TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
CAO THỊ DIỆU THÚY
TỰ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN
KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013 - 2017
ĐỒNG HỚI, NĂM 2017
Lời cảm ơn
Trước hết tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý
thầy cô giáo trường Đại học Quảng Bình đã tận tâm dạy dỗ, truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm ngồi trên ghế giảng đường.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô giáo trong khoa Khoa
học Xã hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo Lương Hồng Văn đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trung tâm học liệu Trường Đại học Quảng
Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về nguồn tài liệu tham khảo. Cảm ơn gia đình
cũng như bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh, động viên, khích lệ tôi trong
suốt khóa học và trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện thời gian và năng lực
CHƯƠNG I: TỰ THUẬT VÀ YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ CA CỦA
NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ...............................................................................................9
I.1. Tự thuật .....................................................................................................................9
I.2. Yếu tố tự thuật trong văn học trung đại Việt Nam....................................................9
I.3. Yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương dưới góc nhìn của lịch
sử, văn hóa và xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX...................................................11
CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỰ THUẬT
CỦA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG...................................................17
II.1. Nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương ..........17
II.2. Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến ..............19
II.2.1. Hình tượng con người đời thường ......................................................................20
II.2.2. Hình tượng con người trầm tư ............................................................................25
II.3. Các dạng thức nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Trần Tế Xương ...............33
II.3.1. Hình tượng con người thị tài ...............................................................................34
II.3.2. Hình tượng con người tự trào .............................................................................38
CHƯƠNG III: BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN
KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG ....................................................................................45
III.1. Giọng điệu ............................................................................................................45
III.1.1. Giọng tâm tình ...................................................................................................46
III.1.2. Giọng tự trào ......................................................................................................50
III.1.3. Giọng cảm thương .............................................................................................54
III.2. Một số biểu hiện khác của yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương ............................................................................................................................58
III.2.1.Yếu tố tự thuật biểu hiện qua nhan đề ................................................................ 58
III.2.2. Yếu tố tự thuật gắn liền với các sự kiện trong cuộc đời của mỗi nhà thơ .........58
III.2.3. Yếu tố tự thuật biểu hiện qua cách dùng đại từ nhân xưng, trợ từ và lớp từ vựng
khẩu ngữ ........................................................................................................................59
Và trong nền văn học trung đại Việt Nam thì ít có tác giả tự kể chuyện về đời
mình, tự lấy cuộc sống của mình làm chất liệu cho những sáng tác thơ ca, điều đó gắn
liền với ý thức giấu kín cái tôi cá nhân của người Việt xưa. Nhưng cùng với quá trình
đổi mới của văn học theo hướng thoát ly những lề lối phong kiến cũ mà khuynh hướng
tự thuật đang dần trở thành một khuynh hướng chủ yếu trong sáng tác thơ ca ở giai
đoạn cuối thế kỷ XIX. Và trong những sáng tác của mình, thì Nguyễn Khuyến cũng
như Trần Tế Xương đều sử dụng yếu tố tự thuật như một phương tiện, một cách thức
để họ thể hiện sự trải nghiệm về cuộc đời của bản thân, đồng thời nó còn nhằm mục
đích để giải phóng những sự bí bách, kìm hãm và giới hạn của cá nhân tác giả cũng
như thời đại. Tự thuật mặc dù không phải là đặc tính riêng trong các sáng tác của
1
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, nhưng đây là một trong những nét ưu trội nhất tạo
nên phong cách riêng của hai tác giả.
Là những người học văn, yêu văn, khi đọc tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Trần
Tế Xương đặc biệt là những vần thơ tự thuật, chúng tôi có một ấn tượng sâu sắc về
phong cách độc đáo của mỗi nhà thơ được in dấu trên từng trang viết. Với mong muốn
được tìm hiểu sâu sắc hơn về yếu tố tự thuật và hiệu quả của nó trong việc góp phần
làm nên giá trị cho văn chương của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương mà chúng tôi
quyết định lựa chọn và thực hiện đề tài: Tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương với hy vọng nó sẽ góp thêm một cái nhìn mới, một hướng tiếp cận mới với các
sáng tác của hai nhà thơ trên đồng thời tự trang bị, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức
cho bản thân trên con đường giảng dạy sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương là hai nhà thơ có sự nghiệp văn chương khá
phong phú, phản ánh rõ từng bước đi, từng hơi thở của thơ ca trong giai đoạn giao thời
từ trung đại sang hiện đại. Bởi vậy mà những sáng tác của họ dành được khá nhiều sự
quan tâm từ các nhà nghiên cứu, nhà phê bình cùng những người yêu mến văn chương.
