Ảnh hưởng của biến đổi môi trường sông Năng đến sinh kế người Tày, Dao ở xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Lý Cẩm Tú

ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI MÔI TRƢỜNG SÔNG NĂNG
ĐẾN SINH KẾ NGƢỜI TÀY, DAO Ở XÃ BÀNH TRẠCH,
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 31 03 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội (Hà Nội)
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Bích Lan

Phản biện 1: TS. PGS. Trần Hồng Hạnh, Viện Dân tộc học, Viện Hàn
lâm KHXH Việt Nam.
Phản biện 2: TS. Nguyễn Trường Giang, Khoa Nhân học, trường Đại
học KHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội 8 giờ 30 phút, ngày 17 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm đọc luận văn tại: Thư viện Khoa học xã hội





báo Giá trị của một dòng sông (J. Stephen Lansing, Philip S. Lansing và
Juliet S. Erazo, 1998) tiếp tục khẳng định vai trò của môi trường sông
đối với con người. Sau đó 11 năm là báo cáo Lượng giá dịch vụ sinh
thái sông Verde (Arizona, Hoa Kỳ) - công trình quy mô nhất năm 2009
của Cơ quan bảo vệ Môi sinh Hoa Kỳ (EPA, 2009).
Tuy nhiên, ở nước ta, trên cả lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng như
xã hội, đặc biệt là Dân tộc học, các hệ sinh thái sông còn ít được quan
tâm. Một vài nghiên cứu liên quan có thể kể ra như: Cộng đồng dân tộc
Tây Bắc Việt Nam và thủy điện (Diệp Đình Hoa, 1996); Văn hóa các tộc
người vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La (Phạm Quang
Hoan, chủ biên, 2012); Tác động của nguồn lợi thủy sản đến sinh kế của
người dân dễ bị tổn thương ở tỉnh An Giang (Phạm Xuân Phú, 2013);
An ninh nguồn nước & quản lý lưu vực sông (Trung tâm Con người và
Thiên nhiên, 2015); Sinh kế của cư dân các làng chài dọc sông Lô
(Nguyễn Thị Tám, 2017)... Hầu hết, những công trình kể trên đều cho
thấy suy thoái môi trường, giảm sút các nguồn lợi tự nhiên của sông
ngòi đều ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người, song chưa
thật sự rõ ràng. Sông Năng và sinh kế của các cộng đồng dân cư lân cận
chưa được đề cập đến trong bất kỳ một công trình. Do đó, trong xu
hướng liên ngành và xuyên ngành của khoa học hiện đại, cần thiết có
một nghiên cứu đặt tộc người trong mối quan hệ với các yếu tố sinh thái,
để đánh giá toàn diện, định hướng lâu dài hướng tới phát triển bền vững.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này là tìm hiểu ảnh hưởng của suy
thoái môi trường sông Năng đến sinh kế của một số tộc người ở xã Bành
Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nhiệm vụ nghiên cứu gồm: Tìm hiểu
về tình hình biến đổi môi trường sông Năng; So sánh các hoạt động sinh


3


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
+ Luận văn cung cấp nguồn tư liệu mới và chính xác về tình hình
biến đổi môi trường sông Năng, và ảnh hưởng của sự biến đổi này tới
sinh kế hai tộc người Tày và Dao.
+ Luận văn áp dụng hướng tiếp cận mới là: liên ngành Dân tộc học
và Sinh thái học, mang tính ứng dụng cao và thiết thực.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đánh giá sơ bộ ảnh hưởng của suy thoái hệ sinh thái sông Năng
đối với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số, cung cấp cơ sở khoa học
cho việc đổi mới các chính sách của địa phương.
+ Góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, tri
thức địa phương của tộc người, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn có độ dài 79 trang. Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài
liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính gồm ba chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu
Chƣơng 2. Vai trò của hệ sinh thái sông Năng đối với sinh kế của
người Tày và Dao trước năm 1986
Chƣơng 3. Sinh kế của người Tày và Dao dưới tác động của biến
đổi môi trường sông Năng từ năm 1986 đến nay

