Thi hành án treo từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG NGỌC

THI HÀNH ÁN TREO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HƯƠNG NGỌC

THI HÀNH ÁN TREO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN

HÀ NỘI, 2017


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................81
PHỤ LỤC .................................................................................................................87


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật hìnhsự

ĐKTT

Điều kiện thử thách

HĐXX

Hội đồng xétxử

LTHAHS

Luật thi hành án hình sự

UBND

Ủy bannhândân

TAND

Tòa ánnhândân


phạt tù nhưng được Tòa án cho miễn chấp hành hình phạt có điều kiện. Việc thi
hành án treo sẽ giảm được các chi phí tốn kém của Nhà nước so với việc cải tạo,
giáo dục tội phạm bằng cách tập chung nhưng vẫn đảm bảo việc nâng cao ý thức,
trách nhiệm của người dân trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa các hành
vi vi phạm pháp luật.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính
sách cùng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ trong
công tác thi hành án treo như Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 (đã được sửa
đổi bổ sung một số điều năm 2007); Nghị định số 61/2000/NĐ- CP ngày 30 tháng
10 năm 2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo; và Luật thi
hành án hình sự được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa
XII đã thông qua đượcngày 17 tháng 6 năm 2010 tại kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, khi đi vào thực tiễn, những văn bản trên đã

1


phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả trong công tác thi hành án hình sự nói
chung cũng như công tác thi hành án treo nói riêng.
Thực tiễn công tác thi hành án treo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong năm vừa
qua đã đạt được những kết quả quan trọng, các bản án xét xử bị cáo nhưng cho
hưởng án treo khi có hiệu lực pháp luật đều được ra quyết định thi hành án và tổ
chức thi hành quyết định đó một cách nhanh chóng, đúng thời hạn quy định của
pháp luật. Theo thống kê trong năm qua toàn ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
đã ra quyết định thi hành án treo đối với 2530 trường hợp. Việc thi hành án treo đều
được mở sổ thụ lý để theo dõi đầy đủ, hồ sơ thi hành án được lập một cách khoa
học, quyết định thi hành án treo đều được Tòa án gửi cho các cá nhân, cơ quan liên
quan nhanh chóng, đúng thời hạn do pháp luật quy định. Quá trình xét giảm thời
gian thử thách cho người phải chấp hành án treo đã được tiến hành thường xuyên,
đúng quy định của pháp luật và có những tiến bộ rõ rệt. Qua công tác thi hành án

tính cấp thiết nên đã có một số công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này ở những
khía cạnh nhất định mà tác giả đã tìm hiểu nghiên cứu:
Thứ nhất, về sách và các bài viết đăng trên báo, tạpchí:
- Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam. Sách xuất bản năm 2007,
tác giả Lê văn Luật.
- Một số suy nghĩ về Nghị định 61/2000/NĐ-CP về thi hành hình phạt tù
cho hưởng án treo, Tạp chí Toà án nhân dân, số 3/2001.
- Bàn về án treo từ góc nhìn so sánh, Trịnh Quốc Toản,Tạp chí khoa học và
Tổ Quốc số 22/2004 ngày20/11/2004.
- Án treo và thực tiễn áp dụng, tạp chí Toà án nhân dân, số05/1996.
- Chế định án treo và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam,
tạp chí Toà án nhân dân, số02/2005.
- Một số suy nghĩ về chế định án treo, tạp chí Toà án nhân dân số 01/1991.
Nguyễn KhắcCông
- Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội, tạp chí Toà
án nhân dân,số 6/1994. Lê Văn Dũng.
- Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo theo điều 44
Bộ luật Hình sự, tạp chí Toà án nhân dân số6/1990.
- Một số vần đề thi hành án hình sự, sách của tác giả Trần QuangTiệp.
- Dự thảo Bộ luật thi hành án.
- Pháp luật thi hành án Việt Nam- những vấn đề lý luận và thực tiễn [72].
Thứ hai, về đề tài khoahọc:

3


Đề tài: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm về công tác
quản lý, giáo dục người phải thi hành án phạt tù cho hưởng án treo tại Uỷ ban
nhân dân cấp xã của Tỉnh Vĩnh Phúc- Đề tài khoa học của Viện Kiểm sát nhân dân
Tỉnh Vĩnh Phúc- chủ nhiệm Nguyễn HuyPhượng.