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài này, chúng tôi nhận thấy có những tài
nhà nghiên cứu đã phát hiện thêm nhiều phương diện mới mẻ, góp phần khẳng định vị
trí Nguyễn Khuyến là: “nhà thơ làng cảnh Việt Nam”, “nhà thơ trào phúng xuất sắc”,
“nhà thơ trữ tình lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX”.
Về nghiên cứu yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến thì GS. Nguyễn Lộc và
GS. Đặng Thanh Lê đều có ý kiến cho rằng, những bài thơ viết về bản thân nhà thơ,
những bài thơ có đề tài tự thuật, tự họa đều xuất phát từ những tâm sự riêng tây của tác
giả, đậm chất tự thuật và thể hiện rõ phong cách Nguyễn Khuyến. “Nguyễn Khuyến
viết khá nhiều về mình, khi thì viết có tính chất trữ tình, khi thì viết có tính chất trào
phúng. Nhưng dù trào phúng hay trữ tình, nói chung đều buồn“ [13, tr 744], “Một loạt
những bài thơ tự thuật hoặc gửi bạn bè, con cái là những bài thơ nổi tiếng được ưa
thích của Nguyễn Khuyến. Và những câu thơ hay thường là những câu thơ có giá trị
như những bức tranh tự họa hóm hỉnh, sâu sắc của “ông già” Nguyễn Khuyến” [4, tr
121].
2.2. Về các tài liệu nghiên cứu thơ Trần Tế Xương
Công trình phê bình văn chương và thân thế Trần Tế Xương lần đầu tiên được
giới thiệu tương đối công phu, hệ thống khá đầy đủ là tập sách Trông dòng sông Vị của
Trần Thanh Mại [15]. Bên cạnh việc đánh giá cao các giá trị nội dung và nghệ thuật
thơ Tế Xương, Trần Thanh Mại cũng đã chỉ ra những phương diện hạn chế của đề tài
cũng như là phạm vi đời sống hiện thực.
3
Việc nghiên cứu thơ Tế Xương chỉ thực sự phát triển mạnh cả về số lượng lẫn
chất lượng kể từ sau năm 1954. Vấn đề thơ văn Tế Xương càng được nhấn mạnh hơn
khi các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học thuộc nhóm Lê Quý Đôn đã xác định ông
là một tác gia văn học lớn, là “nhà thơ trào phúng có biệt tài”, “vận dụng ngôn ngữ
dân tộc một cách tài tình” [19]. Tại miền Nam, Nguyễn Sỹ Tế đặc biệt đánh giá cao
thơ Tế Xương, là nhà thơ “đã ghi công đầu trong nền thi ca trào phúng của nước nhà”
[29]. Nhà nghiên cứu Văn Tân trong Văn học trào phúng Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến
tầng thứ ba là những bài triết lý, tầng thứ tư là những bài thơ tự thuật. [...] Nhưng cả
ba loại đó (trào phúng, ưu thời, triết lý) phải bắt đầu bằng loại tự thuật, nhờ loại này
chúng ta thấy rõ thân phận tác giả với giai cấp tác giả. [...] Loại tự trào chỉ là một
trường hợp của loại này” [26, tr 79-80]. Như vậy, Thạch Trung Giã cũng xếp tự trào
vào trong thơ tự thuật.