4


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

tiết như điều tiết lũ lụt, hạn hán; các dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất
và chu trình dinh dưỡng; và các dịch vụ văn hóa như giải trí, tinh thần,
tín ngưỡng và các lợi ích phi vật chất khác” (MEA, 2005, tr.68).
1.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Luận văn chọn địa điểm nghiên cứu tại xã Bành Trạch, huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn. Là cửa ngõ phía Đông Bắc, giáp với tỉnh Cao Bằng,
xã Bành Trạch cách trung tâm huyện khoảng 7km về phía Bắc. Bành
Trạch có diện tích tự nhiên 5.967,47 ha với đồi núi chiếm hơn 80%, độ
cao trung bình 500 - 600m, đỉnh cao nhất 825m. Xã nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa núi cao rõ rệt, có mùa h ôn hòa, mùa đông lạnh
hơn so với đồng bằng. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20oC, với sự
chênh lệch lớn giữa các tháng trong năm. Xã Bành Trạch có độ che phủ
rừng khá lớn (hơn 82%), tuy nhiên, chủ yếu là rừng sản xuất hoặc tái
sinh, do đó có trữ lượng gỗ thấp, động thực vật quý hiếm hầu như không
còn, chỉ có chim và thú nhỏ (Lê Hùng Anh, 2015).
Bên cạnh những thuận lợi về khí hậu, xã Bành Trạch cũng phải chịu
nhiều khó khăn như sương mù, mưa phùn kết hợp với địa hình dốc phức
tạp, gây cản trở giao thông. Đặc biệt, tình hình biến đổi khí hậu ở nơi
đây cũng diễn ra ngày càng rõ rệt.
Hệ sinh thái sông Năng
Trong đó, sông Năng với tổng chiều dài 117km với 87km qua tỉnh
Bắc Kạn, 25km qua xã Bành Trạch, là con sông lớn nhất vắt ngang
huyện Ba Bể nói chung, địa điểm nghiên cứu nói riêng. Sông Năng nằm
ở khu vực có địa hình dốc, lòng sông hẹp, diện tích lưu vực là 2.293km²,

6


lưu vực tại tỉnh Bắc Kạn là 890km2 - lớn nhất trong các con sông chảy

1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Xã Bành Trạch đang hướng tới phát triển kinh tế tập trung vào
nông - lâm nghiệp, chủ yếu sản xuất theo quy mô hộ gia đình kết hợp
với trồng trọt và chăn nuôi truyền thống. Trong đó, trồng trọt giữ vai trò
quan trọng nhất nhằm đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu lương thực phục vụ
đời sống của nhân dân trong xã. Chăn nuôi tại xã khá phát triển, với đa
dạng chủng loại vật nuôi như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá
và các loại thủy sản... nhưng chỉ phục vụ nhu cầu về thực phẩm ở quy
mô hộ gia đình, tiến tới trao đổi, buôn bán nhỏ lẻ, chưa tập trung theo
hướng hàng hóa. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp bước đầu phát
triển chế biến gỗ, khai thác vật liệu xây dựng. Dịch vụ và thương mại
tuy đã được đẩy mạnh trong những năm gần đây, song chỉ chiếm khoảng
14% cơ cấu kinh tế.
Về y tế và giáo dục, hạ tầng còn hạn chế, toàn xã chỉ có 9 phân
trường mẫu giáo, 1 điểm trường tiểu học, 1 điểm trường THCS với giáo
viên trên cả ba cấp. Trạm y tế có diện tích 300m2 với ba nhà bán kiên
cố, trang thiết bị còn sơ sài, đội ngũ cán bộ còn chưa đầy đủ. Nhân dân ở
các thôn xa trạm như Nà Còi, Nà Nộc... chủ yếu chữa bệnh theo phương
thức truyền thống. Bên cạnh đó, vấn đề xã hội và an ninh quốc phòng
luôn được đảm bảo, đang từng bước hạn chế các tệ nạn xã hội, tai nạn
giao thông, vi phạm luật giao thông... tuy cơ sở hạ tầng còn hạn chế, xã
Bành Trạch đã thực hiện xong Chương trình phổ cập giáo dục THCS.
Tiểu kết chƣơng 1
Qua lý thuyết sinh thái học, quan hệ con người - tự nhiên là quan hệ
tương tác chặt chẽ. Chọn sông Năng ở xã Bành Trạch để nghiên cứu là
nhằm làm rõ mối quan hệ đó, bởi sông này rất quan trọng với người
Tày, Dao nơi đây, nhưng nay sông Năng đang bị suy thoái môi trường.

