnh, thành phố ở ĐBSCL như
thành phố cần Thơ, tỉnh An Giang, Đồng Tháp thì việc đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp
đã đóng góp một cách đáng kê làm tăng thu nhập của nông hộ cũng như góp phân không
nhỏ đê đạt các chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới.
Tỉnh Kiên Giang nói chung, các huyện thuộc tỉnh Kiên Giang nói riêng tiến trình
đô thị hóa và sản xuất theo hướng thị trường đã và đang tác động đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu sản xuất và đa dạng hóa sản xuất các hoạt động của nông hộ. Đặc biệt là
huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang là huyện giáp ranh với thành phố Rạch Giá thì tiến
trình này có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấu sản xuất của huyện nhất là đa dạng hóa sản
xuất của các nông hộ trong huyện, vấn đề đặt ra là quá trình chuyến đối cơ cấu thu nhập
của nông hộ trên địa bàn huyện như thế nào? Các nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập và
khả năng đa dạng hóa thu nhập cúa nông hộ. Từ đó, đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập và khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ trên địa bàn
huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang'” là đề tài thiết thực.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.

Mục tiêu chung



-

Các yếu tố nào ảnh hường đến khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ trên

cứu?
địa bàn nghiên cứu?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1.

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng đa dạng
hóa thu nhập của nông hộ, trong đó đề tài tập trung phân tích các đặc điểm và thu nhập
của nông hộ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) và phi
nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: Sản xuất nông nghiệp là thế mạnh của
cả ĐBSCL nói chung và Kiên Giang nói riêng, ngoài ra
nhiều huyện có diện tích và sản lượng cao như huyện
Tân Hiệp và Giồng Riềng. Tuy nhiên do thời gian cũng
như chi phí có hạn, đề tài
chỉ nghiên cứu thu nhập của nông hộ sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp ờ
huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
-

Thời gian: Đe tài tập trang phân tích, đánh giá thu nhập của nông hộ sản xuất
nông nghiệp và phi nông nghiệp trong năm 2016. số liệu sơ cấp phục vụ cho
nghiên cứu đuợc điều tra khảo sát trong những tháng đầu năm 2017.

nhập. Đồng thời, qua kết quả nghiên cứu sẽ thấy được các yếu tố nào có ảnh
hưởng đến thu nhập từ đó có biện pháp khắc phục hay phát huy nhằm tăng hiệu
quả sản xuất và tăng thu nhập.
- Thứ hai là đề tài cung cấp cho các cơ quan, nhà quản lý để nghiên cứu và đưa ra

các chính sách hỗ trợ thích hợp đấy nhanh sự phát triến của sản xuất đa dạng hóa thu
nhập của nông hộ cũng như có chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo sản xuất
nông nghiệp hiệu quả, phát triến bền vững, tăng thu nhập cho nông hộ và góp phần vào
phát triển kinh tế chung của tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra đề tài có là một luận cứ khoa học
phục vụ cho các đối tượng khác có quan tâm.
1.6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được kết cấu theo 5 chương:


Chương 1. Mở đầu: Nêu khái quát về bối cảnh và sự cần thiết của đề tài, đưa ra
mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài và đặt giả thiết về câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, kết quả mong đợi và đối tượng thụ hưởng.
Chương 2. Cơ sở lý luận: Nêu một số khái niệm về đối tượng nghiên cứu và các
nhân tố liên quan. Lược khảo một cách tống quan tài liệu và phương pháp tiếp cận nghiên
cứu của các nghiên cứu trước liên quan đế chọn phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu: Nội dung trình bày phương pháp chọn
vùng, mẫu nghiên cứu. Đồng thời trình bày rõ về phương pháp thu thập số liệu từ sơ cấp
đến thứ cấp. Cuối cùng nêu rõ phương pháp nghiên cứu từng mục tiêu cụ thể của đề tài.
Chương 4. Ket quả và thảo luận: Phân tích số liệu đã được thu thập và thảo luận
kết quả theo trình tự, hệ thống các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu, từ đó có một
số gợi ý giải pháp liên quan đến kết quả thảo luận.
Chương 5. Kết luận và kiến nghị: Trình

bày ngắn gọn những nội
dung được rút ra từ kết quả nghiên cứu theo các mục

Thu nhập từ hoạt động trồng trọt;