Đánh giá về thơ Tế Xương, GS Nguyễn Lộc nhận xét: “Tú Xương có những bài
viết về mình, về cuộc sống, tâm tư, tình cảm của mình. Ở đây cái tôi của nhà thơ thể
hiện rất rõ” [13, tr 778]. “Ngoài chủ đề phản ánh cuộc sống, phản ánh sinh hoạt, Tú
Xương còn có một bộ phận sáng tác viết về bản thân mình. Ở đây yếu tố trữ tình và
yếu tố trào phúng thường đan chéo vào nhau” [21, tr 435]. Nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân và tiếng cười giải thoát trong thơ Trần Tế
Xương: “Nhà thơ đã dùng tiếng cười tự trào để giải thoát cho mình, tự khẳng định
nhân cách mình, tạo thành một thế cân bằng mới. Tú Xương đi ngược lại truyền thống
thơ ngôn chí, là thơ làm ra để tự khẳng định cái chí hướng, lý tưởng của mình. Ở thời
Tú Xương, cái chí cũ đã mất thiêng mà cái chí mới chưa rõ” [26, tr 415]. Trong Thơ
Tú Xương với kiểu tự trào thị dân, tác giả Đoàn Hồng Nguyên đã phân tích và làm rõ
đặc trưng trong kiểu tự trào của thơ Tế Xương: “Trong cảm thức thị dân, bằng lối tự
trào, tự vịnh, Tú Xương đã tạo nên một kiểu nhà nho thị dân, một kiểu trữ tình trào
phúng thị dân” [26, tr 425]. Tác giả đã so sánh sự khác biệt của hai phong cách tự trào
trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương: “Nếu kiểu tự trào của Nguyễn Khuyến
là kiểu tự trào ngôn chí, [...] kiểu tự trào vẫn mang tính chất giáo hóa, phi ngã hóa,
chưa thoát ra khỏi quy phạm của văn chương nhà nho” [26, tr 420] thì kiểu tự trào của
Tế Xương “lại mang đậm tính chất thị dân” [26, tr 425], đây là một trong những “yếu
tố quyết định làm nên tính bất quy phạm, tạo nên sắc thái hiện đại trong văn chương
nhà nho của Tế Xương qua kiểu tự trào” [26, tr 425] so với thơ của các nhà nho trung
đại.
Như vậy, vấn đề về yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương
dù có lúc không gọi ra đích danh thuật ngữ, nhưng các khía cạnh của yếu tố tự thuật
trong thơ của hai tác giả đã được các nhà phê bình, nghiên cứu văn học quan tâm từ
lâu qua việc dẫn chứng và giới thiệu thơ, qua các công trình nghiên cứu về tác giả, về
Phùng, Nguyễn Công Trứ, Dương Khuê, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du để so sánh, đối
chiếu và làm rõ vấn đề.
4. Phương pháp nghiên cứu
6
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên
cứu chính sau:
4.1. Phương pháp thống kê; so sánh
Phương pháp thống kê là phương pháp quan trọng đầu tiên chúng tôi vận dụng để
xử lý đề tài: thống kê, mô tả số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn
Khuyến và Tế Xương; thống kê và mô tả số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật trong
thơ của một số tác giả tiêu biểu văn học Việt Nam thế kỷ XIX. Cùng với phương pháp
thống kê, trong quá trình phân tích, lý giải vấn đề, chúng tôi sử dụng phương pháp so
sánh để so sánh, đối chiếu yếu tố tự thuật biểu hiện trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương với nhau và với các nhà thơ cùng thời khác để từ đó làm nổi bật được những
nét độc đáo trong thơ tự thuật của mỗi nhà thơ.
4.2. Phương pháp phân tích; tổng hợp
Vận dụng phương pháp này, chúng tôi sẽ phân tích văn bản thơ; phân tích và
tổng hợp các vấn đề liên quan đến yếu tố tự thuật trong phạm vi nội dung đề tài. Qua
đó, chúng tôi có thể khái quát một cách hệ thống các bình diện nghiên cứu.
4.3. Phương pháp thi pháp học; văn hóa học
Sử dụng phương pháp thi pháp học, chúng tôi nghiên cứu văn bản thơ trên hai
bình diện cơ bản: quan niệm về con người trong thơ trữ tình trung đại (trong tương
quan với cái tôi trữ tình - tự thuật của nhà thơ) và giọng điệu trong thơ tự thuật của
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương.
