VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM QUANG HƢNG
TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Hà Nội, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM QUANG HƢNG
TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƢƠNG
Chuyên ngành:
Quản lý kinh tế
Mã số:
60 34 04 10
tháng
năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Quang Hƣng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH
BỀN VỮNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ................... 6
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới .............................................. 6
1.2. Các điều kiện bảo đảm xây dựng nông thôn mới bền vững ................... 15
1.3. Kinh nghiệm thực tiễn và bài học kinh nghiệm cho huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương trong xây dựng nông thôn mới bền vững. .................................... 19
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VỀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƢƠNG ..................24
2.1. Khái quát chung về huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương .............................. 24
2.2. Thực trạng tính bền vững của việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia
Lộc, tỉnh Hải Dương ....................................................................................... 32
2.3. Đánh giá chung kết quả đạt được, những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân
trong quá trình xây dựng nông thôn mới bền vững ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương .............................................................................................................. 47
2.4. Các vấn đề đặt ra về tính bền vững của việc xây dựng nông thôn mới ở
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ..................................................................... 49
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA VIỆC XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƢƠNG…63
PTBV
Phát triển bền vững
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
GD-ĐT
Giáo dục đào tạo
BHYT
Bảo hiểm y tế
BVMT
Bảo vệ môi trường
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Bảng 2.6
Thực trạng tiêu chí hệ thống chính trị - an ninh xã hội
huyện Gia Lộc
46
Bảng 2.7
Tổng hợp ý kiến điều tra đề nghị thay đổi một số tiêu
chí xây dựng nông thôn mới năm 2016
50
Bảng 2.8
Ảnh hưởng của trình độ cán bộ địa phương đến nhận
thức về xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia Lộc
năm 2016
56
Biểu đồ 2.1 Ý kiến thay đổi một số tiêu chí xây dựng nông thôn
mới
50
Biểu đồ 2.2 Huy động các nguồn vốn trên địa bàn huyện Gia Lộc
1
tiêu xây dựng NTM, còn lại các địa phương, nhất là cấp cơ sở đã bộc lộ nhiều
lúng túng, vướng mắc trong quá trình thực hiện và chỉ đạo thực hiện.
Huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương sau 5 năm triển khai thực hiện chương
trình MTQG xây dựng NTM đã trở thành phong trào được cả hệ thống chính
trị và nhân dân địa phương, nhất là người dân ở nông thôn đồng tình ủng hộ,
tích cực tham gia và đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, chương
trình triển khai thực hiện còn chậm so với yêu cầu, một số tiêu chí cũng chưa
thật phù hợp với đặc thù kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương, một bộ
phận cán bộ đảng viên và nhân dân nhận thức chưa rõ về vị trí, tầm quan
trọng của chương trình cũng như vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng
trong xây dựng NTM, bộ máy chỉ đạo, quản lý chưa hoàn thiện, lãnh đạo các
cấp, nhất là ở cơ sở còn lúng túng, vướng mắc trong chỉ đạo thực hiện....
Để khắc phục dần những hạn chế trên đây, đúc rút những bài học kinh
nghiệm cho chương trình MTQG xây dựng NTM tại địa phương, góp phần
thúc đẩy phát triển quá trình xây dựng NTM cho huyện Gia Lộc nói riêng và
tỉnh Hải Dương nói chung, tôi chọn nghiên cứu vấn đề: "Tính bền vững của
việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương" làm luận văn
Thạc sĩ quản lý kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chương trình MTQG về xây dựng NTM được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Ở đây, xin được nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng (đồng chủ biên) (2013),
Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới,
bước đi mới, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Tập thể tác giả phác thảo những yêu
cầu và nhiệm vụ đặt ra cũng như gợi ý cách triển khai về tổ chức phát triển và
xây dựng NTM như: tổ chức xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nông
thôn; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với thị trường; Vận dụng mô hình sản
tính bền vững của việc xây dựng NTM.
