Tìm hiểu trang phục truyền thống của dân tộc hmông ở huyện đồng văn, tỉnh hà giang - Pdf 45

MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................................2
2. Tình hình nghiên cứu......................................................................................................3
3. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................................................4
5. Giả thuyết nghiên cứu.....................................................................................................4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................................4
7. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................................4
8. Đóng góp của đề tài........................................................................................................4
9. Nội dung đề tài................................................................................................................5

CHƯƠNG 1..........................................................................................................6
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VÀ KHÁI
QUÁT VỀ DÂN TỘC HMÔNG Ở HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ
GIANG.................................................................................................................6
1.1. Một số khái niệm..........................................................................................................6
1.1.1. Trang phục truyền thống...........................................................................................6
1.1.2. Đặc điểm của trang phục truyền thống.....................................................................6
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy trang phục
truyền thống........................................................................................................................7
1.2. Khái quát dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang....................................9
1.2.1. Khái quát về dân tộc Hmông ở Việt Nam.................................................................9
1.2.2. Đặc điểm của dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.........................12

CHƯƠNG 2........................................................................................................19
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC HMÔNG...................19
Ở HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG..................................................19
2.1. Trang phục truyền thống của dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang....19
2.1.1. Chất liệu và quy trình sản xuất vải..........................................................................19
2.1.2. Kiểu dáng của bộ trang phục truyền thống Hmông................................................21
2.1.3. Màu sắc, hoa văn của bộ trang phục truyền thống Hmông.....................................25


KẾT LUẬN........................................................................................................50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................51
PHỤ LỤC ẢNH.................................................................................................50
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng đời sống văn hoá vô cùng phong phú của cộng đồng các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam, trang phục truyền thống chính là một trong những biểu trưng văn
hoá đặc sắc, góp phần phản ánh phong tục, tập quán, vẻ đẹp và bản sắc riêng của mỗi
vùng, miền trên toàn đất nước.
Dân tộc Hmông là dân tộc thiểu số đông nhất ở Hà Giang hiện nay so với các
dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, với số dân trên 200.000 người, chiếm 1/3 số lượng
người Hmông của cả nước. Sống ở các địa phương tỉnh, thành phố, với điều kiện địa lí
tự nhiên khác nhau. Đây là dân tộc có nhiều nhóm địa phương: Hmông Xanh, Hmông
Đen, Hmông Hoa, Hmông Trắng… đã tạo nên nét văn hóa đặc trưng riêng như tiếng
nói, nếp sống, phong tục tập quán và nhất là trong trang phục. Những nét đặc trưng đó
tạo nên cái riêng của từng nhóm Hmông trên từng vùng địa phương khác nhau. Dân
tộc Hmông có truyền thống văn hóa lâu đời, độc đáo và đặc sắc. Có thể nói, hiện nay,
so với các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, dân tộc Hmông là dân tộc ít bị đánh mất
bản sắc văn hóa nhất.
Một trong những nét nổi bật khi nhắc đến văn hóa của dân tộc Hmông chính là
những bộ trang phục. Đó còn là một yếu tố cơ bản bởi nó là nhu cầu không thể thiếu
được trong sinh hoạt và lao động của con người. Trang phục không chỉ có chức năng
che đậy bảo vệ thân thể con người về mặt sinh học mà còn biểu hiện nếp sống của một
tộc người, thể hiện trình độ thủ công truyền thống và quan điểm thẩm mĩ riêng. Đặc
2


biệt, phải kể đến các trang phục được dệt thủ công, thêu tay của dân tộc Hmông với
màu sắc, hoa văn rực rỡ, lấy cảm hứng và chế tác từ cây cỏ, thiên nhiên. Ngoài ra, đó

