PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Về khoa học:
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương Xương là hai tác giả lớn của văn học
dân tộc, cùng sống trong một giai đoạn lịch sử và là những nhà Nho ở giai đoạn
giao thời giữa trung đại và cận hiện đại.
Hai nhà thơ đều có nhiều đóng góp lớn về phương diện nghệ thuật. Trong đó
nổi bật nhất là việc xây dựng những biểu tượng nghệ thuật thơ Nôm của Nguyễn
Khuyến và Trần Tế Xương. Thông qua những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa,
chúng ta có thể thấy được ảnh hưởng qua lại của văn hóa truyền thống và thời đại
trong sáng tác của hai nhà thơ. Đồng thời từ những biểu tượng nghệ thuật, ta hiểu
rõ hơn tài năng của tác giả, thấy được sự khác nhau trong sáng tác Nôm của
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, góp phần làm sáng tỏ phong cách hai cây đại
thụ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX.
1.2. Về thực tiễn:
Sáng tác của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương được giảng dạy trong nhà
trường từ bậc THCS đến THPT. Đề tài luận văn góp phần bổ ích, tích cực cho việc
giảng dạy về tác giả - tác phẩm Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương trong nhà
trường.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Làm nổi bật yếu tố văn hóa qua các biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm
của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương .
Thấy được sự tương đồng, khác biệt trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và
Trần Tế Xương qua các biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa.
3. Lịch sử vấn đề.
1
Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm lịch sử nhưng thơ văn của Nguyễn
Khuyến và Trần Tế Xương vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng trong lòng những
Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn Nguyễn Khuyến thơ và lời bình đã nhận xét
tầng lớp quan lại trong thơ Nguyễn Khuyến, trong đó có hình ảnh ông tiến sĩ giấy
mang ý nghĩa biểu tượng: “Bọn quan lại thường là những người xuất thân khoa
bản , nhưng khoa bảng trong thời kì này cũng mục nát, không phải là nơi kén chọn
nhân tài. Nguyễn Khuyến đả kích quan lại, ông cũng vạch trần thực chất của khoa
bảng. Triều Nguyễn trong giai đoạn nửa cuối XIX, vẫn giữ được những kỳ thi
hương, thi hội, và những kì thi như vậy vẫn đẻ ra những ông nghè, ông cống.
Đúng như Nguyễn Khuyến nói đó là thứ “ông nghè tháng tám” có cái mẽ bề ngoài
còn bên trong thì chẳng có gì”[16]
Nhà nghiên cứu Vũ Thanh khi nghiên cứu về tâm trạng Nguyễn Khuyến qua
thơ tự trào trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác gia - tác phẩm có nhận xét: “Trong
thơ tự trào hình ảnh Nguyễn Khuyến hiện lên dưới nhiều góc độ khác nhau: khi là
Ông say, khi là ông Lòa, khi Anh giả điếc, khi lại là Lão đá, khi là thứ đồ chơi, khi
lại là mẹ Mốc… Nhìn chung đó là những người yếu đuối về sức lực, nhếch nhác về
hình hài, cam chịu và buông thả, bế tắc và tuyệt vọng… Đó là con người bị chính
ông phê phán, phủ nhận”[40, 273]
Khi bàn về Chất liệu ngày thường và thi tứ khác thường, tác giả Trần Lê
Văn cho rằng “Thơ Nguyễn Khuyến viết về quê mình phần nhiều mang tính thời
sự: Thời sự về công việc làm ăn, về đời sống vật chất và tinh thần của người trong
làng. Chẳng thiếu gì nỗi gian truân của nông dân, nông nghiệp ở đây, trong thời
đại trước” ví dụ: “Năm mất mùa, Vịnh lụt...”[51, 320]
Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Đình Chú trong cuốn Nguyễn Khuyến thơ và lời
bình đã nhận xét Nguyễn Khuyến “Là nhà thơ của dân tình làng cảnh Việt Nam”.