3
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến tính bền vững
của việc xây dựng NTM.
- Đánh giá thực trạng đảm bảo tính bền vững của việc xây dựng NTM
tại huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo tính
bền vững trong quá trình xây dựng NTM ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tính bền vững của việc xây dựng NTM ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: nghiên cứu tại địa bàn huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
Về thời gian: luận văn nghiên cứu tình hình xây dựng NTM từ năm
2011 - 2016.
Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng xây dựng NTM,
các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của việc thực hiện NTM và một số
giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo tính bền vững của việc xây dựng NTM tại
huyện Gia Lộc trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật lịch sử. Các
tiếp cận của luận văn là nghiên cứu định tính.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp thu thập thông tin thứ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trong giai đoạn hiện nay
Đối với đất nước ta, sự phát triển KT - XH không chỉ phụ thuộc vào sự
phát triển tại các vùng đô thị mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển tại
các vùng nông thôn. Hiện nay, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với hơn
70% dân cư đang sống ở vùng nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn là khu vực
giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu quả. Trong mọi thời kỳ, mục
tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta luôn được Đảng và Nhà
nước quan tâm chỉ đạo, phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn
là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định KT –
XH đất nước. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác
định mục tiêu :”Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, văn minh, có
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng, kinh tế - xã
hội phát triển ngày càng hiện đại”.
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 đã ban
hành Nghị quyết số 26/TW; Nghị quyết đã nêu một cách tổng quát, toàn diện
quan điểm của Đảng ta về xây dựng NTM; đồng thời đã nêu mục tiêu, nhiệm
vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng NTM trong giai đoạn
hiện nay phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Quan điểm
chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng
được Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục xác định rõ trên những nội
dung chính sau:
Thứ nhất: Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu
quả, bền vững đồng thời với giải quyết tốt các vấn đề về nông dân, nông thôn
trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới.
6
Thứ ba: Xây dựng NTM theo hướng văn minh, giàu đẹp, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nông dân. Nhằm khắc phục những hạn chế và
bất cập trong phát triển nông thôn nước ta hiện nay, Đảng ta xác định: “Xây
dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông thôn với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch” [11, tr.3].
Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi
trường, đảm bảo sự phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể,
vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy những truyền thống văn
hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi để khai thác
mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các
doanh nghiệp nhỏ và veaf để thu hút nhiều lao động. Những quan điểm về vấn
đề phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong Nghị quyết Đại hội lần
thứ XI của Đảng là sự khẳng định, bổ sung và tiếp tục phát triển chủ trương,
đường lối lãnh đạo đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đặt ra từ
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của Đảng. Quan điểm đó của Đảng là sự kế
thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh
toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng
NTM.
Kết quả của quá trình xây dựng NTM sẽ góp phần thay đổi toàn diện bộ
mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân. Như vậy, chương trình MTQG về xây dựng NTM là chương trình
mang tính ý nghĩa tổng hợp, sâu rộng, có nội dung toàn diện, bao gồm tất cả
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng. Do đó,
xây dựng NTM không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân mà được xác định là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
9
1.1.2.2. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới
“Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH từng
bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội
dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được
bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững, đời sống vật chất và tinh thần ngày
càng được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[11, tr.3].
Với khái niệm trên ta thấy, xây dựng NTM thời kỳ CNH - HĐH giai
đoạn 2010 - 2020 phải hướng tới Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, mang những
đặc trưng riêng và phải đạt 5 mục tiêu cơ bản, đó là:
Một là, nông thôn có làng xã phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ
tầng KT - XH hiện đại, văn minh, sạch đẹp, môi trường sinh thái được bảo vệ.
Hai là, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững.
Ba là, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông
thôn ngày càng được nâng cao.
Bốn là, trình độ dân trí vùng nông thôn được nâng nên, bản sắc văn hóa
dân tộc được giữ gìn và phát triển.