Chúng tôi vận dụng phương pháp văn hóa học để đặt các yếu tố tự thuật trong
thơ của hai tác giả vào môi trường văn hóa Việt Nam những năm nửa cuối thế kỷ XIX
đến đầu thế kỷ XX nhằm lý giải, đánh giá những đóng góp của thơ tự thuật Nguyễn
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỰ THUẬT VÀ YẾU TỐ TỰ THUẬT TRONG THƠ CA CỦA
NGUYỄN KHUYẾN, TRẦN TẾ XƯƠNG TRONG DÒNG CHẢY
CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
I.1. Tự thuật
Tự thuật là một đặc trưng của sáng tác văn học, bởi sáng tác văn học bao giờ
cũng là một nhu cầu nội tại hóa bản thân, và chủ thể sáng tác luôn có nhu cầu để giải
phóng những ẩn ức từ đó hướng đến sự chia sẻ thế giới nội tâm cùng độc giả. Và
nghiễm nhiên tự thuật sẽ trở thành một kênh giao tiếp tích cực giữa chủ thể sáng tạo
với chủ thể tiếp nhận.
Theo Từ điển tri thức văn hóa (Dictionary of Culturual Literacy) thì tự thuật là
“Một tác phẩm văn học viết về chính cuộc đời nhà văn” (E.D.Hirsch). Hoặc rõ ràng
hơn, theo M.H.Abrams định nghĩa “Tự thuật là tiểu sử được một người viết về chính
bản thân anh ta hoặc cô ta”. Tuy nhiên, định nghĩa của Abrams khá rộng cho cả
những người không phải là nhà văn, mà ở đây chúng ta chỉ giới hạn nội hàm khái niệm
là sáng tác của các nhà văn mà thôi. Ở một tầm khái quát hơn, Philippe Lejeune - nhà
lí luận của thể loại này, trong cuốn Tự thuật ở Pháp (1971), đã định nghĩa tự thuật
chính là “Truyện kể mang tính chất nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc
sống của mình, khi người đó chú trọng đến đời sống riêng, nhất là sự hình thành nhân
cách”.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì các tác giả cũng đã chỉ ra rằng tự thuật
là “yêu cầu trình bày một cách súc tích những sự kiện đã xảy ra trong cuộc đời nhà
văn […] Tự thuật đòi hỏi người viết phải hết sức tôn trọng tính xác thực của các sự
kiện” [9, tr 330].
Với những khái niệm “tự thuật” như trên thì ta có thể hiểu nội hàm khái niệm tự
thuật tức là kể về bản thân mình, hoặc là ghi lại những chuyện về gia đình, về bạn bè
và về xã hội nơi bản thân đang sống, đang chứng kiến và tham gia… Những cách tự
thuật này phải liên quan và gắn bó hữu cơ với bản thân người tự thuật: tác giả - nhà
thơ, tự kể về chuyện mình, chuyện người qua điểm nhìn của “cái tôi tự thuật”.
I.2. Yếu tố tự thuật trong văn học trung đại Việt Nam
(Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung), Mạn thuật (Nguyễn Mộng Tuân), các bài
thơ Mạn thuật và Thuật hứng của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, một số bài Tự
thuật (Thơ Nôm) của Lê Thánh Tông, Tự thuật (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Tự tình I-II-III
(Hồ Xuân Hương)…
Thứ hai, yếu tố tự thuật trong thơ trung đại Việt Nam còn gắn liền với việc thuật
lại, ghi lại những sự kiện xảy ra trong cuộc đời của tác giả lúc về ở ẩn, lúc đau ốm,
trong dịp lễ tết, các chuyến đi công cán qua các địa danh, các vùng đất…(như Sở kiến
10
hành của Nguyễn Du, Dương phụ hành của Cao Bá Quát…) Có thể nói mỗi biến cố,
mỗi thăng trầm mà nhà thơ đi qua đều để lại dấu ấn trên từng trang thơ.
Như vậy, nhìn chung thì yếu tố tự thuật trong giai đoạn văn học trung đại được
biểu hiện khá phong phú, nó trở thành phương thức sáng tác mới cho thơ ca của các
nho sĩ, đem đến cho văn chương lúc bấy giờ một diện mạo mới khởi sắc hơn.