8




cỏ ven sông, chất thải làm màu mỡ thêm cho những mảnh nương, ruộng.
Người Tày rất chuộng chăn thả ở các bãi ven sông vì cỏ ở đó tốt hơn lại
tiện cho gia súc uống nước. Hơn nữa, quy định của các thôn có những
điều rất cụ thể: mỗi hộ chỉ được nuôi tối đa chục con gia súc mỗi loại,
các bãi chăn thả phải luân phiên thay đổi để cỏ mọc, có người trông coi
để tránh phá hoại mùa màng, vật nuôi chết không được vứt ra sông...
Không chỉ đem lại thu nhập ổn định, các loài gia súc, gia cầm này
còn tham gia vào hệ sinh thái sông Năng như một thành phần giúp duy
trì vòng tuần hoàn vật chất, năng lượng, lưới thức ăn, quá trình khống
chế sinh học... Hoạt động trồng trọt cũng vậy, đồng ruộng và nương rẫy
là ổ sinh thái của rất nhiều loài sinh vật hoang dã. Nói cách khác, tổ hợp
sinh thái nông nghiệp của người Tày nơi đây đã trở thành một thành
phần không thể tách rời trong hệ sinh thái sông Năng.
2.1.3. Cung cấp nguồn thủy sản cho cư dân trong vùng
Theo lời kể của nhiều cụ người Tày, sông Năng trước kia rất nhiều
cá, một lần đánh lưới được hơn 10kg. Thậm chí những con cá dài nửa
mét thuộc họ cá bỗng (Spinibarbus denticulatus) cũng thường đánh bắt
được. Số liệu điều tra bảng hỏi cho thấy, 100% hộ gia đình thôn Nà Dụ
cho rằng, trước năm 1986, sản lượng cá sông Năng rất dồi dào, vừa đủ
cung cấp cho gia đình, vừa để đem bán. Đến bây giờ, nhiều người dân
vẫn cho rằng họ thích ăn cá sông hơn vì không có mùi bùn như cá ao.
Thủy sản sông Năng được đánh bắt bằng nhiều hình thức khác nhau
như câu, quăng chài, thả lưới, bẫy lồng, duốc cá (bưa phya)... Công cụ
để đánh bắt cũng gồm nhiều loại như chài, lưới, cần câu, vợt, vó, đó,
rọ... phần lớn do người dân tự làm, tự dùng trong gia đình, chưa phát
triển thành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Ngoài ra, họ còn đánh
duốc cá bằng cách dùng ớt, cây thâm, cóc kèn, dây mật và nhiều loại lá


11


thân cây móc rừng đơn giản. Với những mảnh ruộng xa khe suối, họ sử
dụng nước sông Năng để cứu lúa bằng máy bơm lý tâm. Tuy nhiên, chỉ
có 16,5% số hộ được hỏi ở Nà Còi sử dụng nước sông Năng để làm
ruộng trước năm 1986; và chỉ có 10% hộ sử dụng nước sông Năng để
làm vườn nên cũng khá thấp, rất ít hộ làm nương rẫy ven sông, nương
bãi bồi... Vì thế, sông Năng trước đây không đóng vai trò quá lớn đối
với sinh kế truyền thống của người Dao Tiền. Ngược lại, với người Dao
Đỏ ở thôn Nà Nộc, sông Năng chiếm một vị trí thiết yếu. Vùng bãi ven
sông thường được họ chọn làm nơi phát ruộng, nước tưới do vậy cũng
được lấy từ sông Năng bằng hệ thống cọn. Trước năm 1986 có đến 80%
số hộ người Dao Đỏ ở thôn Nà Nộc dùng nước sông Năng để trồng lúa.
Ngoài ruộng, sinh thái nông nghiệp của người Dao ở đây có nương
rẫy ở lưng núi, sườn đồi... Theo họ, khu vực bãi ven sông dễ bị lũ làm
ngập, không thể canh tác lâu dài, nhất là mùa mưa lũ. Trước đây họ
không có vườn, quanh nhà chỉ trồng chuối làm thức ăn chăn nuôi. Từ
khi thực hiện định canh định cư, một số loại cây trên nương mới được
đưa về gần nhà như rau, gia vị, mía... dần dần hình thành vườn gia đình,
tăng thêm tính đa dạng của khu hệ sinh thái nông nghiệp.
2.2.2. Cung cấp nước và thức ăn chăn nuôi
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng chiếm vai trò quan trọng trong
cơ cấu sinh kế truyền thống của người Dao. Giữa hai nhóm Dao lại có
sự khác biệt rõ rệt: người Dao Tiền vốn không có truyền thống đào ao
nuôi cá, trong khi người Dao Đỏ trước kia lại xây dựng những chiếc ao
rất độc đáo từ các khe suối. Ao thường được tạo ở các khe có độ dốc
nhỏ, nguồn nước chảy liên tục và ở gần nhà để tiện chăm sóc, quản lý.
Sau khi chuyển về xã Bành Trạch, do khai thác nguồn lợi sông Năng
khá dồi dào cùng với tiếp thu tập quán thả cá ruộng của người Tày, loại


