VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI VÂN ANH
CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG XUÂN
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi với sự
hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
THÁI VÂN ANH
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
HĐ BTHT
: Hội đồng Bồi thường hỗ trợ
LĐĐ
: Luật Đất đai
LĐTBXD
: Lao động Thương binh xã hội
NN
: Nông nghiệp
QĐ
: Quyết định
TCKH
: Tài chính – Kế hoạch
Bảng 2.3 : Một số dự án đang triển khai trên địa bàn quận Nam Từ Liêm ................ 61
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quý giá của quốc gia và là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thiếu và không thể thay thế, là cơ sở phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở
kinh tế-xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng và cố định về
không gian, không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người. Bởi vậy việc
sử dụng tốt tài nguyên đất đai nhằm đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề mà mọi địa
phương đều quan tâm.
Trong những năm gần đây, việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp,
khu đô thị mới đã phát triển nhanh, đây là một trong những tiền đề quan trọng để
đẩy nhanh hơn tiến trình CNH - HĐH đất nước, đưa nước ta sớm trở thành một
nước công nghiệp. Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
một diện tích lớn đất đai, trong đó chủ yếu là đất tại các khu vực nông thôn được
thu hồi sử dụng vào mục đích phát triển công nghiệp, phát triển đô thị, xây dựng cơ
sở hạ tầng. Việc thu hồi đất trong nhiều năm qua đã tác động lớn tới đời sống nhân
dân và tình hình kinh tế - xã hội khu vực có đất bị thu hồi ở cả hai góc độ tích cực
và tiêu cực.
Chính sách bồi thường của Nhà nước, việc thực thi chính sách, pháp luật của
một số địa phương còn chưa thực sự thỏa đáng cũng là nguyên nhân gây nên những
bất hợp lý, nhiều vụ khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người, kéo dài tạo ra những
điểm nóng về chính trị, xã hội. Một chính sách hợp lý phải bảo đảm hài hòa giữa lợi
ích của Nhà nước, của nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi, nhưng đồng thời cũng
phải có tác dụng ngăn chặn những người có tư tưởng cơ hội, lợi dụng nhu cầu bức
thiết của Nhà nước để đưa ra những đòi hỏi bất hợp lý.
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã xây dựng, ban hành và triển khai nhiều
văn bản chính sách, pháp luật về bồi thường cho người có đất bị thu hồi. Những bất
cập đã được chỉnh sửa, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng được những đòi hỏi
về vật chất cũng như tinh thần cho người dân khi mất đất. Điều đó được thể hiện
bằng các hoạt động bồi thường, hỗ trợ cho người dân một cách hợp lý, đảm bảo hài
hòa các lợi ích chính đáng của họ.
Trong công tác GPMB, thu hồi đất vấn đề bồi thường, hỗ trợ là những nội
dung quan trọng trong quản lý Nhà nước đối với đất đai, PGS. TS Nguyễn Thị Nga
còn có bài viết: “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng
mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng” trên tạp chí Luật
học số 11/2010. Bài viết đã phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện
hành đồng thời chỉ ra những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng các quy
định của pháp luật về lĩnh vực này, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp có tính khả
thi cho việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
2
TS Trần Quang Huy có bài viết “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất” trên Tạp chí Luật học số 10/2010 [10]. Bài viết phân tích những nhu cầu trong
việc sử dụng đất cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở Việt Nam là rất lớn để
từ đó đưa ra những cơ sở pháp lý cho việc thực thi những chính sách hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất.
Về cơ bản các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những lý luận và phân
tích sâu sắc về vấn đề bồi thường, hỗ trợ người dân khi thực hiện GPMB, thu hồi
đất đai. Đây sẽ là những tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích cho học viên trong việc
nghiên cứu vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa
bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng công tác giải phóng mặt bằng đất nông nghiệp trên địa bàn
quận Nam Từ Liêm Thành phố Hà Nội, để thấy rõ những khó khăn, vướng mắc và
đưa ra một số kiến nghị cũng như giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ GPMB trên địa
và tốc độ phát triển kinh tế của quận Nam Từ Liêm cũng như công tác GPMB thu hồi
đất qua các năm.
Phương pháp phân tích tổng hợp
Là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong chương 3 nhằm phân tích, tổng
hợp đánh giá và đưa ra những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng
đất nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.
Ngoài ra trong quá trình phân tích việc kết hợp phương pháp phân tích định
tính và phương pháp phân tích định lượng nhằm giúp làm sáng tỏ thực trạng công tác
giải phóng mặt bằng ở quận Nam Từ Liêm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã hệ thống hóa lại những cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi thường,
hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp; phân tích và làm rõ cơ chế chính sách
về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Luận văn cũng phân tích các nội dung quy định về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp, đánh giá thực trạng công tác GPMB, thu hồi đất
nông nghiệp trên địa bàn quận Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội. Qua đó chỉ ra
những thành công đã đạt được cũng như những hạn chế tồn tại và nguyên nhân của
những tồn tại đó. Trên cơ sở đó, luận văn cũng đề ra một số giải pháp cụ thể nhằm
đẩy nhanh tiến độ GPMB, thu hồi đất nông nghiệp thực hiện dự án trên địa bàn
quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà nội.