I.3. Yếu tố tự thuật trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương dưới góc
nhìn của lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, về lịch sử thì nó được bắt đầu
từ sự kiện thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (năm 1858) rồi kết thúc bằng sự thất bại
của phong trào Cần Vương (năm 1896) và thực dân Pháp bắt đầu công cuộc khai thác
thuộc địa của chúng. “Về văn học, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX bắt đầu bằng thơ văn
yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn tố cáo hiện thực của Tú
Xương và Nguyễn Khuyến” [13, tr 577]. Do phát triển trong điều kiện xã hội có những
biến cố trọng đại, và sau lưng nó có một truyền thống lâu đời về văn học và văn hóa
mà văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX có những nét đặc thù riêng và có những
cống hiến nhất định cho lịch sử phát triển của văn học dân tộc. “Trên quan điểm sự
vận động của lịch sử, có thể nói giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX đánh dấu sự
kết thúc truyền thống cổ trong văn học Việt Nam và văn học những năm đầu thế kỷ XX
sẽ mở ra một thời kỳ mới, chuẩn bị cho sự phát triển hiện đại của văn học” [13, tr
578].
Trách nhiệm càng cao thì mối lo càng lớn,
Nghĩ mình cũng trong cửa tướng, mà riêng thẹn với tiếng anh hùng.
(Lâm chung thời tác - Làm lúc sắp mất - Lời thơ dịch)
“Phan Đình Phùng ngã xuống đã kết thúc phong trào Cần Vương. Cùng với cái
chết của ông, một mẫu người đẹp, một hình tượng văn học đẹp trong văn học trung đại
– người trung nghĩa, người hành đạo theo nhà nho chính thống – cũng kết thúc” [5, tr
76].
Trong thời đại giao thoa với phương Tây những năm nửa cuối thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX, cùng với sức mạnh về khoa học kỹ thuật của nó đã buộc các nhà nho
Việt Nam “với tính cách là nhân vật văn hóa, kẻ trước người sau phải nhận ra sự vô
nghĩa, vô dụng của tài năng dù là tài năng thiên phú, nghi ngờ cái học thuyết được
cho là thiên kinh địa vĩ đại. […] Sự rạn nứt của quan niệm về nhân cách nho giáo
ngày càng rõ nét, không gì ngăn cản được đã đem đến những cái mới cho thơ ở giai
đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX” [31, tr 605]. Đến cuối thế kỷ XIX, khi Nho giáo
như một hệ thống giá trị văn hóa đã bộc lộ những mặt hạn chế không thể khắc phục
trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây, những phẩm chất cao quý mà các nhà
nho cố gắng gìn giữ, nuôi dưỡng bấy lâu nay đã không chặn đứng được cuộc xâm lược
12
của thực dân Pháp thì lịch sử mới chứng kiến một sự thay đổi to lớn trong quan niệm
về nhân cách của nhà nho. Và lúc này thơ ca trào phúng Việt Nam đã có đủ các cung
bậc khác nhau, và “cái cười đã đóng vai trò của cái nhìn thẩm mỹ đối với cuộc sống,
báo hiệu sự suy giảm của quan điểm coi sáng tác để giáo hóa như quan niệm văn học
Nho gia truyền thống” [31, tr 688].
Và trên nền tảng của thời kỳ văn học ấy, chúng tôi đã tiến hành khảo sát yếu tố tự
thuật trong tư liệu thơ của sáu tác giả tiêu biểu: thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thơ
Nguyễn Công Trứ, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Thông, thơ Nguyễn Xuân Ôn và thơ
Nguyễn Quang Bích (Xem bảng thống kê ở phụ lục 1). Có thể nhận thấy trong thơ của
sáu tác giả trên, số lượng các bài thơ có yếu tố tự thuật chiếm tỉ lệ trung bình khoảng
Hay:
“Hẩu lố”, “mét xì” thông mọi tiếng,
Chẳng sang Tàu cũng tếch sang Tây”
(Mai mà tớ hỏng)
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX cũng đã báo hiệu sự sụp đổ của hệ thống nhân
sinh quan phong kiến, sự đảo ngược của luân thường đạo lý đã tạo ra một xã hội đầy
quái tượng: vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, sĩ phu chẳng ra sĩ phu, tăng lữ
chẳng ra tăng lữ, người chẳng ra người… đã khiến Tế Xương phải giương mắt nhìn
đời để rồi lại cười trong bất lực:
Bắt chước ai, ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết cả trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người.