13


xâu cá sông là món quà rất quý giá về cả vật chất lẫn tinh thần. Đó chính
là ý nghĩa văn hóa thiêng liêng không thể thay thế của dòng sông Năng
trong đời sống tinh thần của cộng đồng, người dân xã Bành Trạch.
2.2.4. Các vai trò khác
Cũng như người Tày, sông Năng là tuyến giao thông thủy của đồng
bào Dao. Trước kia chưa có xe máy và cầu treo qua sông, việc vận
chuyển qua sông chủ yếu bằng b , mảng. Như đã đề cập, dịch vụ tr o b
mảng qua sông tương đối phổ biến ở các hộ người Tày, còn người Dao
lại là khách hàng chủ yếu. Do đó, sông Năng gián tiếp thắt chặt mối
quan hệ đoàn kết, giao lưu giữa các thôn bản, các tộc người trong xã.
Do phong trào đánh bắt cá sông trước đây, nên việc đan lưới, lồng
bẫy cá tôm, sửa chữa lưới... đôi khi trở thành nguồn thu nhập phụ của
một số gia đình ở Nà Còi. Tuy chưa thành một ngành nghề riêng biệt,
song đây là bước khởi đầu của tiểu thủ công nghiệp vùng cao.
Có thể nói, nếu với người Tày, vai trò quan trọng nhất của sông
Năng là cung cấp nước sinh hoạt, thì với người Dao lại là nguồn lợi thủy
sản (Nà Còi) và tưới tiêu cho hệ thống nông nghiệp (Nà Nộc). Sự khác
biệt giữa hai thôn, không chỉ do vị trí và khoảng cách đến sông Năng,
mà còn do tập quán sản xuất, sinh hoạt truyền thống, thời gian cư trú và
sự thích nghi của họ với môi trường tự nhiên xã Bành Trạch.
Tiểu kết chƣơng 2
Tại xã Bành Trạch trước năm 1986, sông Năng có vai trò quan trọng
trong sinh kế truyền thống của hai dân tộc Tày, Dao ở các thôn Nà Dụ,
Pác Pìn, Nà Nộc, Nà Còi. Trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản... đều
liên quan tới sông Năng. Thủ công gia đình liên quan đến đánh bắt cá,
giao thông vận tải thủy đều có bóng dáng của sông Năng ở đó...

kích điện, duốc cá, tát cạn bắt hết hay chặn dòng chảy. Những loài cá

15


lớn, ưa nước sạch chủ yếu xuôi dòng từ hồ Ba Bể đến sông Năng sinh
sống, sinh sản nay đều không còn nữa.
3.1.2. Nguyên nhân
Bối cảnh lịch sử là nguyên nhân khách quan của suy thoái môi
trường sông Năng. Trước sự mất mát chung của những nguồn lợi tự
nhiên trên khắp đất nước, sông Năng không phải ngoại lệ. Sự nghiệp
Đổi mới khiến tư duy người dân biến đổi theo cơ chế thị trường, làm cho
tính thiêng của sông Năng, rừng đầu nguồn giảm đi, mở đường cho
những hành vi gây suy thoái môi trường diễn ra. Bên cạnh đó, biến đổi
khí hậu là nguyên nhân khách quan thứ hai gây nên sự suy thoái của hệ
sinh thái sông Năng, đặc biệt là làm mất ổn định lưu lượng dòng chảy.
Về chủ quan, do các dân tộc tại chỗ sống ở ven bờ sông Năng, thời
kỳ đầu Đổi mới, họ dường như đánh mất ý thức giữ gìn môi trường.
Việc bán đất và nông sản cho “vàng tặc” từng đem lại thu nhập đáng kể
cho nhiều hộ dân ở thời kỳ đó. Rừng đầu nguồn bị chặt lấy gỗ và phát
nương rẫy; rác thải vứt bừa ra sông suối; thủy sản bị khai thác tận diệt
bằng thuốc nổ, kích điện, lưới mắt nhỏ; đất ven bờ giao bán cho “vàng
tặc” dù đã có chủ trương của chính quyền địa phương, thậm chí nhiều
gia đình còn lén lút tham gia khai thác vàng... Có thể nói, thế cân bằng
giữa con người và thiên nhiên đang dần bị phá vỡ kéo theo nhiều hậu
quả lâu dài, mà ngay lúc đó người dân vẫn chưa nhận thức được.
3.2. Biến đổi sinh kế của ngƣời Tày và Dao ở xã Bành Trạch
3.2.1. Biến đổi trong hoạt động trồng trọt
3.2.1.1. Thay đổi về nguồn nước sản xuất
Ngược lại với sự ô nhiễm dần đi của nước sông Năng, vai trò của nó

