Khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành quản trị nhân lực trường đại học nội vụ hà nội - Pdf 45

Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
Mã đề tài: ĐTSV. NL. 2017.17

Chủ nhiệm đề tài
Lớp
Cán bộ hướng dẫn

: Hà Văn Lâm
: ĐH. QTNL13B
: ThS. Nguyên Xuân Kiểm

Hà Nội, tháng 5 năm 2017


Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi
KHOA TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC

BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

Mã đề tài: ĐTSV. NL. 2017.17

Tuy đã dành nhiều thời gian và tâm huyết việc nghiêm cứu đề tài, nhưng
do kiến thức và kỹ năng còn hạn chế nên đề tài của chúng tôi không tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của Hội đồng khoa học nhà
trường, các thầy cô và các bạn để đề tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi có
thể hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2017
Chủ nhiệm đề tài
Hà Văn Lâm


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN


DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và
cải cách giáo dục hiện nay, nhất là việc cung cấp các sản phẩm đào tạo theo
nhu cầu xã hội, các trường Đại học, Cao đẳng phải quan tâm đến vấn đề việc
làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Nếu như trước đây trong thời
kỳ bao cấp, vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực về cơ bản là theo chỉ
tiêu giao cho của Nhà nước cho nên người được đào tạo sau khi tốt nghiệp
ngay lập tức được phân công mỗi công việc khác nhau, điều này đã tạo ra sức
ì, sự ỉ lại của sinh viên. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường mở như hiện
nay xã hội đã có sự đổi mới sâu sắc, vấn đề việc làm và sử dụng nguồn nhân
lực cũng chịu tác động của các quy luật thị trường như cung – cầu, thừa –
thiếu. Con người cần phải chủ động, năng động hơn trong sản xuất kinh doanh,

đổi phương pháp giảng dạy, đào tạo kỹ năng sống và kỹ năng mềm cho sinh
viên, khả năng ngoại ngữ, tin học… giúp cho nhà trường hiểu thêm về nhu cầu
việc làm của sinh viên, nắm bắt được tâm lý của sinh viên nhu cầu thực tiễn
của người học và nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội.
Từ năm 2009 theo quy chế thực hiện 3 công khai (Công khai cam kết
chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế, Công khai điều kiện đảm
bảo chất lượng giáo dục, Công khai thu chi tài chính) của Bộ Giáo Dục và Đào
tạo triển khai, các trường Đại học, Cao đẳng phải công bố trước xã hội tỷ lệ
sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp ra trường một năm. Tuy nhiên trên
thực tế nhiều trường chưa từng công bố tỷ lệ này, có trường công bố không đầy
đủ hoặc mang tính chất chiếu lệ.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội cũng như rất nhiều các trường Đại học,
Cao đẳng khác trong cả nước đều mong muốn đào tạo ra một thế hệ sinh viên
trong tương lai sẽ có ích cho xã hội cả về mặt chất và lượng. Nhà trường thực
hiện sứ mệnh đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, với các ngành đặc thù như: Quản
trị nhân lực, Quản trị văn phòng, Quản lý nhà nước, Lưu trữ học, Khoa học thư
viện, Quản lý văn hóa, Tin học ứng dụng, Luật, Chính trị học. Hàng năm nhà


trường đào tạo hàng ngàn sinh viên cho các cơ quan hành chính nhà nước và
các doanh nghiệp trong nước, với mong muốn các thế hệ sinh viên của trường
sau khi tốt nghiệp có thể áp dụng được những kiến thức trong chương trình đào
tạo của nhà trường vào cuộc sống cũng như trong công việc.
Mỗi sinh viên đều mong muốn sau khi ra trường sẽ tìm được một công
việc đúng chuyên ngành được đào tạo với mức thu nhập phù hợp, tuy nhiên
không phải sinh viên nào sau khi ra trường cũng tìm được công việc như ý
muốn. Vì vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã có rất nhiều sinh
viên lo lắng và muốn tìm hiểu thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của khoa,
chuyên ngành mình theo học để có những định hướng cho việc học tập. Để
nghiên cứu sâu hơn vấn đề này chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu với tên