- Phân tích vai trò thực hiện pháp luật thi hành án trong đời sống, các yếu tố
nhằm đảm bảo phát huy hiệu quả thực hiện pháp luật thi hành án treo .
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật thi hành án treo ở Tỉnh Bắc Ninh
từ năm 2011 đến năm 2016, với những kết quả đạt được, những yếu kém và
nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp đảm bảo tăng cường hiệu quả thực hiện pháp
luật thi hành án treo, kiến nghị sửa đổi và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự
đối với những vấn đề nêutrên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiêncứu
4.1. Đối tượng nghiêncứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật nói
chung, pháp luật thi hành án treo nói riêng, phân tích đánh giá thực trạng thực
hiện pháp luật thi hành án đối với người được hưởng án treo qua thực tiễn tỉnh
Bắc Ninh.
4.2. Phạm vi nghiêncứu
Về thời gian: Luận văn đánh giá kết quả thực hiện pháp luật thi hành án
hình sự đối với người được hưởng án treo, thời gian từ năm 2012 đến năm2016.
Về không gian: Tác giả khảo sát thực trạng thực thi pháp luật thi hành án
hình sự đối với người được hưởng án treo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chi Minh và quan điểm của Đảng về công tác thi hành án và chiến lược
cải cách tư pháp đến năm2020.
5.2. Phương pháp nghiêncứu
Tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa MácLênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích,
chứng minh, tổng hợp, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu trong khi trình
bày luận văn, chẳng hạn tác giả sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp lịch
sử cụ thể khi trình bày sự hình thành và phát triển các chế định án treo, có so sánh
khái niệm với một số quốc gia trên thế giới.


6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN, THI HÀNH ÁN TREO
1.1. Khái niệm về án treo và thi hành án treo
1.1.1. Khái niệm thi hành án
Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh Nhà nước ra các phán quyết nhằm góp
phần lập lại trật tự kỷ cương xã hội. Song phán quyết có được thi hành trên
thực tế hay không nhờ một phần rất lớn vào hoạt động thi hàn hán.Theo Từ
điển tiếng Việt,thi hành là:"Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [58,tr.1559].
Còn thi hành án được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
được tiến hành theo trình tự thủ tục được pháp luật qui định nhằm thực hiện các bản
án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án [5, tr.706]. Hiện nay, xung quanh bản chất
pháp lý của khái niệm thi hành án, còn có nhiều ý kiến khácnhau.
Hiện nay, trong sách báo pháp lí cũng như trên thực tiễn, cụm từ ghép "thi
hành án" thường được dùng chung với các từ khác trong các nhóm từ như công tác
thi hành án, hoạt động thi hành án, lĩnh vực thi hành án, giai đoạn thi hành án... Xét
về mặt cấu trúc ngữ pháp, trong các nhóm từ trên, các từ công tác, hoạt động, lĩnh
vực, giai đoạn là danh từ có nghĩa chung nhất của nội hàm xác định; còn "thi hành
án" lại đóng vai trò với nghĩa là định ngữ, vì vậy nếu hiểu các nhóm từ đó như khái
niệm "thi hành án" thì chưa đúng. Bởi vì, thứ nhất, các từ công tác, hoạt động, lĩnh
vực, giai đoạn có nghĩa không giống nhau nên khi ghép với "thi hành án" chúng
cũng hàm chứa những nội dung khác nhau; thứ hai, nếu sử dụng các nhóm từ đó
cùng với các từ như bản chất, đặc điểm, chức năng, hình thức, mô hình... thì sự sai
lệch lại tăng thêm. Chẳng hạn, khi nói bản chất của công tác thi hành án; đặc điểm
của hoạt động thi hành án; hình thức hoạt động thi hành án (lẽ ra phải là bản chất,
đặc điểm, hình thức của thi hành án)... thì những từ công tác, hoạt động không còn
ý nghĩa ban đầu; ở đây chỉ thấy nổi rõ nghĩa của thi hành án. Khái niệm thường