3


giả tiến hành nghiên cứu đề tài: Tìm hiểu trang phục truyền thống của dân tộc
Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những nét đặc trưng trong trang phục truyền thống của dân
tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Từ đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn bộ
trang phục truyền thống của dân tộc Hmông trước tình hình hội nhập và phát triển của
đất nước hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trang phục truyền thống của dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Tìm hiểu về nét đẹp văn hóa qua trang phục truyền thống của dân tộc Hmông là
một nhiệm vụ quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của
tộc người. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của trang
phục đối với người Hmông. Từ đó, đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy
những nét đẹp văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Hmông nói riêng.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, nghiên cứu, mô tả trang phục truyền thống Hmông ở huyện Đồng
Văn, tỉnh Hà Giang.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá của bộ trang
phục ấy.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các như phương pháp khảo sát, nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn,
thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh.

trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao.
Sự xuất hiện của trang phục đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức của con
người. Lúc đầu trang phục chỉ là nhu cầu bảo vệ cơ thể, che nóng, che lạnh. Dần dần,
trang phục trở thành nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu làm đẹp của con người. Trang phục thể
hiện nghề nghiệp, đẳng cấp, phong tục, tập quán, tôn giáo, lễ nghi. Trang phục liên
quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống như: địa lý, lịch sử, kinh tế, môi trường văn
hóa. Chính vì thế, trong mỗi giai đoạn lịch sử, trang phục lại có những biến đổi, cách
tân cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và đời sống sinh hoạt của con người.
Bên cạnh đó, trang phục truyền thống còn có một số các đặc trưng khác để phân
biệt 54 dân tộc anh em trên cả nước và thị hiếu của từng vùng. Đứng ở góc độ văn hóa
tinh thần, trang phục còn có ý nghĩa về ý thức chính trị, về đạo đức con người, về quan
niệm thẩm mỹ...
Trang phục của các dân tộc Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng, và mỗi
trang phục lại mang những nét độc đáo và đặc trưng riêng cho từng vùng, từng miền,
chẳng hạn ở vùng thấp miền núi, các dân tộc sống trên những nếp nhà sàn thường mặc
quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô-típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Ở
6


vùng núi, cao nguyên phụ nữ thường mặc váy, nam giới đóng khố... Song nhìn chung
trang phục của các dân tộc được trang trí hoa văn sặc sỡ hài hoà về màu sắc, đa dạng
về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại
trên đường đèo dốc.
Cùng với những bộ váy áo do đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các
thiếu nữ dân tộc tạo ra thì những bộ đồ trang sức như các loại hoa tai, vòng tay, vòng cổ
bằng đồng, bạc, dây cườm không thể thiếu được trong trang phục của người dân tộc.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy
trang phục truyền thống
Bảo tồn những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc là một trong những
việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay, bởi lẽ văn hóa là một mục tiêu, vừa là một

trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá.
Về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị, điều 63 ghi: “Nhà
nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với các nước, tổ chức, cả
nhân nước ngoài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên cơ sở tôn
trọng độc lập chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia; góp phần phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới, tăng
cường hợp tác hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”. Đó là những yếu tố cơ
bản hết sức quan trọng về mặt pháp lý để chúng ta có thể tiến hành tốt các hoạt động
liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống cũng như trang
phục 54 dân tộc Việt nam nói chung và trang phục tộc người Hmông nói riêng.
Theo Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch Hoàng Tuấn Anh phát biểu,
từ năm 2008, ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4 được xác lập theo Quyết định
số 1668/QĐ-TTg ngày 17/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm tại Làng Văn
hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội) và tại các địa
phương đều tổ chức nhiều hoạt động, giao lưu, gặp mặt cộng đồng các dân tộc, trong
đó các chương trình nghệ thuật do các nghệ nhân, diễn viên quần chúng thể hiện; Ngày
hội văn hóa các dân tộc Việt Nam; Tổ chức Trình diễn trang phục các dân tộc Việt
Nam (năm 2011);... Bên cạnh đó, hàng năm, từ năm 2010 đến nay, cũng tại Làng Văn
hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đều tổ chức các hoạt động giới thiệu, trình diễn
văn hóa truyền thống của các cộng đồng dân tộc: Tày, Nùng, Thái, Hmông, Khmer,
Chăm, Lô Lô, Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, Mường… tại các không gian văn hóa của các dân
tộc do các nghệ nhân thực hiện, phục vụ đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến
tham quan và giao lưu tại đây. [2]