“Hồn thơ Nguyễn Khuyến luôn gắn bó với quê hương làng cảnh nên các hình
ảnh: chim chóc, cây cối, hoa lá, con trâu, khúc sông bãi chợ, đường làng, ngõ
3
trúc... đặc biệt cuộc sống và tâm tình về dân quê đã đi vào thơ ông chân thực và
sinh động vô cùng” [4]
bình yên của đất nước khi chưa có bóng của bọn xâm lược. Nên chỉ nỗi nhớ hoa
cũng là nỗi niềm cố quốc”[40,218]
Nhà nghiên cứu Hoàng Hữu Yên, trong cuốn Nguyễn Khuyến về tác gia, tác
phẩm khi viết về “Vịnh tiến sĩ giấy” đã thống kê một loạt biểu tượng:“cờ dương
danh tiến sĩ, biển ấn tứ vinh quy, mũ mang cân đai... toàn của vua ban và cái tên
quen thuộc: “Ông nghè tháng tám” [40, 228]
Trong cuốn Giáo trình Văn học Trung đại Việt Nam tập 2 (Lã Nhâm Thìn Vũ Thanh đồng chủ biên), nhà nghiên cứu đã lựa chọn hình ảnh“Mẹ Mốc là hình
ảnh của chính Nguyễn Khuyến, là biểu tượng độc đáo cho phẩm chất khí tiết của
bậc quân từ” bởi vì Mẹ Mốc là người đàn bà mang trong mình vết thương lòng do
chồng con đã mất trong loạn lạc chiến tranh, lại có nhan sắc nhiều kẻ dòm ngó.
Nên người đàn bà phải ăn mặc rách rưới giả xấu xí để che mắt thiên hạ. Đặc biệt
tiếng cuốc kêu mang tính biểu tượng sâu sắc:“tiếng kêu da diết đến chảy máu của
con chim quốc- biểu tượng của tiếng gọi hồn nước khi non sông đã mất vào tay kẻ
thù”[45, 346-347]
1.2. Về tác giả Trần Tế Xương
1.1.2. Nghiên cứu chung về tác giả Trần Tế Xương liên quan tới đề tài
Trần Tế Xương là nhà thơ lớn, một đại biểu xuất sắc trong làng thơ trào
phúng Việt Nam. Nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Tú Xương là tiếng cười phê
phán những mặt trái bắt đầu nảy sinh giữa đời sống thành thị. Sự nghiệp sáng tác
của Tú Xương được giới phê bình, nghiên cứu văn học đánh giá cao.
Nguyễn Đình Chú trong Tú Xương, nhà thơ lớn của dân tộc đã viết.“Tú
Xương được mệnh danh là nhà thơ trào phúng lớn, nhà thơ trào phúng kiệt xuất,
trước hết cũng là nhờ cái tâm”. Nhân dịp kỉ niệm 50 ngày mất, 100 năm ngày sinh
nhà thơ Trần Tế Xương, Trần Thanh Mại gọi Trần Tế Xương là“nhà thơ thiên
5
tài”. Còn Đặng Thai Mai khen Trần Tế Xương là“Một người thơ, một nhà thơ vốn
nhiều công đức trong cuộc trường kì xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt
nam”[3]
không phải là thời Tây Hán…” [36, 208]
Cuốn Trần Tế Xương tác phẩm chọn lọc do Vũ Văn Sỹ - Đoàn Ánh Dương
(giới thiệu và tuyển chọn) có nhận xét: “Thơ Tú Xương in đậm hình ảnh đời sống
xã hội thành thị, thể hiện sâu sắc lối sống và sự ra đời một lớp người mới pha tạp,
nhố nhăng, bất ổn. Đó là cả thế giới nhân vật với những ông Huyện, ông Phủ, ông
Đội, ông Cử, cậu Ấm, … mà phần lớn đều “biến dạng” giữa danh và thực, tài và
lực, giữa cái cũ lạc hậu nhưng chưa tiêu tan và cái mới chưa thẳng thế. Tú Xương
đứng giữa dòng văn hóa truyền thống và phương Tây mới mẻ, giữa “bút lông” và
“bút chì”.[37, 12]
- Những nhận xét, đánh giá về nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần Tế
Xương có liên quan tới vấn đề biểu tượng:
Tác giả Nguyễn Đình Chú trong Trần Tế Xương nhà thơ lớn của dân tộc
đã viết“ Ngôn ngữ thơ Trần Tế Xương có khá năng biểu hiện sự sâu sắc cực độ
của thế giới trữ tình, sự phong phú đa dạng và huyền diệu của thế giới tiếng cười”.