(Chúc tết)
Khác với các tác giả văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ
XIX – tiếp tục mạch văn chương về thân phận con người đặc biệt là con người tài tử
giai nhân, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương lại lấy nỗi đau bản thân để tự thuật, để
soi rọi tâm hồn mình. Từ đó đã xác lập một lý tưởng thẩm mỹ cách tân so với truyền
thống: từ một quan điểm thẩm mỹ đang phổ biến trong xã hội kẻ sĩ lúc bấy giờ là cảm
hứng hướng về “cái cao cả” đã nhanh chóng ngả về một phía quan điểm thẩm mỹ đối
lập – tìm thấy vẻ đẹp chân thực của “cái thông tục”, đời thường, đời tư. Sự thay đổi về
quan niệm thẩm mỹ dẫn đến sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người vừa phù
hợp với sự thay đổi của lịch sử xã hội – văn hóa, vừa là một tất yếu của sự vận động
lịch sử văn học: từ kiểu con người yêu nước, con người trung quân ái quốc trong thơ
ca Lý Trần, trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm; con người thể hiện bản năng
trong thơ Hồ Xuân Hương; con người cô đơn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du; đến
kiểu con người thị tài, con người công danh hưởng lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ,
Cao Bá Quát; và cuối cùng là kiểu con người đời thường, đời tư, tự trào trong thơ
tự trào… “Có thể nói, lý tưởng thẩm mỹ của văn học giai đoạn này đã khác trước, về
cơ bản nó không còn đồng nhất với lý tưởng đạo đức mà tách ra khỏi lý tưởng đạo
đức. Cái đẹp ở đây không phải là cái đạo đức được gọi tên một cách khác, mà là cuộc
sống” [13, tr 49].
15
Tóm lại văn học Việt nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, từ phạm trù thẩm mỹ
của “cái cao cả” đã chuyển sang phạm trù “cái đời thường”; từ kiểu nhà nho tài tử đến
kiểu nhà nho mất gốc vào những năm đầu thế kỷ XX; từ kiểu con người quan phương,
con người trung nghĩa, con người đạo đức chuyển sang con người đời thường, con
người đời tư với cái tôi trữ tình – tự thuật rõ nét. Điều này được biểu hiện khá đậm nét
trong các bài thơ, câu thơ mang tính chất tự thuật của thơ ca Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XIX nói chung và trong thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương nói riêng.
16
CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
TRONG THƠ TỰ THUẬT CỦA NGUYỄN KHUYẾN VÀ TRẦN TẾ XƯƠNG
II.1. Nhân vật trữ tình trong thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế
Xương
Nhân vật trữ tình là “hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý
thức tác giả. Nhân vật trữ tình thường là con người “đồng dạng” của tác giả - nhà thơ
hiện ra từ văn bản của kết cấu trữ tình… như một con người có đường nét, hay một vai
sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả
nét vẽ chân dung” [9, tr 197]. Mặt khác khi sáng tác, các nhà thơ lại có thể hóa thân
trong một nhân vật khác, tạo thành nhân vật trữ tình nhập vai. Tất nhiên, “yếu tố nhập
vai và yếu tố tự thuật tâm trạng trong tác phẩm trữ tình cũng liên hệ mật thiết với
một hình tượng con người được thể hiện bằng nghệ thuật” [2, tr 146]. Như vậy sự xuất
hiện của cái tôi trữ tình và ý thức con người cá nhân trong văn học trung đại luôn song
hành cùng với sự xuất hiện cái tôi tự thuật trong thơ. Điều này cũng có nghĩa là, trong
thơ tự thuật sẽ xuất hiện cái tôi trữ tình – tự thuật và cũng chính là hình tượng nhân vật
trữ tình – tự thuật.