Bên cạnh nguồn nước, đất đai là tài nguyên thiết yếu đối với người
Tày ở Bành Trạch. Tuy nhiên, tình hình gia tăng dân số hiện nay đã gây

17


áp lực lên quỹ đất ngày càng mạnh mẽ, buộc họ phải thâm canh, tăng
vụ, đặc biệt trên nương bãi bồi. Điều đó làm đất nhanh thoái hóa, bạc
màu hơn, sau một năm thương bỏ hóa hoặc phải bón phân chứ không thể
canh tác được như trước. Cùng với tốc độ xói mòn nhanh, nước lũ dâng
cao đột ngột cuốn trôi nhiều diện tích hoa màu, dần dần người Tày
không còn duy trì hình thức canh tác ven sông nữa. Vườn cũng được lùi
vào sâu hơn, không còn sát bờ sông như trước kia, tức để tránh lũ.
Thiếu đất sản xuất không phải là thực trạng riêng của người Tày, mà
còn diễn ra ở cả người Dao Tiền, Dao Đỏ nơi đây. Qua kết quả điều tra
phiếu, 46% số hộ người Dao được hỏi ở hai thôn Nà Nộc và Nà Còi
(tương đương 23/50 hộ) từng bán đất cho “vàng tặc”. Tác động đến môi
trường của việc đào vàng là rất lớn, cấu trúc đất bị phá hủy hoàn toàn, ô
nhiễm kim loại nặng như chì, thủy ngân... Thậm chí, sau nhiều năm,
cảnh quan vẫn chưa thể phục hồi như cũ và không thể canh tác được,
cũng không thể tận dụng để chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trước tốc độ gia
tăng dân số hiện nay, dễ dàng đặt ra giả thuyết là tình hình thiếu đất
canh tác sẽ xảy ra ở hai thôn Nà Nộc, Nà Còi trong một vài năm tới.
3.2.2. Biến đổi trong hoạt động chăn nuôi
Ô nhiễm môi trường sông Năng không chỉ ảnh hưởng tới trồng trọt,
mà còn tác động đến hoạt động chăn nuôi của cư dân xã Bành Trạch.
Cùng với việc ồ ạt đào vàng là nạn trộm cắp gia tăng, trâu bò chết do
uống nước nhiễm thủy ngân, buộc bà con phải đem về gần nhà chăn thả.
Hiện nay, “vàng tặc” tuy đã bị truy quét khỏi xã, song người dân vẫn
hạn chế thả gia súc ở khu vực sông do hệ sinh thái gần như bị phá hủy.

trường sông. Trước tình hình đó, cách thức ứng phó chung của cư dân
Bành Trạch là tìm kiếm những nguồn thực phẩm thay thế thông qua mở
rộng, phát triển chăn nuôi hoặc mua bằng tiền. Hoạt động đánh bắt thủy