Đúng vậy tiếng cười trong thơ Trần Tế Xương khi rất nhẹ nhàng, sâu kín, hóm
hỉnh khi mạnh mẽ, quyết liệt, ví dụ như bài Vịnh khoa thi hương, các bài văn tế.
Bên cạnh đó tác giả còn nhấn mạnh “Ngôn ngữ thơ Trần Tế Xương lấy từ cuộc
sống bình thường, trần trụi, từ khẩu ngữ dân gian”[3]
Tác giả Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ khi nghiên cứu về nghệ thuật Trần
Tế Xương đều đánh giá“Nội dung thơ văn Trần Tế Xương gồm hai phần rõ rệt, thể
hiện theo hai mặt nghệ thuật riêng biệt: nghệ thuật hình thức trào phúng, nghệ
thuật trữ tình”. Thêm vào đó tác giả còn nhấn mạnh nghệ thuật trữ tình của thơ Tú
Xương là khá cao và đặc sắc [36]
7
1.2.2 Những ý kiến về biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Trần
Tế Xương:
Vấn đề biểu tượng trong thơ Nôm của Trần Tế Xương đã được một số tác
giả đề cập rải rác trong các công trình nghiên cứu, phê bình về sáng tác của ông Tú
nghiên cứu đầy đủ, toàn diện. Tuy nhiên những ý kiến của người đi trước là gợi
dẫn quan trọng để chúng tôi triển khai, nghiên cứu đề tài của mình một cách hệ
thống, toàn diện hơn.
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương,
trên cơ sở các tài liệu: Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm và
giới thiệu), Nxb KHXH Hà Nội, 1984; Tú Xương toàn tập của Trung tâm nghiên
cứu Quốc học giới thiệu, Nxb Văn học, 2010.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Khảo sát, thống kê, phân loại biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác Nôm
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa.
+ Phân tích ý nghĩa của những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa.
+ Nghệ thuật xây dựng những biểu tượng từ góc nhìn văn hóa.
+ Sự tương đồng, khác biệt của những biểu tương nghệ thuật trong thơ Nôm
của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương từ góc nhìn văn hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Đối tượng, mục đích, nội dung nghiên cứu đòi hỏi phải vận dụng kết hợp nhiều
phương pháp. Trong đó chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính.
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Phân loại các biểu tượng theo
phạm trù nội dung và nghệ thuật thể hiện để đưa ra các nhóm, thống kê tần xuất các
biểu tượng…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích giải mã các biểu tượng.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Khi nghiên cứu chúng tôi vận dụng
kiến thức của nhiều ngành: giữa văn học và văn hóa, giữa ngôn ngữ và văn học.
9
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích mối quan hệ, giữa bề mặt ngôn
từ và ý nghĩa biểu tượng…Luận văn chú trọng phân tích một số biểu tượng tiêu biểu
trong đó tìm ra những kết luận mang tính khái quát về biểu tượng trong thơ Nôm của
Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương.
trưng cho cái cụ thể nào đó. Khái quát lại, biểu tượng là hình ảnh, sự vật cụ thể bày ra
bên ngoài, dùng để tượng trưng cho cái cụ thể hoặc trừu tượng nào đó.
Biểu tượng là thuật ngữ của mĩ học, lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được
gọi là tượng trưng. Nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
+ Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuốc sống bằng hình
tượng của văn học nghệ thuật.
+ Trong nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói
hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái
quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư
tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời. [9]
- Từ góc độ văn hóa, biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta
đến một tư tưởng, một quan niệm về văn hóa vật chất cũng như tinh thần. Do đó, nó
là một sự vật có hình ảnh mang tính thông điệp. Cây đa bến đò trong ca dao biểu
tượng cho sự chờ đợi thủy chung của người phụ nữ. “Một trăm bọc trứng” là biểu
tượng cho nguồn gốc hình thành các tộc người, sự đoàn kết của các tộc người trên quê
hương Việt Nam…
1.1.2 Phân biệt biểu tượng với biện pháp tu từ khác:
Là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói, biểu tượng có quan hệ gần gũi
với ẩn dụ và hoán dụ. Giống với ẩn dụ và hoán dụ, biểu tượng được hình thành trên
cơ sở đối chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh,
những đặc điểm gần gũi tương đồng, làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý niệm cụ thể,
11
sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó. Các biểu tượng như “mùa xuân” (sức sống
của tuổi trẻ), “ Cây liễu” vẻ đẹp yểu điệu của người con gái), “thuyền” và “bến”
hoa” và “bướm” (con người trai và gái) là hình thức chuyển nghĩa được hình thành
trên cơ sở như thế.