8


1.2. Khái quát dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
1.2.1. Khái quát về dân tộc Hmông ở Việt Nam

chiến tranh tàn bạo và đẫm máu, đàn áp nhiều tộc người (trong đó có dân tộc Hmông),
để giành quyền cai trị đất nước, làm người Hmông phải thiên di đi khắp nơi.
Theo các tài liệu khoa học, cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người
Hmông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là
100 năm về trước. Hmông là tên tự gọi. Còn các dân tộc khác gọi dân tộc này với các
10


tên Miêu, Mèo, Mẹo. Căn cứ vào đặc điểm về dân tộc học và ngôn ngữ học, người ta
chia tộc Hmông ra làm các ngành: Hmông Trắng (Môngz Đơư), Hmông Hoa (Môngz
Lênhs), Hmông Đỏ (Môngz Si), Hmông Đen (Môngz Đuz), Hmông Xanh (Môngz
Dua), Na Miểu (Mèo nước). Trong đó, cũng có ý kiến cho rằng Hmông Hoa và Hmông
Đỏ là một.
Điểm đầu tiên, họ đặt chân đến là Mèo Vạc trên cao nguyên Đồng Văn (Hà
Giang), nơi địa đầu Tổ quốc Việt Nam. Vì thế, dân tộc Hmông sinh sống ở
Việt Nam đều coi cao nguyên Đồng Văn là quê hương đất tổ của mình. [10]
1.2.1.3. Đặc điểm cư trú
Dân tộc Hmông sống chủ yếu ở Trung Quốc. Ngoài ra còn có khoảng 2.000.000
người Hmông sống ở các nước khác như Việt Nam, Lào, Myanma cũng như các quốc
gia khác. Có khoảng 124.000 người sống ở Thái Lan, ở đây họ là một trong số 6 dân
tộc chính sinh sống trên núi.
Sau năm 1975 cộng đồng dân tộc Hmông di cư sang sinh sống ở các nước
như Mỹ, Pháp, Úc con số lên tới hàng 100.000 người (chủ yếu di cư từ Lào).
Dân tộc Hmông cư trú thường ở độ cao từ 800 - 1500 m so với mực nước biển
gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên
giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở
các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La... Do tập quán du mục nên một số người Hmông trong những năm 1980, 1990 đã di
dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Hmông ở Việt Nam có

dân đồng tộc ở các nước khác, đặc biệt là những địa bàn sát biên giới giữa Việt Nam
với Trung Quốc và Lào. Một bộ phận đáng kể người Hmông vẫn còn theo các lối sống
truyền thống ở miền tây bắc Việt Nam. Với sự gia tăng của du lịch vào các khu vực
này trong những năm 1990 đã giới thiệu cho nhiều người Hmông lối sống phương Tây,
và trang phục truyền thống của người Hmông đang dần dần biến mất. [10]
1.2.2. Đặc điểm của dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
1.2.2.1. Hoạt động sản xuất (Đời sống mưu sinh)
Dân tộc Hmông cũng sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Nguồn sống
chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân
có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ,
khoai, rau, lạc, vừng, đậu,... Chiếc cày của người Hmông rất nổi tiếng về độ bền cũng
như tính hiệu quả.
Trước đây dân tộc Hmông còn trồng lanh, thuốc phiện, nhưng hiện nay theo
chính sách của Nhà nước, thuốc phiện thuộc loại chất kích thích bị cấm nên đã không
còn được trồng trọt nữa. Bên cạnh đó, họ trồng các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận.
Đây là những hoạt động sản xuất đặc sắc của dân tộc Hmông.
Dân tộc Hmông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương
tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân
thiết với từng gia đình Hmông.
Dân tộc Hmông phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên
cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ
nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Hmông phần lớn là thợ bán
chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng
bằng gỗ ghép.
Nghề dệt vải lanh là một trong những hoạt động sản xuất đặc sắc của người
Hmông với những kĩ thuật dệt thủ công hết sức tỉ mỉ. [7]
12