hóa và hội nhập quốc tế” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
+ Nguyễn Thị Vân Hạnh (Năm 2008) với công trình nghiên cứu luận án
tiến sĩ “Hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên trong điều kiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước” về đào tạo nghề cho thanh niên.
Nhìn chung các nghiên cứu xã hội học nhận diện về vấn đề việc làm nghề nghiệp của sinh viên khá phong phú cho thấy một bức tranh toàn cảnh về
thực trạng lao động - việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng như tầm
quan trọng của quan hệ đào tạo - việc làm.
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu về vấn đề việc làm nói chung có các lý thuyết về việc là của
J.M.Keynes (1883 - 1946) là nhà kinh tế người Anh. Những tác phẩm của ông
đã chỉ rõ mối quan hệ giữa sản lượng - thu nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm
- việc làm.
Hay lý thuyết về tạo việc làm bằng di chuyển lao động của Harris
Todaro nghiên cứu việc làm bằng sự di chuyển lao động trên cở sở thực hiện
điều tiết thu nhập, tiền lương.
Lý thuyết mạng lưới xã hội của các tác giả như Peter Blau, Marx,
simmel, theo quan điểm này cho thấy công việc cơ bản của xã hội học là
nghiên cứu cấu trúc bên trong của xã hội đó là mối liên hệ trong việc giải
quyết việc làm cho xã hội.
Các lý thuyết trên đã phần nào lý giải lý thuyết về vấn đề việc làm và
thất nghiệp hiện nay, từ đó làm tiền đề để đề tài đi sau nghiên cứu và chứng
minh trong thực tiễn hiện nay ở Việt Nam.
2.3. Kết luận:
Nhìn tổng thể các đề tài nghiên cứu đều xoay quanh vấn đề việc làm cho
người lao động, đưa ra các giải pháp, sáng kiến giúp người lao động tự tin hơn


về quá trình tìm kiếm việc làm. Các tác giả đã đưa ra các nhận định có sự thay
đổi nhất định về nhận thức trong việc làm và lao động, phù hợp với chủ trương
của Đảng và Nhà nước đó là xu hương tự tạo việc làm cho bản thân, đặc biệt là



5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài
liệu để tổng quan các vấn đề lý luận cơ bản để phục vụ đề tài.
- Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến việc làm, việc làm sau
khi tốt nghiệp của sinh viên.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi và phiếu khảo sát: Tiến hành xây
dựng phiếu hỏi và phiếu điều tra khảo sát dành cho đối tượng sinh viên đã tốt
nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà Nội nhằm khảo sát
thực trạng việc làm, thu thập những thông tin cần thiết để đánh giá, phân tích
thực trạng việc làm của sinh viên.
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp những cựu
sinh viên đã tốt nghiệp ra trường.
5.3. Phương pháp thống kê:
- Xử lý số liệu thu được trong quá trình khảo sát để phân tích, đánh giá
thực trạng
6. Giả thuyết nghiên cứu:
- Hiện nay, hầu hết sinh viên ngành Quản trị nhân lực tốt nghiệp hệ
chính quy trường Đại học Nội vụ Hà Nội (Đại học, Cao đẳng) ra trường đã có
việc làm và phạm vi việc làm của người đã tốt nghiệp đại học là khá phân tán,
trải rộng trên nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau.
- Có một khoảng cách nhất định giữa ngành nghề, kỹ năng được đào tạo
và yêu cầu thực tế ủa việc làm đòi hỏi sinh viên phải biết, thích nghi và đáp
ứng ở mức độ cao.
- Các vấn đề nhận thức về việc làm như tình trạng thất nghiệp, thiếu việc
làm hoặc làm trái ngành nghề được đào tạo, từ đó giúp nhà trường định hướng
được chương trình đào tạo mới phù hợp cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay
cũng như giúp cho sinh viên hiểu được tầm quan trọng của việc làm sau khi đã