Tuy nhiên, giữa ẩn dụ, hoán dụ và biểu tượng vẫn có sự khác nhau . Sự khác
biệt này được cuốn “Từ điển thuật ngữ Văn học” .[9, 25-26] đã chỉ ra khá cụ thể:
“tùng”, “cúc”, “trúc”,“mai” là những biểu tượng thể hiện phẩm chất của bậc chính
nhân quân tử. “Quan san”, “ biên ải” tượng trưng cho xa xách nghìn trùng, “ dòng
sông”, “ bến đò”, “ dặm liều”, “ đường hèo” là nơi phân lìa, chia lìa,... Không
hiểu được những biểu tượng có tính chất truyền thống ấy, ta không hiểu được chiều
sâu của thơ ca nghệ thuật
Từ khái niệm biểu tượng trên, chúng ta cấn hiểu biểu tượng trong tương quan
với so sánh, ẩn dụ, hoán dụ.
Giữa biểu tượng và so sánh, ẩn dụ, hoán dụ có sự tương đồng. Biểu tượng hình
thành trên cơ sở so sánh, ẩn dụ, hoán dụ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt có mối
quan hệ tương đồng. Cái biểu đạt là phương tiện, cái được biểu đạt là mục đích.
Tuy nhiên, giữa biểu tượng và so sánh, ẩn dụ, hoán dụ vẫn có sự khác biệt.
Với so sánh, ẩn dụ, hoán dụ thì nghĩa hàm ẩn nằm trong văn cảnh. Tính cố định
của nghĩa hàm ẩn ở ẩn dụ và hoán dụ không cao bằng nghĩa hàm ẩn ở biểu tượng.
Đối với biểu tượng thì nghĩa hàm ẩn có thể nằm ngoài văn cảnh và mang tính cố
định cao hơn so với ẩn dụ, hoán dụ.
Cần lưu ý tới tính chất, cấp độ của biểu tượng. Về tính chất, biểu tượng phản
ánh văn hóa, dung chứa văn hóa của cộng đồng: phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ của
cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận, sử dụng. Biểu tượng mang tính dân tộc,
thời đại. Biểu tượng mang tính sáng tạo của tác giả. Về cấp độ, biểu tượng có khi
trong một hình ảnh cụ thể, cũng có khi biểu tượng ở cấp độ toàn bài, toàn tác phẩm
13
1.2. Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa trong thơ Nôm của Nguyễn
Khuyến
1.2.1 Thống kê phân loại biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nôm của Nguyễn
Khuyến từ góc nhìn văn hóa.
Trong phần này, chúng tôi tiến hành khảo sát biểu tượng trong sáng tác Nôm
của Nguyễn Khuyến, dựa vào cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm của Nguyễn Văn
Huyền sưu tầm và giới thiệu, Nxb KHXH Hà Nội, 1984. Đây là cuốn sách sưu
4
Chơi núi nước non
5
Về hay ở
Độ năm ba chén đã say nhè
Bia miệng còn đeo tiếng trẻ con.
Quyên đã gọi hè quang quác quác
6
Nhớ núi Đọi 1
7
Gà từng gáy sáng tẻ tè te
Ngĩ lại bực cho dòng nước chảy,
Đi đâu mà chảy cả đêm ngày
Biểu tượng toàn bài
Cuốc kêu cảm hứng
Biểu tượng toàn bài
14
8
Biểu tượng toàn bài
Biểu tượng toàn bài
Biểu tượng toàn bài
Qua bảng số liệu thống kê, phân loại trên cho ta thấy, các biểu tượng trong
thơ Nôm của Nguyễn Khuyến rất phong phú và khá đa dạng với đủ cấp độ.