1.2.2.2. Nhà ở

điếu cày.
13


Một số các đặc sản của dân tộc Hmông như: thắng cố, mèn mén, thịt trâu gác
bếp,... là những món ăn nổi tiếng khi đến với Hà Giang. [7]
Nói đến thắng cố, ai cũng biết đó là đặc sản của đồng bào dân tộc Hmông,
thường được làm vào các ngày lễ hội, lễ ăn thề bảo vệ rừng, những ngày có đông
người như hội làng, dòng họ hay ở chợ phiên. Có người giải thích chữ “Thắng cố”
theo âm Hán Việt: thắng cố có nghĩa là thang cốt, tức là canh xương. Phần xương, gân
cốt, mỡ và các loại thịt vụn cộng với tim gan phèo phổi của bò hoặc ngựa cho vào
chảo nước sôi đun liên tục sẽ tạo nên món thắng cố. Chợ huyện ở Đồng Văn (Hà
Giang) vào phiên chính chủ nhật vẫn luôn luôn có chảo thắng cố nóng hổi. Khi chợ đã
vãn, ấy là lúc mọi người ngồi quây quần bên chảo thắng cố, từng bát, từng bát thắng
cố được múc ra, rượu ngô thơm lừng. Cuộc vui xuống chợ lúc này mới bắt đầu.
So với một số dân tộc vùng cao khác thì dân tộc Hmông không chỉ giỏi về kỹ
thuật trồng và chăm sóc cây ngô mà họ còn rất giỏi trong việc chế biến ngô thành
nhiều món ăn độc đáo, hấp dẫn. Một trong những món ăn phổ biến và đặc trưng nhất
là mèn mén. Họ xay ngô thành bột và nấu lượng bột vừa đủ với bữa ăn của gia đình.
Công đoạn quan trọng nhất là khi người chế biến phải tính toán cho lượng nước vừa
đủ để bột ngô không bị khô hoặc bị nhão sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hương vị của
món ăn.
Tiếp đến là món thịt trâu, thịt heo gác bếp. Đây là món ăn nổi tiếng ở vùng núi
rừng Tây Bắc chứ không riêng gì ở tỉnh Hà Giang. Hầu như nhà nào trong các bản
làng cũng nuôi ít nhất vài con heo. Heo nuôi ở bản được thả rong, không ăn các loại
thức ăn tăng trọng mà chủ yếu ăn rau, củ. Người ta nuôi heo chủ yếu phục vụ nhu cầu
tiêu dùng trong gia đình. Nuôi nhiều mới bán chợ. Khi mổ động vật, chủ nhà thường
ăn phần đầu và chân. Phần thịt còn lại được cắt thành lát dài, tẩm ướp gia vị rồi treo
trên giàn bếp. Nhiều ngày, khói bay lên bám vào thịt tạo một màu nâu đen. Ăn thử
món này mới cảm nhận được vị ngon độc đáo của nó. Heo vận động nhiều nên thịt săn

cho gia đình nhà gái biết sự việc. Sau đó, hai bên gia đình bàn bạc, ấn định ngày lành tháng
tốt để tổ chức lễ thành hôn cho đôi trai gái.
Cũng giống như hôn nhân, ma chay là một tín ngưỡng hết sức quan trọng trong
đời sống của dân tộc Hmông, không chỉ riêng ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Trước kia, ma chay của người Hmông thường được tổ chức kéo dài từ 5 đến 7 ngày,
ngày nay giảm xuống còn từ 2 đến 3 ngày để phù hợp hơn với luật của Bộ Văn hóa và
đời sống hiện đại. Khi gia đình có người chết, họ đi mời người (thầy mo) đến làm thủ
tục cúng hát mở đường, sau đó mới tiến hành khâm niệm (áo ngoài bằng lanh thì mới
được đoàn tụ với tổ tiên). Cách hành xử mỗi nơi mỗi khác: có nơi để người chết trên
"cáng" treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào. Có nơi người chết
được đặt vào quan tài nhưng không đậy nắp để dễ dàng xem mặt người chết. Trong lúc
15