KHI TỐT NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề về việc làm.
1.1.1. Khái niệm việc làm
Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm:
Theo quan điểm của Các Mác : Việc làm là từ dùng để chỉ trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công
nghệ...) để sử dụng sức lao động đó.
Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như
vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.. có thể do người lao động có quyền sở hữu,
sử dụng, quản lý hoặc không. Theo quan điểm của Mác thì bất cứ tình huống
nào xảy ra gây nên trạng thái mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần
thiết để sử dụng sức lao động đó đều có thể dẫn tới sự thiếu việc làm hay mất


việc làm.
Theo Điều 9, chương II, Bộ luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam (10/2012/QH13) “ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu
nhập mà không bị pháp luật cấm”.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) “ Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và hiện vật”.
Việc làm là công việc hay nhóm công việc thuộc hệ thống ngành kinh tế
quốc dân, được thực hiện bởi người lao động với mục đích là tạo ra giá trị vật
chất và tinh thần cho bản thân họ, cho tập thể, cho xã hội mà trong đó họ là
thành viên. Việc làm không tự nó tạo ra sản phầm, tạo ra thu nhập. Sự thực hiện
việc làm nói chung, mới tạo ra thu nhập và là thu nhập hợp pháp, chính đáng.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu việc làm là những hoạt động lao
động tạo ra giá trị vật chất và giá trị tinh thần cho mỗi cá nhân, cộng đồng mà
không bị pháp luật cấm.
1.1.2. Phân loại việc làm
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại việc làm theo

xã hội.
Việc làm là tiêu chí khẳng định sự văn minh. Hình thức, nội dung và các
yếu tố cấu thành và liên quan đến việc làm, đến sự làm việc là những cái thể
hiện rõ trình độ văn minh của lao động nói riêng và của xã hội nói chung.
Việc làm là điều kiện đảm bảo an toàn của xã hội. Việc làm không chỉ là
điều kiện kiếm sống của người lao động mà còn góp phần to lớn tạo nên nhân
cách sống của người lao động và các công dân trong xã hội. Sự an toàn kinh tế,
an toàn cá nhân, an toàn xã hội phụ thuộc nhiều vào việc người lao động có
được đảm bảo công ăn việc làm hay không.
Việc làm là yếu tố thúc đẩy sự phát triển bền vững. Ngày nay, sự phát
triển của xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó có sự phát triển của nền
sản xuất, của sự phát triển con người. Tuy nhiên, xét cho cùng, chúng đều liên
quan và chịu sự chi phối mạnh mẽ của việc làm. Đối với mỗi quốc gia, việc
giải quyết tốt vấn đề việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ sở để triển khai các chính
sách xã hội khác như: y tế, văn hóa, giáo dục...góp phần đảm bảo an toàn, ổn
định , và phát triển xã hội. Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề
sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt việc làm cũng là hiệu quả của sản
xuất. Đối với Việt Nam, việc làm còn gắn với công cuộc xóa đói giảm nghèo,
giải quyết việc làm là biện pháp quan trọng và thiết thực trong xóa đói giảm
nghèo. Đối với người lao động, việc làm tạo cơ hội cho họ có thu nhập, đảm


bảo cuộc sống của bản thân, gia đình, đồng thời đống góp cho xã hội.
1.2. Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
1.2.1. Sinh viên.
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc Latin là “studens” có nghĩa là
người làm việc, người tìm kiến, khai thác tri thức, khái niệm này được dùng
tương đương với “student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp để chỉ
những người theo học ở bậc đại học và được phân biệt với trẻ em đang theo
học phổ thông.