Nhà thơ Nguyễn Khuyến sáng tạo biểu tượng dùng làm phương tiện nghệ
thuật để giãi bày cảm xúc, tư tưởng, nhận thức đánh giá về cuộc sống và con
người. Đọc thơ chữ Nôm của Nguyễn Khuyến ta bắt gặp một số biểu tượng nghệ
thuật thơ rất gần gũi, bình dị, chân thật bắt nguồn từ đời sống thường ngày, và mộtt
số biểu tượng phản ánh lối sống, văn hóa phương Tây. Từ đó ta có thể hiểu
Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam lại sống trong buổi giao thời
giữa xã hội phong kiến và thực dân.
1.2.2. Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc.
Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc trong thơ Nôm
của Nguyễn Khuyến chủ yếu phản ánh thiên nhiên, cuộc sống nơi làng quê đồng
bằng Bắc Bộ - một vùng quê nghèo quanh năm chịu sự thiên tai mất mùa, đồng thời
phản ánh cuộc sống tâm sự của chính tác giả.
1.2.2.1. Biểu tượng mùa thu và tâm sự của tác giả
Chúng ta đều thấy rất rõ, cứ mỗi độ thu về là đất trời như đổi thay, không gian
như chuyển động, trời như xanh hơn, gió heo may nắng rải đầy… lòng người bâng
khuâng nhớ nhung hoài niệm… Với thi nhân, mùa thu xưa và nay vốn là người bạn
tâm giao gửi gắm nỗi niềm tâm tình chia sẻ… Từ Lí Bạch, Đỗ Phủ…, từ Nguyễn
15
Trãi, Nguyễn Du… đến Xuân Diệu … các nhà thơ ít nhiều để lại những vần thơ đầy
tuyệt tác.
Nguyễn Khuyến chỉ với ba bài thơ thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh hợp lại một
bức tranh hoàn chỉnh về mùa thu với những nét đặc trưng nhất.
Phải chăng đối với thi nhân tất cả cảnh vật đều không thay đổi và thời gian đang
lắng đọng, lặng lẽ, âm thầm”. [40,218]
Thơ xưa có hoa, có trăng, có thiên nhiên đẹp vẫn chưa đủ để gợi thi hứng cho
nhà thơ còn phải có rượu, độ nồng say của men rượu, tuy không nhiều nhưng cũng
khiến cho chất thơ thêm mãnh liệt, dồi dào. Đến với bài Thu ẩm của Nguyễn Khuyến
ta bắt gặp hình ảnh một túy ông say mà tỉnh
“ Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè”
(Thu ẩm)
Trong khung cảnh mùa thu đẹp, thi nhân mượn rượu để giải khây trong những
phút cô đơn, trống vắng của lòng mình, nên chỉ uống “năm ba chén” là “đã say nhè”.
Nhưng say rồi lại tỉnh, càng nhận thấy rõ nỗi niềm u uất. Tự cho mình là túy ông,
nhưng đã bao giờ Nguyễn Khuyến say vì rượu:
“Túy ông ý chẳng say vì rượu
Say vì đâu nước thẳm với non cao”
(Uống rượu ở vườn Bùi)
Hóa ra rượu chỉ là nơi gửi gắm tấm lòng “ưu thời mẫn thế” của Nguyễn
Khuyến mà thôi. Thật thương thay cho cái tấm lòng “ trong giá trắng ngần” ấy phải
“phong trần” trong rượu, trong say. Như vậy, nhà thơ cáo quan lui về ở ẩn là để tìm
sự bình an trong tâm hồn. Nhưng tâm hồn ông không lúc nào thanh thản, luôn lo lắng
cho thời cuộc. Nước mất, nhà tan mà tác giả cảm thấy bất lực, không làm được gì để
17
cứu giang sơn. Hình ảnh túy ông say và tỉnh chính là biểu tượng của một con người
muốn say lại tỉnh để nhìn rõ hiện thực đất nước trước sự lấn lướt của phương Tây.
Như vậy, biểu tượng mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến đã đem đến cho người
đọc sự khác hẳn so với mùa thu xưa. Ông là người đầu tiên trong văn học trung đại đã
tạo nên bức tranh mùa thu trong thơ bằng chính màu sắc quê hương mình thông qua
biểu tượng. Cũng thông qua biểu tượng mùa thu mà ta thấy được tâm sự của nhà thơ.
niềm lớn lao của thời cuộc. Điều này được khắc họa đậm nét trong bài Chim chích
chòe
Nguyễn Khuyến không chỉ quan sát thiên nhiên bằng thị giác và khứu giác mà
còn bằng thính giác. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến xuất hiện khá nhiều âm
thanh như: tiếng dế, tiếng đàn muỗi bay, tiếng trống ịch ịch, tiếng pháo lẹt đẹt, tiếng
gà gáy sáng, tiếng chim chích chòe.