hát mở đường đến đoạn sự tích gà dẫn đường cho người chết về với tổ tiên, người ta
mang một con gà đã chết để nguyên lông đặt trong âu bột ngô để phía dưới người chết.
Trong đám ma người Hmông dùng khèn và trống để thực hiện nghi lễ tiễn đưa người
chết về với tổ tiên được êm đẹp. Sau khi chôn cất xong, nếu là nam giới, người ta cắm
9 cành lá, nữ giới cắm 7 cành để đánh lạc hồn người chết không quay về làm hại
những người thân trong gia đình. Lễ cúng đưa hồn người chết về với tổ tiên sau khi
chôn cất hoặc kéo dài một hay vài năm.
Dân tộc Hmông cũng rất coi trong việc thờ cúng người đã khuất, thờ cúng tổ
tiên, ông bà, cha mẹ và những người đồng tộc. Người ta tin rằng tổ tiên đã chết, che
chở cho con cháu đang sống làm những nghi lễ cầu xin cho các thành viên thị tộc hay
gia đình và tiến hành những nghi thức nhằm thờ phụng tổ tiên. Bàn thờ tổ tiên thường
đặt ở vị trí gian giữa, nhiều dòng họ Hmông không lập bàn thờ tổ tiên riêng. Nơi thờ
cúng tổ tiên chỉ là một miếng giấy hình chữ nhật kích thước 20 - 30cm. Nơi đặt bàn
thờ là linh thiêng, chỉ có chủ gia đình mới được làm chủ lễ cúng mời tổ tiên, chỉ có con
trai mới được đến gần bàn thờ. Người Hmông chỉ cúng tổ tiên vào dịp năm mới, lễ
cơm mới hoặc khi cần cúng chữa bệnh… đối với hồn cụ, ông, cha ở thế giới bên kia.

và dạy dân tộc Hmông cách trồng ngô, lúa, trồng lanh làm vải mặc … Truyện cổ tích về
các con vật chiếm khá nhiều, đặc biệt là truyện về con hổ…
Dân tộc Hmông say đắm dân ca dân tộc mình, đó là Tiếng hát tình yêu (gầu
plềnh), Tiếng hát cưới xin (gầu xuồng),… mà họ thường hát khi lao động nương rẫy,
trong lúc se sợi dệt vải, trong khi đi chợ, đi hội.
Trong những dịp lễ hội, đặc biệt là hội Gầu Tào (đón năm mới), những bài hát
dân ca này không chỉ thể hiện bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc
cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, đàn môi,…). Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa
múa. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình. Sau một ngày lao
động mệt mỏi, thanh niên dùng khèn, đàn môi gửi gắm và thể hiện tiếng lòng mình với
bạn tình, ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, của quê hương, đất nước.

17


TIỂU KẾT
Trong Chương 1 luận văn đã làm rõ một số khái niệm cơ bản về trang phục
truyền thống, đặc điểm của trang phục truyền thống và quan đểm của Đảng và Nhà
nước trong việc bảo tồn và phát huy trang phục truyền thống. Luận văn đã khái quát
tác động của yếu tố địa lý, kinh tế xã hội và lịch sử đến đời sống văn hóa dân tộc
Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Các quan niệm được trình bày ở chương 1
là cơ sở lý luận để luận văn tiến hành khảo sát thực trạng về trang phục truyền thống
của dân tộc Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang hiện nay trong chương 2. Luận
văn sẽ khảo sát thực trạng về trang phục truyền thống của dân tộc Hmông ở các
phương diện: Chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, hoa văn của bộ trang phục truyền thống
Hmông cũng như giá trị truyền thống mà nó mang lại. Từ đó, chúng ta thấy rõ sự phong
phú, đa dạng của văn hóa truyền thống người Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà
Giang và sự biến đổi của nó trong thời gian qua; thấy được vai trò quan trọng của việc
bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc thiểu số nói chung và của dân tộc Hmông
ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang nói riêng.