-

Thu nhập từ hoạt động chăn nuôi;

-

Thu nhập từ hoạt động nuôi trồng thủy sản;

-

Thu nhập từ hoạt động kinh doanh;

-

Thu nhập từ hoạt động làm thuê (tiền lương, tiền công);
- Các khoản thu nhập khác như tiền lãi tiết kiệm, trợ cấp của chính phủ, hoặc từ

người thân.
Các nguồn thu nhập được liệt kê trên sẽ được sử dụng để đo lường và phân tích
mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ thông qua chỉ so Simpson căn cứ vào tỷ trọng
của từng nguồn thu nhập so với tống thu nhập của nông hộ.
2.1.2. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập
Trong nông nghiệp, đa dạng hoá, theo nghĩa hẹp, có nghĩa là tăng chủng loại sản
phẩm nông nghiệp hoặc dịch vụ do nông dân làm ra. Trong nhiều năm, đa dạng hóa đã là
một chiến lược truyền thống của các nông hộ để đối phó với các rủi ro và duy trì an toàn
lương thực (Ahmad và Isvilanonda, 2003). Đa dạng hóa thể hiện sự phản ứng của các
nông dân sản xuất tự cung tự cấp để giảm các rủi ro do các yếu tố mùa vụ, thời tiết, sinh
học và khí hậu gây ra.

chuyến từ lĩnh vực trồng trọt sang chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ nông nghiệp.
Theo Ngân hàng thế giới (2005) thì đa dang hóa thu nhập trong nông nghiệp bởi vì:
Thứ nhất, ìà tăng thu nhập của người dãn và giảm nhu cầu các mặt hàng lươìĩg thực
truyền thống: Săn lượng lúa gạo sản xuất ra đã tăng đáng kể, nhưng nhu cầu lương thực
truyền thống ke cả lúa gạo đã bắt đầu giảm trong thập kỷ gần đây. Điều này có lẽ do sự thay
đối đáng kế trong thu nhập của người dân kéo theo nhu cầu tiêu dùng của họ cũng thay đối,
trong đó nhu cầu lương thực đã qua chế biến có giá trị cao và các hàng hóa phi lương thực
tăng cao.
Thứ hai, an toàn thu nhập và giảm rủi ro: Với xu hướng biến động lớn về giá cả nông
sản, việc đa dạng hóa các cây trồng và các hệ thống sản xuất vào nhiều thời điểm khác nhau
trong năm sẽ giúp nông dân giảm bớt các khó khăn thông qua việc giảm bớt rủi ro đê ôn
định thu nhập cho nông hộ.

Việc đa dạng hóa sẽ giúp cải
thiện hiệu quả sử dụng và phân bô tài nguyên cho sản
xuât nông nghiệp. Thông qua đa dạng hóa, nông dân
sẽ tìm ra cách sử dụng các tài nguyên của họ hợp lý
hơn để đạt được hiệu quả hoàn vốn cao hơn và sản
phẩm của họ được tiếp thị dễ dàng hơn. Đa dạng hóa
cũng còn là phương thức hiệu quả đe tối ưu hóa sử
dụng nguồn vốn xã hội (như lao động nông thôn) trong
các vùng nông thôn nơi mà thất nghiệp và không đủ
việc làm vẫn còn cao.
Thứ ba, sử dụng hiệu quả tài nguyên:


1
7

Thứ tư, quản lý môi trường hiệu quả: Ngoài các khía cạnh kinh tế đã được nêu


1
8

Sơ đồ 1. Khung nghiên cứu phát triến đa dạng ngành nghề đế tăng thu nhập nông hộ
(Mai Văn Nam, 2008)
2.2. Lược khảo tài liệu
ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cả nước, đồng thời có tiềm năng rất lớn về phát fríen
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy hải sản. Tuy nhiên, nông hộ trên địa bàn các tinh
ĐBSCL có thu nhập và mức sống chưa cao và còn thấp hơn so với nhiều vùng khác của
cả nước. Do vậy, có rất nhiều nghiên cứu khoa học về thu nhập của nông hộ trên địa bàn
ĐBSCL cũng như nghiên cứu riêng lẻ các tinh thuộc ĐBSCL. Trong đó có các nghiên cứu
liên quan đến thu nhập của nông hộ gồm:
Sử dụng số liệu từ cuộc khảo sát mức sống 1992-1993 Pederson và Annou (1999)
cho rằng đa dạng hóa trong nông nghiệp thường gắn liền với những hộ có qui mô nhỏ, hệ
thống thủy lợi giới hạn và trình độ dân trí tương đối cao. Đồng thời, những hộ tham gia
ngành trồng trọt chủ yếu canh tác lúa có xu hướng đa dạng bằng cách chuyên đôi sang các
hoạt động chăn nuôi, làm thuê.
Mai Văn Nam (2008) nghiên cứu về phát triển ngành nghề, tăng thu nhập và ốn
định đời sống nông dân trên địa bàn Quận 0 Môn - TP cần Thơ, trong đó tác giả đã sử
dụng chỉ số Simpson (Simpson Index of Diversity) đế đo lường mức độ đa dạng hóa thu
nhập của nông hộ. Ket quả nghiên cứu cho thấy mức độ đa dạng hóa nghề nghiệp của
nông dân còn thấp, chỉ số SID bình quân của 83 hộ khảo sát chỉ đạt 0,41. Thu nhập của
nông dân có xu hướng tăng dần cùng với số ngành nghề mà họ
tham gia hoạt động. Phát triển đa dạng ngành nghề làm tăng thu nhập nông hộ. Nguồn


1
9


mô hình sản xuất trên đất lúa tại tỉnh Vĩnh Long của Lê Xuân Thái (2014). Đe tài sử


2
0

dụng mô hình hồi quy đa biến đế xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
nông hộ thuộc các mô hình sản xuất, trong đó có mô hình chuyên sản xuất lúa và sử
dụng phép thử Duncan đế so sánh sự khác biệt về hiệu quả kinh tế của các mô hình. Ket
quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ cho thấy các yếu tố
số người trong hộ, diện tích đất canh tác, chi phí sản xuất và tham gia tố chức xã hội địa
phương có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ cụ thế: diện tích đất canh tác, chi phí
sản xuất, có tham gia tố chức tại địa phương (bao gồm hội nông dân, họp tác xã, hội cự
chiến binh...) có tác động thuận đến thu nhập của nông hộ, còn số người/hộ có tác động
nghịch đến thu nhập của hộ.
Theo Lê Khương Ninh (2014), trong nghiên cứu thực trạng nông hộ ở ĐBSCL
sau 7 năm thực hiện chính sách tam nông (2006 - 2013), đê đo lường mức độ đa dạng
hóa nguồn thu nhập của nông hộ tác giả sử dụng chi số SID. Ket quả, chỉ số SID bình
quân là 0,38. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy nông hộ càng đa dạng hóa nguồn
thu nhập thì thu nhập có xu hướng tăng.
Theo nghiên cứu của Hứa Thị Phương Chi, Nguyễn Minh Đức (2016), nghiên
cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của nông hộ ở vùng
ĐBSCL. Các tác giả đã sử dụng số liệu thu được từ cuộc khảo sát mức sống dân cư năm
2012 của Tống cục thống kê, Bộ kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ngân hàng thế giới
thực hiện. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic, kết quả nghiên cứu
cho thấy có 6 nhân tố có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tích cực đến việc đa dạng hóa
thu nhập của nông hộ vùng ĐBSCL, gồm: đào tạo nghề, số người phụ thuộc trong nông
hộ, thành viên của nông hộ, trình độ học vấn trung bình của các thành viên trong nông
hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và số người tham gia vào hoạt động sản xuất phi nông
nghiệp của hộ.

CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
3.1.

Phương pháp chọn vùng và mẫu nghiên cứu

Mau được chọn theo phương pháp phân tầng kết họp với thuận tiện có hạn ngạch. Tức
là chọn có tiêu chí theo nhóm: nhóm hoạt động 1 ngành nghề, 2 ngành nghề và 3 ngành
nghề trở lên; đồng thời phân chia cho từng địa bàn cụ thể để việc lấy mẫu phỏng vấn một
cách liên tục, và dựa theo tỷ lệ (%) theo mẫu khảo sát đã có trước. Đe tài này dựa theo mẫu
điều tra nông nghiệp, nông thôn, thủy sản tháng 7 năm 2016, trong đó chọn ngẫu nhiên mỗi
xã 50 phiếu, tổng số 9 xã và 1 thị trấn là 500 phiếu để khảo sát, kết quả: hoạt động 1 ngành
nghề là 60 hộ chiếm gần 12%, 2 ngành nghề là 335 hộ chiếm khoản 67%, 3 ngành nghề trở
lên là 105 hộ chiếm 21%, do đó quyết định chọn mẫu khảo sát theo tỷ lệ trên.
Đe đảm bảo tính đại diện cho địa bàn nghiên cứu liên quan đến hoạt động của hộ, đề