“Quyên đã gọi hè quang quác quác
Gà từng gáy sáng tẻ tè te”
Những âm thanh quen thuộc, gần gũi, đời thường vừa vui tai, hóm hỉnh vừa
gần gũi, thân thương. Những âm thanh đó cho thấy nhà thơ luôn quan tâm, quan sát
và lắng nghe đón nhận vào lòng mình một cách tự nhiên. Âm thanh tiếng quyên gọi
hè, tiếng à gáy sáng cho thấy thời gian diễn ra đêm và ngày nhưng đồng thời những
âm thanh đó làm biểu tượng cho lời gọi, lời thôi thúc hướng về cuộc sống ẩn dật của
thi nhân:
“ Lại còn giục giã về hay ở
Đôi gót phong trần vẫn khỏe khoe “
(Chim chích chòe)
Bức tranh mùa hè không thể thiếu được âm thanh tiếng cuốc kêu khắc khoải
suốt năm canh:
“Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ.
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi
19
Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ
Thâu đêm ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ”
(Cuốc kêu cảm hứng)
Bài thơ đã khắc họa khá cụ thể âm thanh tiếng cuốc kêu gọi hè diễn ra triền
là một người đàn bà ngây dại, ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc, xấu xí để che mắt
thiên hạ, một mặt thủ tiết với chồng. Mặc dù sắm cho mình vai mẹ Mốc, nhưng
trong đời sống thường ngày người phụ nữ ấy vẫn vẫn tỏa sáng chính tâm hồn cao
quý giữ đẹp như vàng.
“Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhờ
Đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ
Rằng khôn cũng kệ rằng khờ cũng thây.”
“Mẹ Mốc” chính là hình tượng đẹp về người phụ nữ Việt Nam có phẩm chất
cao đẹp. Tuy nhiên trong xã hội có nhiều kẻ coi thường khinh rẻ, xa lánh mẹ Mốc,
nhưng trong con mắt nhà thơ, mẹ Mốc là người được trân trọng cảm thông và hết lời
ca ngợi bởi tiết trinh, tiết tháo của người đàn bà nghèo ấy. Lời ca ngợi có cái gì giống
như một quyết tâm của chính bản thân tác giả giữ gìn tiết phẩm giá của chính mình.
Văn Tân cho rằng: “chế độ áp bức của thực dân đã khiến ông phải dùng nghệ thuật
ẩn dụ để nói lên những ý nghĩ mà ông không thể nói một cách công nhiên”. Nguyễn
Khuyến đã mượn hình ảnh “mẹ Mốc” để nói lên ý chí sắt đá của mình, nhà thơ luôn
kiên trì thái độ bất hợp tác với giặc.
Bên cạnh hình ảnh mẹ Mốc, Nguyễn Khuyến đã vẽ lên hình ảnh anh giả điếc,
có vẻ ngoài ngây dại, ngơ ngác. Hình ảnh anh giả điếc được nhà thơ viết lên bằng
những dòng thơ khá hài hước, hóm hỉnh:
“Trong thiên hạ có anh giả điếc,
Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!
21
Chẳng ai ngờ “sáng tai họ, điếc tai cày”,
Lối điếc ấy sau này em muốn học”
(Anh giả điếc)
Ngay từ câu thơ mở đầu, Nguyễn Khuyến khẳng định trong xã hội có anh giả
điếc vì không muốn để ý những gì xảy ra xung quanh mình, tránh sự quấy rầy, sách
hội mà ông dày công vun đắp, tôn thờ.
Dù là một bậc đại nho trung quân ái quốc, nhưng với chế độ lúc bấy giờ,
Nguyễn Khuyến đành làm một “ anh giả điếc” kiên quyết khước từ, chối bỏ bổng lộc,
vinh hoa và chĩa mũi nhọn trào phúng vào cái chế độ xã hội ấy, khiến cho người đời
khâm phục tâm lòng cao cả đó của Tam nguyên Yên Đổ.