Nếu trong thơ trung đại Việt Nam đặc biệt là trong thơ của các nhà nho, ta chỉ bắt
gặp hai loại nhân vật trữ tình chủ yếu: “cái tôi” nhà thơ trong tương quan với thiên
nhiên và “cái tôi” trong tương quan với xã hội, thì đến thơ Nguyễn Khuyến, Tế Xương
ở mức độ khác nhau đã cho ta thấy sự rạn nứt của nhân cách nho giáo cùng với sự thế
tục hóa của nó. “Nhà thơ giai đoạn này, chủ yếu là vào khoảng cuối giai đoạn, sáng
tác không phải nhân danh con người nói chung, hay nhân danh một tầng lớp xã hội,
một nguyên lý đạo đức, mà nhân danh một cá nhân, một cá thể. Trong thơ xuất hiện
khá phổ biến những đại từ ngôi thứ nhất số ít như tôi, tớ, ông, mình, em để thay thế
cho ta, hoặc một chủ ngữ ẩn đồng loại, phong cách cá nhân cũng nhờ đó mà rõ nét”
[13, tr 601]. Mặt khác, với điều kiện lịch sử, xã hội, văn hóa và quan điểm thẩm mỹ
mới, trong thơ ca Việt Nam cuối thế kỷ XIX, “Cái tôi nhà thơ không còn đứng cao
hơn trong xã hội, không còn trình diện như bậc thiên sứ nữa. Cái tôi ấy bây giờ trở lại
tư cách một thành viên bình thường của xã hội và nhìn cuộc sống bằng con mắt của
một thành viên như thế. Hiện tượng này đã đem lại nhiều cái mới về chất cho thơ ca”
[31, tr 605].
Bởi vậy mà ta có thể khẳng định cái tôi trữ tình hay chính nhân vật trữ tình trong
thơ tự thuật của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là những lời tự thuật tâm trạng của
mỗi nhà thơ về bản thân, về cuộc đời. Qua mỗi bài thơ tự thuật của họ, người đọc nhận
ra các biến cố chính trị - lịch sử dân tộc và những suy tư, trăn trở lo âu của mỗi nhà thơ
về thời cuộc, về vận nước, vận dân. Đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu văn học
18
Nga V.E. Khalizep “Những bài thơ mà chủ thể trữ tình đồng nhất hoặc gần gũi nhiều
đầy vị tha về tình người và tình đời” [4, tr 54], với các bài thơ tự thuật của ông thì
19
nhận xét này lại càng chính xác hơn. Bỏ lại sau lưng “mười năm gió bụi” nhưng vẫn
trăn trở cho lý tưởng “trí quân trạch dân” và nhận thấy sự bất tài của mình, Nguyễn
Khuyến đã tìm tới sự cân bằng trong gia đình, trong tình làng nghĩa xóm, trong các
quan hệ bạn hữu. Tuy vậy, nhà thơ vẫn không thoát khỏi sự bế tắc, đến nỗi phải tự
trào, tự giễu mình, ông đặc biệt có biệt tài dùng những chữ nghĩa bông lơn để diễn đạt
những cơn sóng lòng dữ dội:
Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng!
(Tự trào)
Trong thơ Nguyễn Khuyến, số lượng các bài thơ tự thuật chữ Hán nhiều hơn thơ
chữ Nôm và yếu tố tự thuật trong thơ ông giai đoạn sau khi trở về Yên Đổ đậm đặc
hơn trong thời gian khi ông đương làm quan (Xem phụ lục 2). Điều này chứng tỏ sau
khi từ quan để trở về vườn Bùi, Nguyễn Khuyến lại chất chứa nhiều suy tư, trăn trở
hơn, bởi vậy mà hình tượng nhân vật trữ tình ở trong thơ tự thuật của ông cũng rất
phong phú.
II.2.1. Hình tượng con người đời thường
Con người đời thường là kiểu con người sống bình dân, phi nho, gắn bó với
người dân quê và cuộc sống đời thường. Quan niệm nghệ thuật về con người trong
hành trình sáng tác thơ của Nguyễn Khuyến luôn vận động, biến đổi, “là một quá trình
lâu dài và nỗ lực chiếm lĩnh hiện thực khách quan của chủ thể thẩm mĩ, tương ứng với
một quá trình chuyển biến khá căn bản con người xã hội ở trong ông: từ ông nghè
Tam Nguyên trở thành ông “tiến sĩ giấy”; từ vị quan hàn lâm trong triều đến “ông
phỗng đá” trong dinh Hoàng Cao Khải; từ cụ Thượng Và đến một “lão nông” thực
thụ” [4, tr 36]. Nguyễn Khuyến làm quan tất cả có mười một năm (1872-1883), còn
phần lớn cuộc đời ông là ở quê nhà, một vùng đồng chiêm trũng nước. Thời gian làm
quan cũng như lúc về già, Nguyễn Khuyến bao giờ cũng nghèo và được tiếng là thanh