DANH SÁCH NHÓM
1.
Trần Ngọc Diện
2.
Nguyễn Thị Huyền
3.
Lăng Thị Lành
4.
Dương Thị Ngân
5.
Đình Thúy Ngân
6.
Phạm Trung Thực
7.
Đàm Thị Thúy
8.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng chúng tôi, các nội
dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất
kỳ hình thức nào trước đây. Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về nội dung bài nghiên cứu khoa học của chúng tôi.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG TỤC TANG MA VÀ KHÁI
QUÁT VỀ HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG...............................4
1.1. Một số khái niệm cơ bản.........................................................................4
1.1.1. Khái niệm phong tục............................................................................4
1.1.2. Khái niệm tang ma................................................................................4
1.1.3. Khái niệm nghi lễ.................................................................................4
1.2 Một số nghi thức cơ bản trong phong tục tang ma...................................4
1.3 Khái quát chung về huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang...........................5
1.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên............................................................5
1.3.2. Lịch sử hình thành, dân cư và thành phần dân tộc...............................6
1.3.3. Đặc điểm văn hóa dân tộc Tày nói chung và dân tộc Tày tại huyện
Quang Bình, tỉnh Hà Giang nói riêng.............................................................6
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM PHONG TỤC TANG MA CỦA DÂN TỘC TÀY
TẠI HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG..........................................8
2.1. Một số nghi thức trong phong tục tang ma của dân tộc Tày tại huyện
Quang Bình tỉnh Hà Giang.............................................................................8
2.1.1. Lễ tắm gội cho người chết (Mộc dục)..................................................8
2.1.2. Khâm liệm............................................................................................9
2.1.3. Nhập quan.............................................................................................9
táng, thuỷ táng….. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có phong
tục tập quán riêng góp phần hình thành nên tính đa dạng của văn hoá Việt Nam.
Việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hoá đa dạng đó là điều hết sức quan
trọng đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, chính vì thế, trong văn kiện Đại
hội XI của Đảng đã có những định hướng quan trọng về phát triển văn hoá “
Xây dựng nền văn hoá Việt |Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển
toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân
chủ tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống
xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của
phát triển.
Dân tộc tày tại huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giàng là một trong những dân
tộc có nền văn hoá đặc sắc trong cộng đồng các dân tộc ở nước ta cụ thể đó là
những phong tục tập quán, sinh hoạt cộng đồng, từ ăn, mặc, ở, cho đến đời sống
tĩn ngưỡng, tâm linh mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc mang ý nghĩa tâm linh,
là hoạt động tín ngưỡng biểu thị các quan niệm về thế giới trần gian và thế giới
bên kia thông qua các nghi lễ trong tang ma để biểu thị được tình cảm của người
sống đến người chết, gia đình với dòng họ thể hiện được long hiếu thảo của con
cháu đối với công ơn dưỡng dục của những người đã mất.
Hiện nay phong tục tang ma của huyện Quang Bình – tỉnh Hà Giang bên
cạnh những mặt tích cực còn nhiều hạn chế về các hủ tục, rườm già tốn kém tuy
nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên nhóm đề tài quyết
định lựa chọn đề tài “Phong tục tang ma của dân tộc Tày tại huyện Quang Bình
– tỉnh Hà Giang” để góp phần hình thành lối sống văn văn minh cho dân tộc Tày
1
tại huyện Quang Bình – tỉnh Hà Giang.
2. Lịch sử tình hình nghiên cứu
Phong tục tang ma là một trong những lĩnh vực đã có nhiều bài viết về
vấn đề tang ma như :
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phong tục tang ma của
dân tộc tày tại huyện Quang Bình – tỉnh Hà Giang
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát điền dã, phỏng vấn (phỏng vấn người dân 10
người, trưởng thôn 1 người, chuyên viên phòng văn hóa 2 người, cán bộ văn hóa
xã Vĩ Thượng, Tiên Yên, Xuân Giang)
- Phương pháp quan sát (Quan sát lễ diễn ra một vài đám tang tại huyện
Quang Bình – tỉnh Hà Giang trong tháng 2 năm 2017)
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tài liệu chuyên ngành về lĩnh vực trong
việc tang, báo cáo tháng, qúy, năm, các văn bản chính sách của huyện Quang
Binh về quản lý nếp sống văn minh về việc tang, nguồn tài liệu mở: internet,
sách, báo, tạp chí…
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung đề
tài gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phong tục tang ma và khái quát về huyện
Quang Bình – tỉnh Hà Giang
Chương 2: Thực trạng thực hiện phong tục tang ma của dân tộc Tày tại
huyện Quang Bình – Tỉnh Hà Giang
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phong tục tang ma của
dân tộc Tày tại huyện Quang Bình – Tỉnh Hà Giang
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG TỤC TANG MA VÀ KHÁI QUÁT VỀ
HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG
1.1 . Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm phong tục
quan phải khâm liệm. Có hai cách nhập quan đó là đại liệm và tiểu liệm.