Bên cạnh những lời thơ ca ngợi phẩm chất thanh cao khí tiết của nhà nho,
Nguyễn Khuyến còn dùng ngòi bút của mình để vẽ lên biểu tượng về con người lạnh
lùng vô cảm trước nỗi đau của dân tộc qua hình tượng Ông phỗng đá.
“Ông đứng làm chi đó hỡi ông
Trơ trơ như đá vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó
Non nước đầy vơi có biết không”
Nguyễn Khuyến tự đồ vật hóa mình, ví mình chẳng khác nào một ông phỗng
đá cứ đứng ngây ngây, ngô ngô, trơ trơ trước thời vận đất nước. Bằng cách đó, nhà
thơ đã diễn tả sự lỗi thời, bất lực, vô dụng của mình đáng mức đến chê cười.
Như vây, biểu tượng từ góc nhìn văn hóa dân gian, dân tộc đã gợi lên được nét
riêng độc đáo về bức tranh thiên nhiên, cuộc sống nơi làng quê, đồng thời biểu hiện rõ
cuộc sống tâm sự của tác giả, cốt cách của một nhà Nho yêu nước, gắn bó sâu sắc với
làng quê.
1.4. Biểu tượng nghệ thuật từ góc nhìn văn hóa ngoại lai.
1.4.1. Biểu tượng Nho giáo.
23
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ, nhưng trước hết ông là một nhà nho dưới triều
đại nhà Nguyễn. Ông từng đi thi và đỗ đầu ba kì thi được vua ban cờ biển, ban bảng
vàng, nên trong thơ ông xuất hiện khá nhiều hình ảnh “bia xanh, bảng vàng” làm biểu
tượng cho chế độ thi cử, đỗ đạt thời phong kiến được lưu danh. Theo quan niệm của
Nho giáo, chí làm trai phải “lưu danh thiên cổ”, phải để lại tiếng thơm cho muôn đời.
Trong bài Tự trào ông đã chế giễu cái bất lực, bạc nhược của mình một cách
vinh quy, mũ mang cân đai… toàn là thứ cao quý vua ban. Nhìn vào bề ngoài ông
nghè này vừa uy nghi, vừa phô trương tự đắc. Chất liệu làm nên con người ông thật
đơn giản chỉ là từ mấy mảnh giấy và nét son diêm dúa của anh hàng mã, nhưng ông
đã làm nên một kì tích lớn vang danh “thân giáp bảng”, ông được “điểm mặt văn
khôi”, ông được “ngồi ghế chéo lọng xanh”. Từ “cũng” được nhấn mạnh đưa lên đầu
câu chỉ sự giống nhau của hiện tượng thật - giả. Nhân vật được làm nên từ chất liệu
mảnh giấy và nét son kia hóa ra chỉ là một ông nghè bằng giấy, có bề ngoài giống tiến
sĩ thật, nhưng thực chất bên trong rỗng tuếch chẳng có gì. Ông được đưa ra bày bán
khắp hàng quán để người đời dùng tiêu khiển, kiếm lời, được coi như là thứ đồ chơi
của trẻ em không hơn không kém.
Ông nghè trong xã hội lúc bấy giờ chỉ là hình thức phù phiếm, dễ tạo ra, giá trị
xoàng xĩnh. Hơn thế nữa tác giả còn đưa ông nghè lên “bàn cân”
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời
Ông tiến sĩ này rất nhẹ cả về “lượng” và “chất”. Từ “nhẹ” trong câu “Tấm
thân xiêm áo sao mà nhẹ” được tác giả sử dụng thật đắc địa. Cái hay của từ “nhẹ”
không có nghĩa nặng nhẹ về trọng lượng mà chỉ thái độ xem thường, coi nhẹ của
ngươi đời đối với hạng người “hữu danh vô thực” ấy. Chính vì thế “cái giá khoa danh
mới hời”. Chữ “hời” ở đây cũng có nghĩa là rất rẻ. Đến câu thơ kết cùm từ “đồ thật”
được đối với “ đồ chơi” ý muốn nói dù ông nghè có được tô điểm, ăn mặc rực rỡ đến
đâu thì cũng chỉ là món đồ chơi của lũ trẻ con, của người đời.
25