Sau khi tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng, hay trung cấp
chuyên nghiệp, sinh viên sẽ trở thành lực lượng lao động có chuyên môn cao,
tìm kiếm việc làm để tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất
của cải vật chất. Khi đó, sinh viên sẽ trở thành những người lao động. Theo Bộ
Luật Lao động nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thuật ngữ người
lao động được hiều là : “ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động,
làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành
của người sử dụng lao động.”
1.2.3. Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Qua quá trình nghiên cứu và tổng hợp. Chúng tôi có thể đưa ra khái
niệm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp như sau:
Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp là những hoạt động lao động
được thực hiện sau khi sinh viên được công nhận đạt tiêu chuẩn kiến thức hoặc
trình độ nghiệp vụ, những hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm và
tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần.
1.2.4. Vai trò của việc làm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Trước hết, việc làm tạo ra nguồn thu nhập cho sinh viên để trang trải và
ổn định cuộc sống mà không phụ thuộc vào gia đình.
Việc làm, đặc biệt là việc làm đúng chuyên ngành sẽ giúp sinh viên ứng
dụng, áp dụng những kiến thức chuyên môn được đào tạo trong nhà trường vào
thực tế từ đó rút kinh nghiệm, nâng cao năng lực bản thân. Tạo cơ hội cho sinh
viên tiếp xúc thực tế, có môi trường mới để trải nghiệm và học hỏi.
Việc làm có thể xem là một tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, năng
lực của bản thân mỗi sinh viên. Khẳng định địa vị xã hội của mỗi người
1.2.5. Những yếu tố tác động đến việc làm của sinh viên sau khi tốt
nghiệp
Việc xác định ngành học và nghề nghiệp sau này là một yếu tố quan


trọng quyết định đến việc học và xin việc của sinh viên sau này. Ngành học

Tên quốc tế: HANOI UNIVERSITY OF HOME AFFAIRS
Hiệu trưởng: Nhà giáo ưu tú – PGS.TS. Triệu Văn Cường
Số điện thoại liên hệ: (04)3.735.3659. (84-4) 37 532 864
Fax: (04)3.735.2955
Địa chỉ: Ngõ 36 – Phường Xuân La – Quận Tây Hồ - Hà Nội
Website:
Lô gô:

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập trực
thuộc Bộ Nội vụ, được thành lập ngày 14/11/2011 trên cơ sở nâng cấp từ
trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội. Trước đây có tên gọi là Trường Cao đẳng
Văn thư Lưu trữ Trung ương I. Tiền thân là Trường Trung học văn thư Lưu trữ
Trung ương I, được thành lập năm 1971 theo Quyết định số 109/BT ngày
18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Năm 1996, Trường được đổi tên
thành Trường Trung học Lưu trữ và Nghiệp vụ Văn phòng I.
Năm 1971 Trường Trung học Văn thư Lưu trữ được thành lập theo
Quyết định số 109/BT ngày 18/12/1971 của Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, theo
Quyết định Trường có nhiệm vụ: Đào tạo cán bộ trung học chuyên nghiệp của


ngành Văn thư, Lưu trữ; Bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn cho
cán bộ đang làm công tác văn thư, lưu trữ ở các cơ quan nhà nước.
Năm 1977, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng giao cho Trường thêm nhiệm vụ là
đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ trung học chuyên nghiệp ngành văn thư,
lưu trữ tại các tỉnh, thành phố miền Nam (theo Quyết định số 95/BT ngày
3/5/1977 Bộ trưởng Phủ thủ tướng về việc thành lập phân hiệu trung học văn
thư, lưu trữ ở phía Nam). Quyết định 95/BT ra đời kết thúc một giai đoạn đào
tạo của Trường Trung học Văn thư Lưu trữ mở ra một giai đoạn mới - giai
đoạn vừa trực tiếp đào tạo cán bộ trung học Văn thư Lưu trữ ở miền Bắc (từ
Quảng Bình trở ra) vừa đào tạo cán bộ trung học Văn thư Lưu trữ ở Phân hiệu