d. Lễ phát tang : tức là lễ bắt đầu chsinh thức đám tang. Kể từ lúc có lễ
này con cháu mặc tang phục. Lễ phát tang gồm có : thiết linh sàng và linh tọa
lập minh tinh, mặc tang phục.
e. Lễ phá ngục : tức là lễ chém vào áo quan ba nhát để xua đuổi ta mà vì
ta tin rằng trong chiếc áo quan, dù có hậu sự sắm trước, hay là cỗ áo quan mua ở
hàng về đều có quỷ tinh lần khuất đề án ảnh nguwòi chết, gieo tai họa cho tang
gia bởi vậy trước khi làm lễ nhập quan phải trừ khử lũ ma quỷ đó.
f. Đưa tang - Hạ huyệt : là nghi lễ cuối cùng và là nghi lễ quan trọng nhất
để xin phép Thổ thần để an táng người chết tại đây. Lễ gồm có trầu rượu, vàng,
hương, đĩa xôi, thủ lợn...bày trên một án đặt theo chiều hướng thuận lợi. Cúng
Thổ thần xong, đến giờ hoàng đạo, người ta mới đặt linh cữu xuống - đó là Hạ
huyệt.[2,Tr112]
1.3 Khái quát chung về huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang
1.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên
Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam. Đất Hà Giang
xưa thuộc bộ Tân Hưng, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Về sau, Hà Giang
nằm trong phạm vi thế lực của ba Tộc tướng xứ Thái. Trong giai đoạn Minh
thuộc đầu thế kỷ 15, được gọi là huyện Bình Nguyên, đổi thành châu Bình
Nguyên từ năm 1473, sau lại đổi tên thành châu Vị Xuyên.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Hà Giang từ tỉnh Hà Tuyên. Khi
tách ra, tỉnh Hà Giang có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Giang(tỉnh lị) và 9
huyện: Bắc Mê, Bắc Quang, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ, Vị
Xuyên, Xín Mần, Yên Minh.
Quang Bình là một huyện thuộc tỉnh Hà Giang, toàn huyện có 15 đơn vị
hành chính trực thuộc bao gồm thị trấn Yên Bình (thành lập tháng 12/2010 trên
cơ sở xã Yên Bình) và 14 xã:Xuân Minh, Tiên Nguyên, Tân Nam, Bản Rịa, Yên
5
6
nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo.
Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm
chàm, hầu như không có thêu thùa trang trí.(Hình 2)
Tục lễ cưới xin, ma chay thường tổ chức linh đình, khá tốn kém. Người
Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ thổ công, vua bếp, bà Mụ.
Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tượng hình, gần giống chữ Nôm Việt ra
đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng…
Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác,
phuối rọi,… Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, đám cưới, mừng nhà
mới hay khi có khách đến bản., phuối pác, phuối rọi,… Người ta thường lượn
trong hội lồng tồng, đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản.[7]
Tiểu kết chương 1
Chương 1 nhóm tác giả đã nghiên cứu cơ sở luận lý và khái quát về huyện
Quang Bình tỉnh Hà Giang về phong tục tang ma của dân tộc Tày bao gồm một
số khái niệm, các nghi lễ tang ma cơ bản và khái quát về huyện Quang Bình tỉnh
Hà Giang. Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu chuyên sâu về
đặc điểm phong tục tang ma của dân tộc Tày.
7
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM PHONG TỤC TANG MA CỦA DÂN TỘC TÀY TẠI HUYỆN
QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG
2.1. Một số nghi thức trong phong tục tang ma của dân tộc Tày tại
huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang
Xuất phát từ quan niệm cho rằng linh hồn cha mẹ sang bên kia vẫn sinh
được quấn 1-2 miếng vải trắng thì trải ít tro bếp sạch tượng trưng cho vật thiêng
bảo vệ thi hài.
Khâm liệm, nhập quan, phát tang và an táng là các việc đã được chọn giờ
kỹ lưỡng, đúng giờ là tiến hành các việc trên không được chậm trễ. Ba việc
Khâm liệm, Nhập quan, Phát tang làm kế tiếp nhau, không gián đoạn. Riêng
việc an táng chọn ngày giờ khác, vì còn quang quan tài tại nhà để thờ vong
thường là một ngày, một đêm nữa.
Để khâm liệm, trước hết trải chiếu xuống đất, bên cạnh chỗ quàn quan tài,
đặt ba chiếc dây vải tầm ngang vai, ngang mông và ngang bắp chân người chết;
rồi trải tấm vải trắng đã may, đủ diện tích bọc thi hài lên trên ba chiếc dây ấy.
Đặt người chết vào chính giữa, vắt vải thừa ở chân lên trước, kế đến vắt hai bên
vào và cuối cùng là vắt vải thừa ở trên đầu xuống. Cột ba dây đai phía ngoài
nhằm cố định vải liệm.
Thường để lộ mặt, cho người đi xa về muộn, cùng con cháu và người
viếng nhìn mặt lần cuối.
Ngày trước có đại liệm và tiểu liệm. Việc ấy là do chưa có vải khổ to như
ngày nay, khi liệm đều dùng vải khổ nhỏ chỉ độ 40 phân. Đại liệm có 6 tấm vải,
một tấm dọc theo thân người và năm tấm ngang. Tiểu liệm có 4 tấm vải, một
tấm dọc theo thân người và ba tấm ngang. Khâm liệm xong tiến hành nhập quan
luôn.
2.1.3. Nhập quan
Nhập quan là đưa thi hài vào quan tài. Trước khi nhập quan phải kiểm tra
quan tài và gắn kín những chỗ nứt nẻ. Bây giờ dùng keo dán gỗ rất tốt.
Thầy cúng thắp hương , khấn vái rồi làm thủ tục phạt mộc - dùng dao chặt vào
bốn góc phía trong quan tài nhằm “đuổi bọn ma quỷ và mộc tinh – cây thành
tinh, định lẻn vào!”. Rồi đưa quan tài vào vị trí để quàn.
Con cháu mặc đồ tang phục đứng hai bên, những người trong họ hàng
9
10
chuyển không bị xê dịch, bỏ các thứ cần thiết vào trong quan tài, theo yêu cầu
gia chủ và ý kiến thầy cúng.
Đóng nắp quan tài, quàn đặt trên hai cái gía cao khoảng 40 – 50cm. Hiện
nay nơi bán áo quan, có bán sẵn hai cái giá ấy. Có nơi đặt quan tài trên hai khúc
thân cây chuối.
Trên nắp quan tài có bát cơm úp, đôi đũa tre vót hoa man kẹp quả trứng
luộc, cắm vào bát cơm. Người chết là đàn ông, trên nắp quan tài để 7 khúc chuối
con để cắm hương, kèm theo 7 ngọn nến. Người chết là đàn bà, trên nắp quan tài
để 9 khúc chuối con để cắm hương, kèm theo 9 ngọn nến.
Phía trước quan tài là bàn thờ vong đã chuẩn bị. Đèn nến, hương trên bàn
thờ vong và nắp quan tài thắp liên tục đến khi đưa đi an táng. (Hình 3)
2.1.4. Lễ phát tang
Lễ Phát tang còn gọi là Lễ Thành phục - Mặc áo tang, chính thức chịu
tang từ giờ phút này.
Trước hết đánh ba hồi chín tiếng trống đại, hội nhạc tang tấu lên khúc
nhạc bi ai buồn thảm bằng bài “Lâm khốc”. Báo hiệu Lễ phát tang bắt đầu, cũng
là để báo cho cộng đồng dân cư biết: Sau phát tang đến phúng viếng và chia
buồn với tang chủ.
Con cháu chịu tang đứng trước bàn thờ vong, theo thế thứ trong gia tộc.
Tang chủ đứng giữa. Chủ Lễ bắt đầu cuộc lễ. Hiện nay phần lớn đều do thầy
cúng thực hiện việc này.
Nội dung Lễ phát tang chủ yếu nêu nỗi đau buồn, tiếc thương vô hạn của
người sống đối với người đã khuất. Nhớ lại công lao trời biển của Cha Mẹ, đã
vất vả nuôi con cháu trưởng thành. Kể tên đầy đủ người chịu tang gồm con,
cháu, dâu, rể anh em…
Thực hiện nghi thức thắp hương và dâng rượu, nước cho người đã khuất
thụ hưởng, cũng là thể hiện lòng thành báo hiếu của con cháu, dâu rể đối với
“soi đường”. Các thứ đồ dung thừng ngày của người chết như chăn, gối, màn,
nón…. Cũng được con cháu mang đi theo cho người chết.
Tại huyệt thầy Tào làm lễ và thấp hương cho những mộ xung quanh để
báo cho họ biết có người mới và để họ không bắt nạt. Sau đó thày Tào làm lễ hạ
huyệt. Đồng bào tày có tục chia của cho người chết. Người ta để quần áo, chăn,
màn, xôi, gạo, gà vào các sọt để dưới huyệt cho người chết còn các công cụ lao
12
động đưa cho thầy Tào để làm phép và để trên mộ cho người chết. Con trai
trưởng xúc một xẻng đất đầu tiên lấp cho bố mẹ, con các cháu bốc một nắm đất
đỏ xuống huyệt. Người làng giúp chôn cất đắp mộ cho người chết xong người ta
đặt lên trên một bát hương, chén rượu rồi đặt một ngôi nhà bằng cây chuối có
mái. Sau đó con cháu cùng người đi đưa ma hôm đó trở về nhà tang chủ, khi ra
về họ kiêng không ngoái đâu lại vì sợ ma người chết sẽ theo về làm hại con
cháu. Khi quay trở về con cháu không được khóc. Thầy cúng ở lại sau cùng để
làm các thủ tục cúng yên mộ, không cho vong quay trở về theo con cháu. Sau
khi an tang người sống coi như đã làm xong bổn phận của mình đối với người đã
chết vì đã lo cho người chết mồ yên mả đẹp. Con cháu thay quần áo làm cỗ bàn
cúng gia tiên và thết họ hàng, bà con, bạn bè đến chia buồn. Khi đến 12 giờ đêm
hôm đó con cháu người chết mang ra mộ cơm, rượu cúng cho người chết. Con
cháu phải làm lễ chuộc hồn cho người chết 3 lần sau 30 ngày, 1 năm và 3 năm lễ
chuộc hồn cuối cùng là lễ mãn tang. Trong lễ chuộc hồn ma người chết sẽ nhập
vào bà Then để bảo về cuộc sống ở thế giới hồn ma cho người ở dương thế biết.
(Hình 5)
2.2. So sánh phong tục tang ma giữa dân tộc Tày và dân tộc Kinh tại
huyện Quang Bình – tỉnh Hà Giang
Khảo sát nghi thức tang ma của dân tộc tày và dân tộc kinh tại huyện
Quang Bình, tỉnh Hà Giang, chúng tôi có một vài nhận xét như sau:
Về đại thể, người dân tộc tày và dân tộc kinh đều tổ chức tang lễ theo
Ở người Tày có tục khi gia đình có người chết con cháu phải nhịn ăn đến
khi khâm liệm xong nhưng ở người kinh thì con cháu ăn uống bình thường, thay
phiên nhau đổi ca trông linh cữu tranh thủ đi ăn nếu đói để có sức khỏe làm tang
cho người mất và ở dân tộc Tày khi liệm, người chết được quấn vào một đến hai
tấm vải trắng tự dệt trải ít tro bếp sạch tượng trưng cho phân, một ít lúa nếp đốt
cháy tượng trưng cho lúa giống chia cho người chết bên dưới, đầu kê gối, đặt
nằm trên chiếc chiếu đã được cắt một góc để lên bàn thờ còn ở người kinh khi
liệm Thi thể người chết được đặt trên chiếc chiếu dưới nền nhà. Khăn phủ mặt
và đũa ngáng miệng được bỏ ra, người ta dùng vải trắng gói người chết lại và
đặt vào trong quan tài, gáy được gối lên hai chiếc bát ăn cơm úp. Phong tục ở
đây không thể thiếu một bộ tam cúc bỏ vào trong ván, để trừ trùng. Quan tài
được đặt ở gian chính giữa, theo chiều dọc của ngôi nhà, song song với bàn thờ
14
và được kê bằng hai đoạn cây chuối. Lúc khâm liệm phải có thầy cúng làm lễ.
Kể từ lúc đó đến lúc đưa tang trên quan tài luôn được thắp nến (cha thì thắp bảy
ngọn, mẹ thì thắp chín ngọn). Giữa mặt ván có đặt một bát cơm bông, trên có
một quả trứng gà luộc đã bóc vỏ và được kẹp bằng đôi đũa bông. Bát cơm này
sẽ được đặt trên mộ sau khi chôn. Nắp quan tài được đặt hờ trên các mộng, lúc
đưa tang mới đóng khít lại.
Đặc biệt hơn, ở dân tộc Tày khi đưa tang (pây vậy) các con thay nhau 3
lần chạy lên phía trước để nằm xuống cho quan tài đi qua với ý nghĩa trải đường
cho cha mẹ đi. Khi quay trở về con cháu không được khóc. Thầy cúng ở lại sau
cùng để làm các thủ tục cúng yên mộ, không cho vong quay trở về theo con
cháu. Một năm sau làm lễ tháo tang (phiết khăn). Trong lễ tháo tang gia chủ mời
thầy, mời con cháu mổ lợn, cúng ở nhà và làm xe bé để đốt ở mộ. Trong một
năm đó, ngày nào cũng làm cơm, đặt lên bàn thờ mời người đã khuất. Sau lễ
tháo tang, chuyển bài vị người đã khuất lên nhập vào bát hương tổ tiên. Nhưng ở
người kinh khi đưa tang họ đi theo thứ tự trước sau đã được quy định sẵn là:
Lễ tràn dầu (đàn dầu): Con cháu chịu những hình phạt thay cho vong dưới
âm phủ
Lễ đại tế: Là nghi lễ thể hiện lòng báo hiếu của con cháu đối với cha mẹ
Lễ tè phi (xua đuổi tà ma): Thầy tào đi vòng quanh chung nhà để xua đuổi
tà ma
Lễ pông xe (đốt nhà xe): Để cho linh hồn người chết được trở về với tổ
tiên
Nhưng ở người kinh hiện nay nhiều phong tục tang ma cũng đã thay đổi
theo hướng giản lược như tang phục đơn giản hơn trước. Con trai đội khăn tang,
không mặc áo tang và không nhất thiết phải có dây rơm mũ bạc ; con gái, con
dâu không trùm khăn như trước; cháu chỉ đội khăn; con trai không còn đi lùi
trước quan tài của cha hay mẹ. Ngày trước để tang cha mẹ đến 3 năm, nay thì rút
gọn còn 1 năm, thậm chí có thể xả tang ngay khi vừa chôn xong hoặc lúc mở
cửa mả, do phải đi làm ăn xa hoặc cho bớt nặng nề trong tang chế. Vẫn giữ
những nghi thức cần thiết trong tang ma cho tròn chữ hiếu với người đã mất,
nhưng cách thức tiến hành trong tập tục này đã theo hướng giản lược, biến hóa
một cách linh hoạt, sao cho không nặng nề cho cả người chết lẫn người ở lại. Đó
cũng là đặc trưng mang tính nhân văn của cư dân tộc kinh, thích nghi với nhịp
16
sống thời đại.[1,Tr112]
2.3. Ý nghĩa của phong tục tang ma đối với dân tộc Tày tại huyện
Quang Bình – tỉnh Hà Giang
Tang ma là nghi lễ quan trọng cuối cùng trong chu kì con người, mở ra
cuộc sống mới cho người chết ở thế giới bên kia, được coi là nghi lễ quan trọng
nhất trong đời sống văn hóa tinh thần không chỉ đối với dân tộc Tày ở huyện
Quang Bình tỉnh Hà Giang mà có ở hầu hết các tộc người Việt Nam. Do đó, đám
tang không phải chỉ mang tính chất tôn giáo tín ngưỡng mà điều nổi bật vẫn là
quan niệm về đạo hiếu, việc đền công báo đức vẫn là điểm chủ yếu, xuyên suốt
văn hóa. Tuy có nhiều ưu điểm về giá trị văn hóa xã hội cũng như giá trị khoa
học nhưng ít nhiều nghi lễ tang ma cũng có những hạn chế của nó. Do đó cần
tìm ra những biện pháp thích hợp đấu tranh với những phong tục, tập quán,
những “tàn dư” không phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập.
Từ những dẫn giải nêu trên, có thể khẳng định rằng nghi lễ tang ma của
người Tày không thể bị quy chụp là mê tín, bởi vì trong một đám ma người ta
thực hiện rất nhiều nghi lễ là vì: trước hết, để cung cấp cho người ra đi được đầy
đủ, sau là để người chết được hả lòng hả dạ khi nhìn thấy con cháu đau khổ, xấu
xí trong các bộ tang phục,… hơn nữa các nghi lễ trong tang ma còn có ý nghĩa
sâu xa là để an ủi những người sống trước sự mất mát quá lớn của gia đình, dòng
họ.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 nhóm đề tài đã nghiên cứu, mô tả rõ ràng các nghi lễ trong
phong tục tang ma của dân tộc Tày tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, so
sánh được những nét văn hóa đặc sắc giữa phong tục tang ma của dân tộc Tày và
dân tộc Kinh tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, đồng thời đưa ra ý nghĩa của
phong tục Tang ma đối với dân tộc Tày tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang.
18
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ PHONG TỤC TANG MA
CỦA DÂN TỘC TÀY TẠI HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG
3.1. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân tộc Tày tại
huyện Quang Bình – tỉnh Hà Giang
Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức
tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về nếp sống văn
minh trong việc tang.
truyền trên báo, cổng thông tin điện tử của huyện, hệ thống đài truyền thanh từ
huyện đến cơ sở.
Các xã, thôn, bản cần tích cực tuyên truyền lồng ghép vào các cuộc vận
động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đưa việc thực hiện nếp sống văn minh
trong việc tang vào hương ước, quy ước và trở thành một trong những tiêu chí
để bình xét gia đình văn hóa, thôn, bản văn hóa góp phần nâng cao nhận thức
của người dân từng bước loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu, hủ tục mê tín dị đoan.
Thường xuyên tuyên truyền về cuộc vận động, xây dưng mô hình điển
hình tiên tiến và nêu gương điển hình tiên tiến, những mô hình làm tốt về thực
hiện nếp sống văn minh trong việc tang, giữ gìn thuần phong mỹ tục; hình thành
những tập quán mới tiến bộ, khắc phục các tập quán lạc hậu, xóa bỏ các hủ tục
để các xã, thôn bản khác học tập.
Hình thức tuyên truyền: Thường xuyên tổ chức các chương trình, các hội
nghị tọa đàm bàn việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang: Tuyên
truyền sâu rộng đến toàn thể nhân dân về những quy định về việc thực hiện nếp
sống văn minh trong việc tang với nội dung cô đọng, ngắn gon, xúc tích dễ hiểu,
dễ nhớ; tuyên truyền bằng hình thức trực quan như: văn hóa văn nghệ, tuyên
tuyền trên hệ thống đài phát thanh và băng rôn, khẩu hiệu tại các khu vực đông
dân cư như chợ, cơ quan, trường học, trên các bảng tin tại thôn, xóm…
Nâng cao nhận thức của người dân về hoạt động tang ma trong phạm vi gia
đình, dòng họ. Tổ chức đám tang phù hợp với điều kiện kinh tế của gia đình, không
tổ chức ăn cỗ linh đình, kéo dài nhiều ngày, tổ chức nghi lễ tang ma trang trọng, tiết
kiệm, giản dị và đúng theo quy định, tránh tốn kém, gây lãng phí tiền của.
Tự nâng cao, bổ sung kiến thức cho bản thân về thực hiện việc tang qua
sách báo, tivi, mạng internet,…
20