Năm là, an ninh, trật tự xã hội nông thôn được đảm bảo quản lý tốt và
dân chủ, chất lượng hệ thống chính trị ngày càng được nâng cao.
Như vậy, “xây dựng NTM không có nghĩa là biến các làng xã thành
các thị tứ, các đô thị hay biến nông dân thành người phi nông nghiệp mà phải
xây dựng nông thôn có hạ tầng kỹ thuật hiện đại, văn minh, sạch đẹp, đồng
thời với việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, tạo động lực giúp họ
phát triển KT - XH tại quê hương họ, qua đó thu hẹp khoảng cách giữa đô thị
và nông thôn” [11, tr.4].
Nói cách khác, mục tiêu của chương trình xây dựng NTM tiến tới là
xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kỹ thuật hiện đại nhưng phù hợp với
khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Trước đây, có thời điểm chúng ta
có chủ trương xây dựng mô hình nông thôn theo địa bàn cấp huyện, cấp thôn;
ngày nay chúng ta xây dựng NTM theo địa bàn cấp xã. Sự khác biệt giữa quá
trình xây dựng NTM trước đây với quá trình xây dựng NTM hiện nay ở một
số điểm sau:
11
Thứ nhất, chương trình xây dựng NTM là quá trình xây dựng nông
thôn theo Bộ tiêu chí quốc gia được xây dựng phù hợp với điều kiện chung
cho các vùng miền của cả nước bao gồm 19 tiêu chí.
Thứ hai, chương trình xây dựng NTM được triển khai trên địa bàn cấp
xã và triển khai trong phạm vi cả nước.
Thứ ba, cộng đồng dân cư đang sinh sống trên địa bàn cấp xã là chủ
thể chính của quá trình xây dựng NTM. Trong quá trình triển khai thực hiện,
không phải Nhà nước làm hộ mà người nông dân tự xây dựng, tự quản lý và
khai thác theo quy định tại Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
Thứ tư, đây là một chương trình hướng tới mục tiêu tốt đẹp của Đảng
và Nhà nước nhằm thúc đẩy, phát triển KT - XH tại khu vực nông thôn, bao
gồm 11 chương trình MTQG và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang
diễn ra tại nông thôn. Năm 2014 dồn lại còn hai chương trình MTQG là xây
dựng nông thôn mới và xóa đói giảm nghèo.
Theo đó, tiêu chí xã được công nhận NTM là :”xã đạt 19 tiêu chí trong
Bộ tiêu chí quốc gia (theo từng vùng); huyện được công nhận NTM là huyện
có 75% số xã NTM; tỉnh được công nhận NTM là tỉnh có 80% số huyện NTM”
[11, tr.6].
Do vậy, trong thời gian tới bên cạnh việc đẩy mạnh công tác giáo dục,
tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng để các cấp chính quyền và mọi
người dân đều nhận thức rằng: “Xây dựng NTM là công việc thường xuyên của
quát phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.
Từ nội hàm khái niệm PTBV, để đạt được mục tiêu PTBV cần giải
quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường.
Thứ nhất, bền vững kinh tế. Mỗi nền kinh tế được coi là bền vững cần
đạt được những yêu cầu sau:
- Có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt mức cao. Nước phát triển
có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo có thu
nhập thấp càng phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong
13
điều kiện hiện nay cần tăng trưởng GDP vào khoảng 5%/năm thì mới có thể
xem có biểu hiện phát triển bền vững về kinh tế.
- Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nhưng mức GDP bình quân thấp
thì vẫn coi là chưa đạt yêu cầu phát triển bền vững. Tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì mới đạt được bền vững.
- Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hiệu quả cao, không chấp
nhận tăng trưởng bằng mọi giá.
Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi
quốc gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập,
các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra,
bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng
giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo
không cao quá; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.