Quan điểm thứ hai: Thi hành án là một giai đoạn mang tính Hành chính - Tư
pháp, bởi vì:
Một là, thi hành án thực chất là hoạt động chấp hành, điều hành. Điều hành
và chấp hành là đặc trưng của quản lý hành chính. Tuy nhiên đây là hoạt động chấp
hành và điều hành để thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, tức là một nội dung
có tính chất tư pháp. Do vậy khó có thể nói nó là giai đoạn của tố tụng.
Hai là, với tính chất là hoạt động điều hành, cho dù căn cứ để thi hành là các
bản án, quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành án không chỉ là các hoạt động

8


mang tính tố tụng, không chỉ áp dụng luật tố tụng, mà nội dung của nó phải áp dụng
nhiều văn bản pháp luật khác để giải quyết luật nội dung.
Ba là, trong quá trình thi hành án, phương pháp áp dụng chủ yếu là kết hợp
giữa giáo dục thuyết phục và mệnh lệnh hành chính, mục đích tác động trực tiếp tới
đối tượng thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng buộc họ phải thực hiện
nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn
trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích Nhà nước, tập thể và côngdân.
Bốn là, việc thi hành án treo được giao cho cơ quan, tổ chức, chính quyền địa
phương thực hiện theo thủ tục hành chính. Pháp luật được áp dụng không phải chỉ
riêng luật tố tụng mà còn bao gồm các qui định pháp luật hành chính- tưpháp.
Như vậy có thể nói hoạt động thi hành án là sự kết hợp biện chứng giữa quá
trình tố tụng và thi hành án hình sự, thi hành án là hoạt động mang tính hành chínhtư pháp.
Quan điểm thứ ba: Thi hành án là hoạt động tư pháp bởi những lý do sau đây:
Một là, trước hết cần khẳng định, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của giai
đoạn xét xử, hoạt động xét xử là tiền đề của hoạt động thi hành án.
Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi
hành án. Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới chỉ là điều kiện

Khái niệm tư pháp hiểu theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động xét xử của Tòa án,
thông qua những thủ tục tố tụng nhất định nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì, bảo đảm
công lý, công bằng xã hội.
Là một trong các hoạt động tư pháp, với mục đích chung là: "Bảo vệ công lý,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" [41], thi
hành án có những đặc trưng cơ bản sauđây:
Thi hành án dựa trên cơ sở kết quả xét xử của Tòa án. Những bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để các cơ quan nhà nước, người phải thi
hành án, người được thi hành án, người có quyền và lợi ích liên quan thực hiện các
quyền và nghĩa vụ theo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòaán.
Chủ thể thi hành án có rất nhiều loại, đó có thể là Tòa án, cơ quan Công an,
cơ quan thi hành án, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi
người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc các cơ sở chuyên khoa y tế. Vai trò của
từng loại chủ thể khi tham gia vào quá trình thi hành án khác nhau, phụ thuộc vào
từng loại việc thi hành án.

10


Các chủ thể thi hành án phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ về thi hành
án. Những quy định rất chi tiết, cụ thể như: trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành
án; cách thức tổ chức việc thi hành án; giải quyết khiếu nại hoặc trả lời kháng nghị
việc thi hành án... Những quy định này được thực hiện một cách độc lập, do người
có thẩm quyền tiến hành mà không phụ thuộc vào các hoạt động tố tụng khác như
trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
Bản án, quyết định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà
nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn
nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính. Việc thực hiện bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu quả một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước,

thứ hai, có sự tham gia của các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) vào quá trình thi
hành án. Chúng tôi cho rằng quan niệm như vậy có nhiều điểm hợp lí. Tuy nhiên,
như đã phân tích ở đoạn trên, cái căn bản trong thi hành án là tính chất chấp hành,
quản lí và phương pháp bắt buộc, nghĩa là tính hành chính là cái nổi trội, cơ bản,
quán xuyến. Vì vậy, có thể dùng "cái gạch ngang" giữa hành chính và tư pháp để
phản ánh bản chất của thi hành án. Vấn đề đặt ra là có thể xác định được mức độ
(liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong thi hành án hay không? Thật
khó có thể xác định rõ được điều này. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã cho thấy rằng,
đặc điểm của mỗi loại hình thi hành án cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng
loại hình thi hành án quy định mức độ của tính hành chính và tính tư pháp. Theo
chúng tôi, trong thi hành án, tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với
tính hành chính.
Các đặc trưng của thi hành án, Thi hành án có những đặc trưng cơ bản sau:
Thi hành án là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của toà án. Bản án,
quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động
thi hành án. Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng
không có hoạt động thi hành án. Tuy nhiên, thi hành án lại không phải là giai đoạn
tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không
phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án; thi hành án đòi hỏi
những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Ví dụ, để có thể tiến hành
các hoạt động thi hành án thì phải có quyết định thi hành án và phải dựa trên những
quy định cụ thể về thi hành án..
Thi hành án là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến
hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết
định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong
thi hành án có những nét riêng thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, nó chủ yếu do cơ quan tư