19


sản vẫn được duy trì ở phần lớn gia đình dưới hình thức nhỏ lẻ, còn các
cuộc đánh duốc, quăng chài có sự tham gia của nhiều người thì không
được tổ chức nữa. Hiện nay, một lần đánh cá mang tính tập thể tối đa
thường chỉ huy động từ 4 đến 8 người. Nhân lực đánh bắt thủy sản chủ
yếu vẫn là đàn ông, song khác với dự đoán, độ tuổi tham gia ngày càng
trẻ hóa, thường là nam thanh thiếu niên chưa hoặc mới lập gia đình.
Nguyên nhân có thể lý giải như sau: bên cạnh lý do tìm kiếm thực
phẩm, thì một nguyên nhân khác khiến hoạt động đánh bắt thủy sản
sông Năng được duy trì ở 3 trên 4 thôn được chọn nghiên cứu là do còn
có ý nghĩa giải trí. Tuy chỉ được rất ít cá, khoảng 1kg mỗi lần, song đây
lại là dịp vui chơi của thanh thiếu niên sau những ngày lao động mệt
nhọc. Với người trung niên, câu cá cũng trở thành thú vui lúc nông
nhàn. Do đó, có thể nói rằng, nếu giảm sút đi vai trò trực tiếp thì các
dịch vụ sinh thái gián tiếp của sông Năng vẫn được người dân duy trì.
Đó là những điều thuộc về văn hóa tinh thần như tín ngưỡng, lễ hội, giáo
dục, vui chơi giải trí... vẫn còn nguyên vẹn qua nhiều thế hệ.
3.2.4. Biến đổi trong hoạt động buôn bán, thương mại
Trước sự suy giảm tài nguyên, đặc biệt do thiếu đất trồng trọt, người
dân các thôn ở xã Bành Trạch ngày càng hướng nhiều hơn đến ngành
dịch vụ, thương mại và nông sản thương phẩm. Phong trào trồng sắn,
hồng không hạt, khoai môn và nuôi lợn giống địa phương ngày càng
được nhân rộng nhờ chủ trương phát triển cây con đặc sản tại địa
phương của lãnh đạo xã. Các dịch vụ khác cũng dần dần trở nên phổ

Trung Quốc, Campuchia...) để tìm kiếm việc làm.
Phỏng vấn về lý do đi làm ăn xa, câu trả lời của người dân cho thấy
ước mơ thoát ngh o rất rõ ràng. Họ nói rằng, khoản tiền tiết kiệm được
trong thời gian làm công nhân lớn hơn rất nhiều so với thu nhập thông
qua hoạt động nông nghiệp ở quê nhà. Điều này cho thấy sự giảm sút vai

21


trò của nông nghiệp đối với giới trẻ hiện nay, kéo theo giảm sút vai trò
của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có sông Năng. Rõ ràng,
khi ngày càng nhiều người dân xã Bành Trạch bỏ nông nghiệp, chuyển
sang sinh kế mới thì vai trò của sông Năng sẽ càng suy giảm. Việc
chuyển đổi sinh kế và gia tăng các ngành nghề dịch vụ ở xã Bành Trạch
đóng một vai trò lớn trong phát triển, nhưng cũng kéo theo nhiều hệ quả.
Đó là sự gia tăng các tệ nạn trộm cắp, đánh bạc... ở độ tuổi thanh thiếu
niên, thích hưởng thụ và đánh mất nhiều nét văn hóa tộc người.
Không chỉ có giá trị văn hóa vật chất, giá trị của sông Năng trong
văn hóa tinh thần cua rng]ời dân cũng có nhiều thay đổi. Hiện nay, các
lễ hội, tín ngưỡng... liên quan đến sông Năng không được duy trì nữa.
Đây không chỉ là sự đứt gãy văn hóa, điều đó còn dẫn đến hệ quả lớn
hơn về môi trường. Thay vì bảo vệ hệ sinh thái, ngược lại, người dân
quay lại hưởng ứng các hoạt động gây suy giảm nguồn tài nguyên vì lợi
ích kinh tế trước mắt. Đó là tham gia khai thác vàng, bán nông sản và
đất bãi cho “vàng tặc” và khai thác cá bằng các biện pháp mang tính hủy
diệt... Qua đó, vấn đề đặt ra là, nếu những cánh rừng còn “thiêng”,
những dòng sông còn “thiêng” thì liệu bà con các tộc người ở Bành
Trạch có chú ý gìn giữ môi trường sống của chính họ hay không?
Tiểu kết chƣơng 3
Sau năm 1986, sinh kế của một số dân tộc ở xã Bành Trạch đã biến

diễn biến của môi trường ngày càng bất lợi.
3. Từ khi Đổi mới, sinh kế của người dân các dân tộc ở xã Bành
Trạch, huyện Ba Bể đã có những biến đổi vượt bậc. Nương rẫy một vụ
với năng suất thấp được thay thế bằng ruộng lúa nước hai vụ, giống mới
năng suất cao và cải tiến hệ thống thủy lợi đem lại thu nhập ổn định hơn
cho người dân... Tuy nhiên, suy thoái môi trường sông Năng cũng đã và
đang ảnh hưởng tới sinh kế của đồng bào, phần lớn theo hướng tiêu cực.
Trong nhiều trường hợp, sự giảm sút các nguồn lợi tự nhiên đặt người

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status