khó nối.
Sau khi đập giập lanh, làm cho vỏ ngoài bong ra, người ta chia đều lanh thành
những chùm sợi đều nhau, cuộn thành từng cuộn to. Từng cuộn sợi lanh này được ngâm
với nước tro bếp, luộc chín cho bong hết lớp vỏ xanh, giặt sạch, sau đó lại đun một lần
nữa với nước hòa sáp ong khoảng 4 - 5 giờ, sau đó vớt ra và để ráo nước, dùng đoạn gỗ
19


tròn trà lăn trên cuộn sợi lanh tới lúc nào sợi lanh thẳng, sạch và bóng là được. Thứ sợi
lanh trắng và sạch ấy gọi là “xé”, đủ để se thành sợi trước khi đưa lên khung dệt.
Khung dệt của dân tộc Hmông là một bước cải tiến giữa khung dệt của các dân
tộc Môn Khmer, Nam Đảo và khung dệt của người Thái, Tày, Mường. Khi dệt, người
phụ nữ ngồi cạnh khung, buộc đầu dây ở trục cuộn vải vào lưng, chân đạp bàn đạp làm
go phụ tách rời ra, lấy tay đẩy thoi sợi ngang qua lại, kéo go phụ tách sợi dọc ra, kéo
go chính dập cho sợi khít lại. Loại khung dệt này chỉ dệt được khổ vải trên dưới 40cm,
năng suất thường thấp, một cái váy phải dệt hàng năm mới xong.
Nhưng từ xé phải qua một số khâu chế biến để trở thành sợi dệt. Trước hết xé
được cuộn lại thành những cuộn to tròn bằng một dụng cụ gọi là “khẩu lỳ kho”, rồi sau
đó sợi lại được thả vào một cái thùng gỗ, theo từng lớp một cho khỏi rối. Từ thùng, sợi
được kéo bằng cái xa thành các con chỉ. Một lần nữa các con chỉ này được cuộn vào
các ống nứa qua một hệ thống bánh quay và ròng rọc. [5]
Nhìn cách người Hmông nối những sợi lanh mới thấy hết sự tỉ mỉ, kiên nhẫn của
người phụ nữ Hmông. Nhưng cũng để có những sợi lanh như vậy, phải trải qua rất nhiều
công đoạn vất vả. Để gieo hạt lanh cũng phải chọn ra những đám nương tốt nhất. Lanh gieo
xuống, gặp đất tốt, xanh um, cây vươn cao lớn nhanh từng ngày. Thu hoạch lanh về, rồi đập
dập, tước lấy vỏ, ngâm nước tro, hong khô,… Đến công đoạn nối sợi lanh. Công đoạn này
thường được phụ nữ Hmông làm vào bất kì lúc nào ngơi tay. Qua không biết bao nhiêu
công đoạn mới thành ra được một tấm vải lanh. Vải lanh lại được ngâm nước tro cho đến
khi trắng óng mới thôi.
Vải dệt xong, nấu trong nước tro bếp sao cho thật sạch, rồi nấu với sáp ong để