2
2

tài không chọn theo tiêu chí hành chính mà chọn các xã theo tiêu chí thuần nông, tức là diện
tích sản xuất nông nghiệp lớn và đảm bảo các loại hình sản xuất như: thương mại, dịch vụ,
khai thác hải sản, chăn nuôi, trồng trọt, khu công nghiệp. Do đó số mẫu được điều tra trong
năm 2016 từ 04 xã Vĩnh Hòa Phú, Giục Tượng, Thạnh Lộc và thị trấn Minh Lương là đảm
bảo.
Bảng 3.1. Phân bố mẫu khảo sát theo địa bàn huyện Châu Thành
Số ngành nghề hoat đông
Hoạt động Đa dạng 2 Đa dạng 3
Địa bàn
ngành

20

06
07

29
32

Tổng

14

80

25

119


2
3

3.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nghiên cứu về sản xuất lúa
ở ĐBSCL nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, các báo cáo chuyên đề,
báo cáo tổng kết ngành, báo cáo nghiệm thu đề tài, chương trình và dự án tại
địa bàn nghiên cứu; niên giám thống kê của tỉnh Kiên Giang và của cả nước
trong năm 2014 - 2016; các thông tin được công bố của các ủy ban, Sở ban
ngành trong tỉnh Kiên Giang. Ngoài ra, số liệu thứ cấp còn được thu thập
trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học đã được công bố,

trên địa bàn nghiên cứu.
+ Cùng với đó, đề tài sử dụng chỉ số Simpson (Simpson Index of Diversity - SID)
về đa dạng hóa:

SID - 1 -

KL

i

Trong đó, Pi là tỷ trọng của thu nhập từ hoạt động thứ i;. Chỉ số SID dao động từ 0
đến 1. Neu như nông hộ chỉ tham gia một hoạt động thì p I — 1, thì SID = 0. Ngược lại,
nếu số hoạt động tăng thì tỷ trọng

Pi

sẽ giảm xuống và khi đó chỉ số SID sẽ tiến về 1. Ưu

điểm của phương pháp này là nó phù họp với tất cã các hoạt động của nông hộ không
phân biệt nông nghiệp hay phi nông nghiệp. Tuy nhiên, chỉ số SID đo lường mức độ đa
dạng hóa thu nhập dựa vào thu nhập từ hoạt động kinh tế để so sánh với tống thu nhập
dẫn đến chỉ số này bị hạn chế trong quá trình thu thập số liệu đối với những hộ không
tham gia hoạt động kinh tế, đây cũng là hạn chế của đề tài nghiên cứu.
■ Phương pháp phân tích cho mục tiêu (2): nhằm phân tích các biến độc lập ảnh
hưởng đến biến phụ thuộc là khả năng đa dạng hóa thu nhập của nông hộ, với đặc điếm
biến phụ thuộc là biến nhị phân (có = 1, không = 0). Do dó, theo Greene (2003) đề tài sẽ
sử dụng mô hình Binary Losgistic đế phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng xảy ra
sự kiện là biến nhị phân:
Mô hình lý thuyết có dạng:
Prob( Y=l IX) = ez/(l+ez)

+ Diện tích đất canh tác (Xi): Đất là nguồn lực đặc trưng trong sản xuất nông
nghiệp phục vụ cho hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Nông hộ có
diện tích lớn thường có xu hướng khai thác phục vụ cho các hoạt động nông nghiệp nói
chung và đa dạng hóa trong nội bộ ngành nông nghiệp nói riêng. Do đó, biến diện tích
đất trong mô hình này được kỳ vọng sẽ tỷ lệ nghịch với xu hướng đa dạng hóa của nông
hộ.
+ Tỷ lệ lao động (X2): là tỷ lệ lao động trong tống số thành viên của nông hộ. Lao
động là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định hướng hoạt động tạo thu nhập
của nông hộ. Neu như lao động trong hộ tăng lên trong khi diện tích đất không tăng thì
dẫn đến sự dư thừa lao động; cho nên một số thành viên sẽ tham gia các hoạt động bên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status