4
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho
những người quan tâm đến vấn đề này, cũng có thể là tài liệu tham khảo thiết thực
cho cơ quan quản lý và những người trực tiếp làm việc trong lĩnh vực hoạt động
giải phóng mặt bằng phục vụ cho công cuộc đô thị hóa, công nghiệp hóa.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
e) Đất nuôi trồng thủy sản;
g) Đất làm muối;
h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại
nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp
trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác
được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục
đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng
hoa, cây cảnh;
(2). Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
6
a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức
sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể
thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác;
đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm
công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông
nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm
đồ gốm;
e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng
không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ
thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử – văn
hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng;
đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi
thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác;
g) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng;
đất đai mà nói, giá cả đất đai phản ánh tác dụng của đất đai trong hoạt động kinh tế,
nó là sự thu lợi trong quá trình mua bán, nói cách khác giá cả đất đai cao hay thấp
quyết định bởi nó có thể thu lợi cao hay thấp ở một khoảng thời gian nào đó. Quyền
lợi đất đai đến đâu thì có thể có khả năng thu lợi đến đó từ đất và cũng có giá cả
tương ứng, như giá cả quyền sở hữu, giá cả quyền sử dụng, giá cả quyền cho thuê,
giá cả quyền thế chấp... Hầu hết những nước có nền kinh tế thị trường, giá đất được
hiểu là biểu hiện mặt giá trị của quyền sở hữu đất đai. Xét về phương diện tổng
quát, giá đất là giá bán quyền sở hữu đất chính là mệnh giá của quyền sở hữu mảnh
đất đó trong không gian và thời gian xác định [28].
Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai là dựa trên chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, là tổng hòa giá trị hiện hành của địa tô nhiều năm được
chi trả một lần, là hình thức thực hiện quyền sở hữu đất đai trong kinh tế. Cho nên
giá cả đất đai ở nước ta không giống các quốc gia thông thường có chế độ tư hữu
đất đai, mà giá đất là giá phải trả để có quyền sử dụng đất trong nhiều năm, mà
không phải là giá cả quyền sở hữu đất, đồng thời do thời gian sử dụng đất tương đối
dài, nói chung đều trên dưới 20 năm, trong thời gian sử dụng cũng có quyền chuyển
nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn tương tự như quyền sở
8
hữu. Do vậy Luật Đất đai quy định: Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính
trên một đơn vị diện tích đất (Khoản 19 Điều 3) [19].
Giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:
1. Do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá;
2. Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
3. Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liên quan
khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định
thiện và trở thành một ngành chuyên sâu trong nền kinh tế.
Ðịnh giá đất đai là người định giá căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp định
giá đất trên cơ sở nắm chắc tư liệu thị trường đất đai, căn cứ vào những thuộc tính
kinh tế và tự nhiên của đất đai theo chất lượng, và tình trạng thu lợi thông thường
trong hoạt động kinh tế thực tế của đất đai, xem xét đầy đủ ảnh hưởng của các yếu
tố về phát triển kinh tế, xã hội, phương thức sử dụng đất, dự kiến thu lợi từ đất và
chính sách đất đai, đối với việc thu lợi từ đất, rồi tổng hợp để định ra giá cả tại một
thời điểm nào đó cho một thửa hoặc nhiều thửa đất với một quyền đất đai nào đó.
Ðịnh giá đất đai phải căn cứ vào nguyên tắc và phương pháp định giá đất.
Ðất đai tuy cũng có thể giao dịch như là hàng hóa, nhưng không phải là sản phẩm
của lao động con người làm ra nên không có giá trị. Giá cả của nó chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội và tự nhiên, khác với giá cả của các loại hàng hóa
thông thường. Ðiều đó quyết định rằng định giá đất tự có nguyên tắc và phương
pháp đặc biệt của riêng mình. Chỉ có tuân thủ nguyên tắc định giá đất đai, cân nhắc
đầy đủ ảnh hưởng của các nhân tố đối với giá đất mới có thể chính xác đưa ra giá cả
của đất đai.
Ðịnh giá đất đai phải dựa vào tài liệu đầy đủ về thị trường đất đai, sự hình
thành giá cả cuối cùng của đất đai là quyết định bởi hai bên giao dịch. Có thể nói
rằng giá cả đất đai hình thành từ thị trường, không nắm đầy đủ tình hình giao dịch
của thị trường đất đai, không biết được tình hình cung cầu của đất đai, không nắm
vững được xu thế phát triển của quá khứ, hiện tại và tương lai, sẽ không định được
giá cả công bằng chính xác và khách quan.
Ðịnh giá đất phải biết đầy đủ tình trạng các loại quyền của đối tượng định
giá. Cùng một loại đất, quyền lợi không giống nhau thì giá cả có thể cách nhau rất
10
lớn. Cho nên trước khi định giá phải thông qua việc điều tra tài liệu đăng ký đất đai
và khảo sát thực tế để làm rõ tình trạng các loại quyền lợi của đối tượng đất đai định giá.