12




13


đạo của các tổ chức Đảng thì việc thi hành các bản án phức tạp khó đạt được kết
quả tốt.
Về nội dung thi hành án, Nội dung thi hành án rất rộng, bao gồm toàn bộ các
hoạt động từ khi ra quyết định thi hành án cho đến khi giải quyết xong tất cả các
vấn đề của người phải thi hành án, nghĩa là đến khi các đương sự hay người bị kết
án trở lại trạng thái bình thường, trong đó có việc phải tạo điều kiện cho người phải
thi hành án phạt tù có việc làm để bảo đảm cuộc sống bình thường. Có ý kiến khác
lại cho rằng nội dung thi hành án chỉ giới hạn ở việc thực thi về mặt pháp luật các
nội dung thể hiện trong các bản án, quyết định của toà án. Ví dụ, trong thi hành án
dân sự khi người thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ được xác định trong bản
án hay quyết định của toà án là xong còn hậu quả xã hội có liên quan đến các đương
sự thì họ phải tự lo liệu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức giải quyết theo thủ tục khác.
Trong thi hành án phạt tù, thi hành án sẽ kết thúc khi người bị kết án tù đã chấp
hành xong hình phạt tù hoặc được đặc xá. Tình trạng của người này sau khi ra tù thế
nào được giải quyết theo thủ tục khác. Chúng tôi nghiêng về quan niệm thứ hai, bởi
vì bất cứ dạng hoạt động nào cũng chỉ có giới hạn của nó. Đối với thi hành án, nếu
mở rộng giới hạn của nó như quan niệm thứ nhất thì khó có thể bảo đảm được tính
hiện thực cuả nó.
Về các loại hình thi hành án, ở nước ta có 5 loại hình thi hành án: Dân sự,
hình sự, kinh tế, lao động, hành chính. Bên cạnh những điểm chung, mỗi loại hình
thi hành án lại có những đặc điểm riêng và trong không ít trường hợp chúng có sự
đan xen lẫn nhau. Chính sự đan xen này làm nảy sinh những vướng mắc về mặt lí
luận. Chẳng hạn như việc phạt tiền, tiêu huỷ tang tài vật trong án hình sự; việc nhận
người làm việc lại trong án lao động có thuộc phạm vi thi hành án dân sự không?
Phạm vi thi hành án dân sự có phải chỉ là những vấn đề có liên quan đến tài sản và
bồi hoàn hay bao gồm tất cả những vấn đề có tính dân sự? Những vấn đề liên quan

quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết
định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ
chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa. Việc thực hiện bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu quả một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của
Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ
quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi
phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâmhại.
1.1.2. Khái niệm án treo, bản chất, trình tự, thủ tục thi hành án
1.1.2.1. Khái niệm án treo

15


Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm
tước bỏ, hạn chế quyền lợi của người phạm tội. Theo Điều 27 Bộ luật hình sự năm
1999 thì " Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ
trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của
cuộc sống Xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo
dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm". Bên
cạnh việc áp dụng các hình phạt, Việt nam và một số quốc gia khác sử dụng các
biện pháp khác đó là ántreo.
Án treo là một chế định ra đời từ rất sớm. Trên thế giới, mỗi Quốc gia có qui
định khác nhau về chế định này, chẳng hạn luật hình sự của Anh và Mỹ coi án treo
là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm
bằng tiền. Luật hình sự của Pháp, Bỉ và một số nước coi án treo là việc hoãn hoặc
miễn chấp hành hình phạt. Các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây coi
án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, nhưng cũng có nước
coi án treo là hình phạt chính như Cộng hòa dân chủ Đức [28,tr.8].
Ở nước ta, chế định án treo được qui định ngay từ những năm đầu của Nhà
nước dân chủ nhân dân và tồn tại cho đến ngày nay, mặc dù chưa có văn bản luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status