thư Lưu trữ Trung ương I trên cơ sở Trường Trung học Văn thư Lưu trữ Trung
ương I, Trường trực thuộc Bộ Nội vụ, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường hoạt động theo điều lệ Trường Cao đẳng.
Ngày21/4/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số
2275/QĐ-BGDĐT đổi tên Trường Cao đẳng Văn thư Lưu trữ Trung ương I
thành Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội.
Ngày12/6/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐTTg về đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nội vụ, quy định Trường Cao đẳng Nội
vụ Hà Nội là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Nội vụ.
Đứng trước yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới hiện nay của đất nước,
thực trạng nguồn nhân lực ngành Nội vụ hiện còn hạn chế, số lượng, chất
lượng chưa ngang tầm với đòi hỏi của tình hình mới. Trình độ và năng lực của
cán bộ công chức, viên chức còn thiếu hụt. Công tác phát triển nguồn nhân lực
từ khâu tạo nguồn, đào tạo gặp nhiều khó khăn nên vẫn chưa đạt được những
kết quả như mong muốn. Trong thực tế Bộ Nội vụ chưa có trường đại học đào
tạo nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ quản lý của Bộ. Do vậy, Ban cán sự
Đảng bộ Bộ Nội vụ đã chủ trương sớm thành lập trường đại học để đào tạo
nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, nghiệp vụ, bám sát
nhiệm vụ quản lý của Bộ, nhất là những lĩnh vực mà chưa có một trường đại
học nào đào tạo. Chủ trương đó đã được triển khai bằng Quyết định số
1121/QĐ-BNV ngày 04/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt Đề án
“Quy hoạch Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2020”,
trong đó có việc nâng cấp Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội thành Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội.
Chính vì vậy, Bộ Nội vụ đã chỉ đạo Trường Cao đẳng Nội vụ Hà Nội xây
dựng Dự án thành lập Trường Đại học Nội vụ góp phần xây dựng một đội ngũ cán


bộ, công chức trong sạch, vững mạnh có đầy đủ phẩm chất, năng lực để đáp ứng
yêu cầu, đòi hỏi củathời kỳ phát triển mới của đất nước là thực sự cần thiết.
Thực hiện chủ trương của Ban cán sự Đảng bộ Bộ Nội vụ, Trường Cao

2.1.2. Một số nét cơ bản về ngành Quản trị nhân lực trường Đại học
Nội vụ Hà Nội.
2.1.2.1. Đặc điểm ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà
Nội
Trụ sở làm việc: Phòng A504, A506, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội –
số 36 đường Xuân La – phường Xuân La – quận Tây Hồ - Hà Nội
Trưởng khoa: PGS.TS. Trần Đình Thảo
Phó khoa: TS. Trịnh Việt Tiến
: TS. Trần Thị Ngân Hà
Điện thoại: 043. 7532.864 - máy lẻ 107
Email:
Ngành Quản trị nhân lực thuộc Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực
trường Đại học Nội vụ Hà Nội . Khoa Tổ chức và quản lý nhân lực được thành
lập vào ngày 24 tháng 4 năm 2012 theo Quyết định số 210/QĐ-ĐHNV của
Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội. Là Khoa có số lượng sinh viên
đông nhất Trường, trong quá trình hoạt động, Khoa Tổ chức và quản lý nhân
lực đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và
tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động Đoàn.
Hàng năm nhà trường tổ chức tuyển sinh đào tạo bậc Đại học và cao
đẳng ngành Quản trị nhân lực với khoảng 500 sinh viên ở cả 2 cơ sở Hà Nội và
phân hiệu 2 tại Quảng Nam. Với sứ mệnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cho xã hội, lãnh đạo Trường và Khoa đẩy mạnh đổi mới về phương pháp giảng
dạy và giúp sinh viên tiếp cận với nhiều phương diện kiến thức thực tế hơn,
giúp sinh viên cởi mở hơn, tham gia vào các hoạt động của nhà trường, các câu
lạc bộ làm cho sinh viên năng động hơn, ham học hỏi hơn, tổ chức các buổi
hội thảo tư vấn việc làm cho sinh viên, giúp cho viên hiểu rõ hơn về tầm quan
trọng của việc làm cũng như bản thân cần làm gì để không rơi vào tình trạng
thất nghiệp
2.1.2.2. Sinh viên ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà
Nội

phỏng vấn và Khảo sát qua Gmail là 150 phiếu, thu về được 120 phiếu có kết
quả hoàn chỉnh. Kết quả khảo sát thu được thể hiện ở biểu đồ 2.1 dưới đây:
Biểu đồ 2.1: Thực trạng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên


ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà Nội
( Nguồn: Phiếu điều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt
nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ hà Nội tháng 04/
2017)
Qua biểu đồ, chúng tôi nhận thấy: Phần lớn sinh viên tốt nghiệp đã có
việc làm, với tỉ lệ là 91,7%. Còn lại 8,3% sinh viên chưa có việc làm. Như vậy
tỉ lệ sinh viên có việc làm lớn hơn gấp 10 lần tỉ lệ sinh viên chưa có việc làm,
có thể nói đây là một con số đáng mừng trong bối cảnh xã hội đang bàn luận
quá nhiều về tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường.
2.2.1. Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại học
Nội vụ Hà Nội chưa có việc làm.
Từ biểu đồ 2.1 cho chúng ta biết có 8,3% sinh viên tốt nghiệp chưa có
việc làm. Trong đó phần lớn sinh viên có xếp loại học lực TB - Khá, như vậy,
xếp loại học lực tốt nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng quyết định cơ hội xin
việc của sinh viên sau khi ra trường. Theo ý kiến của các anh chị tham gia
khảo sát, xếp loại học lực từ khá trở lên thường có cơ hội xin việc cao hơn.
Bên cạnh đó, việc rèn luyện, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, các
phong trào sinh viên cũng giúp sinh viên hình thành những kỹ năng yêu cầu
trong công việc (kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, lập kế hoạch...) giúp sinh
viên có cơ hội tìm việc làm dễ dàng hơn. Theo khảo sát của chúng tôi, lí do
chủ yếu mà hiện tại sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm là:
Đang trong quá trình chuyển việc: Một số anh chị đã đi làm nhưng xin
nghỉ việc vì công việc không được như mong muốn, chưa tìm được công việc
phù hợp với mình hoặc có một số anh chị đang trong thời gian chờ kết quả xin
việc.

40,0
Từ 6 – 12 tháng
20
16,7
Tổng
120
100
Bảng 2.1. Về thời gian xin việc của sinh viên tốt nghiệp ngành Quản
trị nhân lực trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã có việc làm.
( Nguồn: Phiếu điều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt
nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại học Nội vụ hà Nội tháng 04/ 2017)
Nhận xét: Có (43,3%) tìm được việc làm trong thời gian dưới 3 tháng,
trong đó có một số sinh viên có việc từ khi còn là đi học; (40,0%) sinh viên xin
được việc trong thời gian từ 3 đến 6 tháng; (16,7%) sinh viên xin được việc
làm trong thời gian từ 6 đến 12 tháng. Như vậy, phần lớn sinh viên xin được
việc làm sau khi tốt nghiệp từ sáu tháng trở xuống. Có thể nói đây là khoảng
thời gian để sinh viên tốt nghiệp tìm việc và chuẩn bị cho công việc, thích nghi
với hoàn cảnh và môi trường mới.
2.2.2.2. Về cách thức xin việc
Được thể hiện ở bảng sau:
Cách thức xin việc
Nhờ năng lực bản thân
Nhờ sự giúp đỡ của gia đình
Nhờ các mối quan hệ khác
Tổng

Số lượng (người)
68
36
16

làm việc có đúng chuyên ngành không?” chúng tôi thu được kết quả ở bảng
sau:
Việc làm
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
Đúng chuyên ngành
56
46,6
Gần ngành
45
37,5
Không đúng chuyên ngành
19
15,9
Tổng
120
100
Bảng 2.3. Sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực trường Đại
học Nội vụ Hà Nội đã có việc làm đúng chuyên ngành, gần ngành và
không đúng chuyên ngành.
( Nguồn: Phiếu điều tra khảo sát thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status