Mức độ giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến GPMB
Các tiêu chí này có mối liên hệ mật thiết với nhau, nếu thực hiện không tốt
một trong các tiêu chí trên sẽ ảnh hưởng chung đến tiến độ GPMB.
* Một số yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai
- Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi
hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao
và phù hợp với tình hình thực tế.
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993 và đã hai lần Quốc hội
sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai vào các năm 1998; 2001, 2003,
Nhà nước ban hành Luật đất đai 2013 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội đất nước. Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ
không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai. Với
những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc
phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa
thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường GPMB đã
gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các
văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác
bồi thường GPMB.
Bên cạnh ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc
tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết quả kiểm tra
thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nhận
thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa
phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế, trong khi đó việc tuyên
truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt. Nhận thức pháp luật
nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà
theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi
có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;
+ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng
tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường.
- Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
13
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người
sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc
thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan
tới quyền sử dụng đất. Trong công tác bồi thường GPMB, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất,
diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn
còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà công tác bồi thường
GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến
độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn.
1.1.3. Đặc điểm bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp
* Thứ nhất về bồi thường về đất khi thu hồi đất nông nghiệp:
Theo quy định tại điều 77 Luật đất đai 2013: " Bồi thường về đất, chi phí
đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.”
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định tại điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP về hỗ trợ đào tạo,
chuyển đồi nghề và tìm kiếm việc làm như sau:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a,
b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân
là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã
nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu
hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường
bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển
đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:
- Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng
giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích
được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;
- Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện
thực tế của địa phương...”.
Như vậy, khi người dân bị mất đất là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp
quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định 47/2014 nêu trên
khi nhà nước thu hồi đất mà không có đất để đền bù thì người mất đất sẽ được bồi
16
thường bằng tiền đồng thời được hỗ trợ chi phí liên quan, chuyển đổi nghề, tìm
kiếm việc làm khi thu hồi toàn bộ đất ở và đất nông nghiệp.
1.2. Các chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất ở Việt Nam
1.2.1.Thời kỳ 1993 đến 2003
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường,
GPMB qua những điều, khoản quy định cụ thể như sau:
- Điều 17: “Đất đai.. thuộc sở hữu toàn dân”.
- Điều 23: “… Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá
sở hữu tài sản hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Phạm vi bồi thường thiệt hại:
+ Bồi thường thiệt hại về đất cho toàn bộ diện tích đất bị thu hồi
+ Bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có
- Phạm vi hỗ trợ
+ Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở, di
chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh;
+ Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi;
+ Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, di
chuyển, GPMB.
Hình thức bồi thường thiệt hại về đất: Khi Nhà nước thu hồi đất thì tùy từng
trường hợp cụ thể mà người có đất bị thu hồi được bồi thường bằng tiền, nhà ở hoặc
bằng đất. Khi bồi thường bằng nhà ở hoặc bằng đất mà có sự chênh lệch về giá trị
thì phần chênh lệch giá trị được thanh toán bằng tiền.
Về điều kiện được bồi thường: Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam
có nhiều thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, công tác quản lý, sử dụng đất còn nhiều
bất cập, do đó trong nghị định số 22/1998//NĐ - CP đã quy định rất cụ thể, chi tiết
các trường hợp được bồi thường thiệt hại về đất đai tài sản.
* Về giá đất để tính bồi thường thiệt hại: Giá đất để tính bồi thường thiệt hại
được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ
kèm theo với hệ số K để đảm bảo giá đất tính bồi thường phù hợp với khả năng sinh lợi
và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương.
* Về tái định cư: Nghị định số 22/1998/NĐ-CP quy định Nhà nước chuẩn bị
đủ điều kiện để lập khu TĐC (bao gồm quỹ đất, qũy nhà và quỹ tiền mặt): thẩm
quyền phê duyệt lập khu TĐC, điều kiện bắt buộc phải có khu TĐC, nguyên tắc bố
18
trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu TĐC và nguồn vốn xây dựng khu TĐC …
19
đất đai năm 2003, một số văn bản đã được ban hành:
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành luật đất đai và
Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thực
hiện quyền sử dụng, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai.
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ tài
chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ
trợ tái định cư.
Về cơ bản, chính sách bồi thường GPMB theo Luật đất đai 2003 đã kế thừa
những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới
nhằm góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong bồi thường GPMB hiện nay. Các
quy định của văn bản pháp quy ban hành có những đặc điểm chính sau:
* Về việc thực hiện thu hồi đất và bồi thường GPMB: Nhà nước hạn chế những
trường hợp mà Nhà nước bồi thường, hỗ trợ và TĐC và khuyến khích các nhà đầu tư tự
thỏa thuận với người có đất. Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào các
mục đích như xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án
đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.
* Về giá đất bồi thường: Giá đất do Nhà nước quy định đảm bảo nguyên tắc
sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện
bình thường; các thửa đất liền kề nhau, các thửa đất tại khu vực giáp ranh giữa các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, kết cấu