nguyên được nhiều phong tục tập quán, vật dụng cổ truyền độc đáo. Một trong số đó là
việc dệt vải, thêu may các bộ trang phục dân tộc đặc sắc, rực rỡ nhất vùng. Đối với dân
tộc Hmông, trang phục là cái mặc, cũng là của cải gia truyền, ai nấy đều phải bảo tồn
và phát huy sao cho ngày càng đẹp càng quý, phản ánh rõ được nét truyền thống văn
hóa, lịch sử, tín ngưỡng, cá tính và sự giàu có của tộc nguời Hmông.
Từ xưa đến nay, trang phục nam nữ Hmông đều do phụ nữ Hmông làm.
Khoảng 7 - 8 tuổi, các bé gái Hmông đã được bà và mẹ dạy dệt vải, thêu, may các kiểu
hoa văn truyền thống, để tới 15 – 18 tuổi là khi họ trưởng thành và lấy chồng thì sẽ
may được 8 – 15 chiếc váy làm của hồi môn.
Quần áo của dân tộc Hmông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt, đậm đà tính
cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kĩ thuật đa dạng. Trang phục nam Hmông
độc đáo khác nhiều tộc người trong khu vực tỉnh Hà Giang. Trang phục nữ khó lẫn lộn
với các tộc người khác bởi phong cách tạo dáng và trang trí công phu, kết hợp kĩ thuật
nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghép, dệt hoa văn với kiểu váy rộng và đẹp.
Nam giới Hmông mặc trang phục cổ truyền tương tự nữ giới song giản tiện và
21


mộc mạc hơn. Bộ nam phục gồm quần, áo ngắn, thắt lưng và khăn bịt đầu. Phải nói
rằng, trong hầu hết các dân tộc vùng núi thì nam giới người Hmông còn giữ lại lâu bền
bộ y phục cổ truyền của mình, trong khi nam giới các dân tộc khác, nhất là lớp thanh
niên hầu như đã ăn mặc giống người Kinh. Quần của nam giới hay mặc kiểu chân què,
cạp rộng lá tọa, đũng quần rất thấp khi mặc, cạp được vắt qua một bên rồi dùng thắt
lưng vải hay da thắt lại cho chặt. Vì là quần đũng thấp, ống lại rộng, nên khi mặc, quần
của nam giới Hmông có nét dáng riêng, không thể pha trộn với bất cứ dân tộc nào. [5]
Có lẽ độc đáo hơn cả vẫn là chiếc áo ngắn của đàn ông Hmông. Trước nhất,
chiếc áo đó rất ngắn, phía trước chỉ đủ che một phần ngực, còn khoảng bụng từ gấu áo
cho tới cạp quần vẫn để hở, thế nên họ mặc một chiếc áo lót bên trong màu trắng dài
hơn áo ngoài, nên khi mặc áo ngoài vào vào gấu áo và cạp quần để hở một khoảng
bụng áo bên trong, tạo nên một kiểu mặc rất “Hmông”. Về cơ bản đây là loại may kiểu

Nhìn chung có thể thấy phụ nữ Hmông mặc áo bốn thân, xẻ ngực, không cài nút,
gấu áo không khâu và cho vào trong váy. Ống tay áo thường trang trí họa tiết hoa văn
những đường vằn ngang từ nách đến cổ tay. Đường viền cổ và nẹp hai thân trước được
trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm). Phụ nữ Hmông còn
dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo. Phía
sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc.
Áo ngắn cũng được phụ nữ để công trang trí, thêu thùa. Áo may vừa với thân
hình, xẻ ngực, hai vạt vừa chấm thắt lưng, hai nách áo không cắt thẳng mà hơi lượn eo,
nên khi mặc, áo càng ôm gọn lấy người. Phần áo được tập trung trang trí là cổ áo yếm
phía gáy. Loại áo mặc thường ngày chỉ là một miếng vải màu hay thêu thùa qua loa,
nhưng nếu là áo cưới, áo hội, áo cưới, áo cúng hay áo mặc cho người chết thì trang trí
cổ yếm rất cầu kỳ và công phu. Bố cục hoa văn ở đây theo mảng từ lớp trung tâm ra
ngoài rìa, trung tâm là ô trám, sao, biến thể của chữ thập... Ngoài ra là các đường song
song bao lấy hoa văn trung tâm thành nhiều lớp. Hai nẹp áp phía trước không đơm
khuy, nhưng đáp thêm bằng vải màu ưa dùng hơn cả là nẹp cổ màu đỏ hay màu vàng.
Cũng có ghép nhiều loại vải khác nhau thành từng đốt, màu sắc xen kẽ nhau. Tay áo
nối với thân ngang đường vai, tay áo hẹp dài, trên đó ghép nhiều vòng vải màu sắc
khác nhau. Áo nữ Hmông cũng may thành hai lớp, chỉ khác là vải lớp trong và ngoài
như nhau, nên họ có thể mặc hai mặt.
Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình
tròn. Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm dân tộc
Hmông. Váy của người phụ nữ là váy xếp, trên thân váy không trang trí màu sắc hay
hoa văn gì. Có loại váy ít nếp hơn mặc ngày thường, còn váy nhiều nếp dùng riêng cho
những dịp lễ tết. Váy gồm cạp và thân váy. Cạp váy đã được triết lại sao cho vừa vòng
bụng, còn thân váy thì xòe rộng ra. Phần thân váy mặc thường chỉ may 20 - 30 vuông
23


vải là đủ, nhưng váy ngày lễ thì phải gấp đôi số vải, do vậy số nếp gấp nhiều hơn, xòe
rộng hơn, đung đưa bập bềnh theo nhịp bước. Đặc biệt thân váy chia thành hai phần:

24


hoa văn trang trí tinh tế hơn.
Dân tộc Hmông có loại áo riêng trong tang lễ, vừa cho người chết và những
người sống. Áo mặc cho người chết, không kể nam hay nữ đều giống nhau, đó là áo
may bằng vải lanh, xẻ ngực, may rộng, vạt phủ dài, cổ áo trang trí giống như áo của
phụ nữ, nhưng to rộng hơn. Cổ áo sau của người chết cũng có hoa văn trang trí, nhưng
không hiểu đó có phải là loại trang trí riêng hay không. Những người thân thuộc phải
để tang thì mặc loại áo “cúng bò”. Đó là áo may bằng vải lanh trắng, có tay hay không
có tay, xẻ ngực, yếm cổ và nẹp áo trước đều trang trí hoa văn và đáp vải màu. Gọi là
áo cúng bò vì khi cha mẹ chết, con cái phải mổ bò cúng, nên áo mặc trong tang lễ cúng
có tên như vậy. [5]
Cũng như nhiều nhóm Hmông khác, phụ nữ Hmông ở huyện Đồng Văn, tỉnh
Hà Giang quen dùng nhiều đồ trang sức, vòng cổ là thứ trang sức được dùng nhiều
nhất. Có nhiều vòng cỡ khác nhau, kích thước to nhỏ, trang trí, chất liệu khác nhau,
ngày thường người ta đeo vòng vía và một vài vòng bạc, nhưng ngày lễ cưới thì
thường đeo vòng cổ thành bộ gồm nhiều chiếc cùng với những dây chuyền bạc.
Ngoài ra, phụ nữ Hmông thường để tóc dài, quấn quanh đầu, hoặc đội khăn
quấn thành khối cao trên đầu.
2.1.3. Màu sắc, hoa văn của bộ trang phục truyền thống Hmông
2.1.3.1. Màu sắc
Màu sắc hoa văn trên vải phản ánh thẩm mỹ, tâm lý, cá tính, ước vọng,… trong cuộc
sống của dân tộc Hmông. Bảng màu của người Hmông gồm năm màu cơ bản: chàm
thẫm thành đen, đỏ, vàng, trắng, xanh, lơ. Để tạo màu chàm sẫm, người phụ nữ
Hmông phải tiến hành nhiều khâu từ luộc sợi lanh với nước tro, ngâm sợi trong nước
chàm và củ nâu nhiều lần tạo thành màu chàm sẫm. Để thêm độ bóng, họ miết sáp ong
vào vải và mài lên đá. Màu chàm sẫm thường dùng làm nền cho hoa văn trang trí. Đôi
khi có ít diềm mỏng màu chàm chạy song song với diềm trắng ở dải hoa văn chính,
mục đích là để tôn dải hoa văn, tô đậm màu sắc cho hoa văn thêm rực rỡ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status