Thứ ba, bền vững về môi trường. Quá trình CNH - HĐH, phát triển
nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới,... đều tác
động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự
nhiên. Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất
lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm.
hóa các quan hệ quốc tế.
- Phát triển KT - XH cần chú trọng những vùng miền núi, vùng sâu,
vùng xa để từng bước tiến kịp miền xuôi. Không để tình trạng mất cân đối
giữa các vùng miền, tầng lớp dân cư, giữa các loại hình doanh nghiệp, ngành
nghề nhằm đảm bảo công bằng xã hội.
- Đầu tư xã hội cần quán triệt về hiệu quả kinh tế, không đầu tư mang
tính chủ quan như chính sách công bằng xã hội, chính sách xã hội, cơ cấu
đồng đều giữa các vùng, miền.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH phải có mục tiêu
song không phải bất chấp những khó khăn trở ngại để đạt được mục tiêu mà
15
phải biết dừng khi chuyển dịch có hiệu quả, chuyển đổi sang mục tiêu khác
hợp lý hơn tránh tổn thất về vốn, nhân lực.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần quán triệt phát huy thế mạnh của từng
địa phương, vùng miền, không nên cào bằng, bình quân. Tân dụng nguồn tài
nguyên và nguồn lao động trong nước để phát huy có hiệu quả các nguồn lực.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần đảm bảo nền kinh tế có tính linh hoạt, thích
ứng nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường, hài hòa giữa các bộ phận
cấu thành của nền kinh tế, bảo đảm ổn định về chính trị - xã hội, tăng trưởng
kinh tế cao và chất lượng tăng trưởng tốt.
1.2.2. Cơ sở hạ tầng - kỹ thuật
Để phát triển bền vững cơ sở hạ tầng - kỹ thuật, chính sách này càng
quan trọng đối với các nước đang phát triển, chính sách đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng được hiểu là chính sách huy động và phân bổ nguồn lực bằng tiền,
tài sản vật chất và sức lao động bỏ vào đầu tư để tạo ra những cơ sở hạ tầng
thiết yếu phục vụ sản xuất, các hoạt động kinh tế khác trong thời gian dài. Cơ
sở hạ tầng hạ tầng phát triển sẽ là điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển.
trong tương lai xa. Một nguồn nhân lực được coi là phát triển bền vững phải
đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, việc xây dựng phát triển và sử dụng nguồn nhân lực của quốc
gia hay cộng đồng không mang tính tự phát mà phải được đặt trong tổng thể
chiến lược và kế hoạch xây dựng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực chung
của quốc gia hay cộng đồng đó.
Thứ hai, trong quá trình xây dựng, phát triển và phát huy nguồn nhân
lực của quốc gia hay cộng đồng phải luôn giữ được một cơ cấu về số lượng
một cách hợp lý.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực phải đảm bảo tăng dần phù hợp với
nhu cầu và trình độ phát triển nền KT - XH của quốc gia, hay cộng đồng.
17
Thứ tư, việc sử dụng nguồn nhân lực phải đảm bảo tính hợp lý và hiệu
quả phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, việc xây dựng và phát
triển nguồn nhân lực theo hướng bền vững là một trong những yêu cầu đặt ra
hàng đầu đối với nước ta hiện nay. Một nguồn nhân lực bền vững có thể trở
thành một lợi thế quan trọng trong quá trình cạnh tranh quốc tế, đồng thời nó
cũng là yếu tố quan trọng không chỉ đảm bảo cho việc phát triển, sự tăng
trưởng một cách ổn định trong trường hợp có những tác động tiêu cực từ môi
trường cạnh tranh quốc tế mà còn là cơ sở bảo đảm an sinh xã hội.
1.2.6. Bảo vệ môi trường ở nông thôn
Những yêu cầu cấp bách trong bảo vệ môi trường nông thôn đảm bảo
mục tiêu phát triển bền vững tại các khu vực này:
Một là, cần phải có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về
thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn nước ta hiện nay.
Hai là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm