TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
ĐỖ THỊ TUẤT
PHONG TỤC HÔN NHÂN
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC
1
HÀ NỘI - 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này
là trung thực, chính xác.
ĐỖ THỊ TUẤT
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện báo cáo này
đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong khóa luận này đã đ-
PHONG TỤC HÔN NHÂN
ược ghi rõ nguồn gốc.
Vì thời gian thực tập có hạn nên Khóa luận tốt nghiệp của tôi không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy
cô giáo để Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Đỗ Thị Tuất
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................................. 2
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................ 7
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu ..................................................................................................................... 8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 10
5. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................... 10
6. Cấu trúc của khoá luận ............................................................................................................. 11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TUYỂN ................................................................. 12
Ở HUYỆN QUANG BÌNH - TỈNH HÀ GIANG ......................................................................... 12
Lịch sử hình thành ............................................................................................................... 12
1.
1.1.
2.1.2.1 Nguyên tắc hôn nhân đồng tộc ........................................................................ 28
2.1.2.2. Nguyên tắc không trùng tên đệm.................................................................... 30
2.1.2.3.Nguyên tắc tính tuổi hợp ................................................................................. 31
2.1.2.4. Nguyên tắc không có thai trước hôn nhân ..................................................... 31
2.2 Hôn nhân truyền thống của người Dao Tuyển ........................................................................... 32
2.2.1. Lễ so tuổi........................................................................................................................... 32
2.2.2 Lễ dạm ngõ......................................................................................................................... 35
2.2.3. Lễ ăn hỏi............................................................................................................................. 36
2.2.4 Lễ cưới ............................................................................................................................... 37
2.2.5 Lễ lại mặt sau đám cưới ..................................................................................... 43
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................................................ 44
Chương 3: NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TRONG NGHI LỄ
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN ...................................................................... 45
3.1 Những giá trị truyền thống ......................................................................................................... 45
3.1.1 Giá trị lịch sử....................................................................................................................... 45
3.1.2.Giá trị đạo đức .................................................................................................................... 46
3.1.3.Giá trị bảo lưu tôn giáo tín ngưỡng cổ truyền .................................................................... 49
3.1.4. Giá trị bảo lưu văn hóa nghệ thuật cổ truyền ..................................................................... 50
3.2 Những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân...................................................................................... 51
3.2.1 Các yếu tố biến đổi.............................................................................................................. 51
5
3.2.2 Nguyên nhân của sự biến đổi ............................................................................................. 52
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................................................ 53
KẾT LUẬN ...................................................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................ 58
PHỤ LỤC......................................................................................................................................... 59
của người Dao Tuyển đang có sự biến đổi mạnh mẽ. Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đang là việc làm cấp thiết.
Với các lý do trên, tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu “Phong tục hôn nhân của
người Dao Tuyển huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp cử nhân ngành Việt Nam học.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1945 ít
được các nhà nghiên cứu quan tâm đến. Các công trình nghiên cứu về người Dao
ở giai đoạn này gần như chỉ thiên về giới thiệu sơ lược nguồn gốc, địa bàn cư trú,
trang phục… Căn cứ vào các thư tịch hiện còn lại, việc ghi chép, tìm hiểu về lịch
sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Dao đã được các nhà Nho tiến hành
từ thế kỷ XVIII. Đầu tiên phải nhắc đến là trường hợp nhà bác học Lê Quý Đôn,
trong tác phẩm nổi tiếng Kiến văn tiểu lục (1778) của mình, ông đã giới thiệu sơ
lược về nguồn gốc, cuộc sống, cách ăn mặc của một nhóm người Man (Dao) ở Việt
Nam [4]. Mặc dù mới giới thiệu một cách sơ lược về nhóm người Man nhưng Lê
Quí Đôn cũng đã đưa ra được những đặc điểm bên ngoài cơ bản nhất giúp chúng ta
phân biệt được tộc người này với các tộc người thiểu số khác. Người thứ hai phải
kể đến là tiến sĩ Hoàng Bình Chính trong cuốn Hưng hóa xứ phong thổ lục (1778),
đây là cuốn sách được viết theo thể loại địa chí, nhưng ở đó ông đã ghi chép và
giới thiệu khái quát về trang phục, phong tục của người Dao ở Lào Cai [1]. Người
thứ ba là nhà sử học Phạm Thận Duật trong năm 1856 ông viết tác phẩm Hưng
Hóa ký lược, ở mục phong tục tập quán ông đã giới thiệu về phong tục, tập quán
của các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, trong đó ông dành nhiều trang viết về dân tộc
Dao. Có thể thấy, mặc dù đó chưa phải là các công trình chuyên biệt về tộc người
Dao, nhưng các tác giả thời phong kiến của Việt Nam bước đầu đã có ý thức đề
cập đến nguồn gốc, phong tục, tập quán của tộc người này một cách tương đối có
hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ thế kỷ XVIII, người Dao ở Việt Nam đã
được quan tâm tìm hiểu, ghi chép. Nhưng do nguồn tư liệu còn bị hạn chế nên hầu
8
Như vậy, cho đến nay có khá nhiều đề tài đi sâu khảo sát về hôn nhân và
việc cưới xin của người Dao Tuyển ở Việt Nam nói chung và tỉnh Hà Giang nói
riêng . Đề tài “Phong tục hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang
Bình, tỉnh Hà Giang ” được thực hiện trên tinh thần khảo sát trung thực, đầy đủ,
trình tự đám cưới của người Dao Tuyển ở một địa bàn cụ thể, hy vọng sẽ bổ sung
thêm cho những thành quả của các tác giả đi trước.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Khảo sát thực tế nghi lễ hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang
Bình, tỉnh Hà Giang. Từ đó cung cấp tư liệu cụ thể và trung thực về đám cưới
người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang phục vụ cho nghiên cứu và
thực tiễn bảo tồn và phát huy văn hoá tộc người nói chung và người Dao nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghi lễ hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện
Quang Bình, tỉnh Hà Giang, bao gồm nội dung trình tự trước và sau lễ cưới.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu các nghi lễ trong
hôn nhân của người Dao Tuyển ở huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học là
chính. Thông qua việc điền dã, tiến hành phỏng vấn một số thầy mo, người cao
tuổi trong làng và quan sát thực tiễn đám cưới của người Dao Tuyển ở huyện
Quang Bình.
Bên cạnh đó, phương pháp tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu đã công
bố: tập hợp và kế thừa các công trình nghiên cứu về người Dao nói chung và Dao
Tuyển nói riêng và cũng được sử dụng để thực hiện đề tài. Trước khi tiến hành
điều tra khảo sát, người nghiên cứu tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến
10
1.1.
Khái quát về điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lí
Huyện Quang Bình nằm ở phía bắc giáp huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần;
phía đông giáp huyện Bắc Quang; phía nam giáp với một phần của huyện Bắc
Quang và huyện Lục Yên (tỉnh Yên Bái); phía tây giáp với huyện Bảo Yên (tỉnh
Lào Cai).
1.2.2 Địa hình
Huyện Quang Bình thuộc vùng thấp của tỉnh Hà Giang, chia làm 3 loại hình
cơ bản: Địa hình đồi núi cao (trung bình từ 1.000 - 1.200 m), dạng lượn sóng; địa
hình đồi núi thoải (trung bình từ 1.000 - 1.200 m), có dạng đồi núi bát úp hoặc
12
lượn sóng; địa hình thung lũng (gồm các dải đất bằng thoải và những cánh đồng
ven sông suối).
1.2.3 Khí hậu
Quang Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của
gió mùa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,50c, lượng mưa trung bình khoảng
3.500 - 4.000 mm/năm.
1.2.4 Tài nguyên
* Tài nguyên khoáng sản
Huyện Quang Bình, hiện nay có nguồn tài nguyên như: Mỏ chì, kẽm, mê ka,
quặng sét, vàng sa khoáng; nguồn vật liệu cát, sỏi, đá xanh.
* Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên của huyện Quang Bình là 79.188,04 ha với nhiều loại
đất phân bố ở các dạng địa hình khác nhau, kết hợp với sự phân hóa của khí hậu
nên có điều kiện để quy hoạch khai thác phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp
Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội
Là huyện nằm ở phía nam của tỉnh Hà Giang, cách không xa trung tâm tỉnh
lỵ với nền sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp là chủ yếu, Đảng bộ huyện đã tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế bằng nhiều giải pháp như: Đẩy mạnh phát
triển sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực (giảm
dần tỷ trọng sản xuất nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp - xây
dựng và thương mại - dịch vụ). Tổng giá trị tăng thêm năm 2013 đạt 990,4 tỷ đồng;
thu nhập bình quân đầu người đạt 16,2 triệu đồng.
Bằng cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế của địa
phương, huyện đã quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, đẩy mạnh phát
triển 5 cây (lúa, ngô, chè, cam, lạc) 2 con (trâu, lợn); tổ chức lại sản xuất; nhân dân
chủ động về thời vụ, phòng chống dịch bệnh, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực
14
hiện thâm canh, luân canh, xen canh tăng vụ, xây dựng mô hình phát triển sản xuất.
Đã có nhiều mô hình như: Mô hình đầu tư có thu hồi để tái đầu tư tại 3 xã (Tân
Bắc, Yên Hà và Hương sơn), 12 mô hình cánh đồng mẫu; mô hình trồng cam theo
hướng tiêu chuẩn VietGAP tại 2 xã (Yên Hà và Hương sơn); thí điểm trồng cây vụ
đông tại 3 xã (Vĩ Thượng, Xuân Giang và thị trấn Yên Bình), Mô hình cải tại vườn
đồi gắn với xây dựng nông thôn mới tại 15 thôn/15 xã, thị trấn, Mô hình Tổ quản
lý bảo vệ rừng tại 3 xã trọng điểm (Nà Khương, Xuân Giang và Bằng Lang) thí
điểm việc quản lý cưa xăng ở xã Nà Khương.
Phát huy tiềm năng thế mạnh của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho
các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, năm 2011 đã khánh thành
đưa vào vận hành, khai thác nhà máy thủy điện sông Chừng (sông Con 2) công
xuất 19,5 MW; Nhà máy thủy điện Bản Măng (xã Bản Rịa) công xuất 2 MW. Nhà
máy thủy điện sông Bạc công xuất 42 MW. Toàn huyện có 3 trạm hạ thế. 109/135
Tuyển (Dao Áo Dài, Dao Chàm, Dao Bằng Đầu, Dao Slán Chỉ). Như vậy, Dao
Tuyển là một nhóm nhỏ của ngành Dao Làn Tiẻn thuộc về phương ngữ thứ hai.
1.3.2 Lịch sử cư trú
Ở Hà Giang, dân tộc Dao đứng thứ 3 về dân số, sau người H’mông và người
Tày, chiếm 15,14% dân số toàn tỉnh. Người Dao phân bố ở hầu hết khắp các
huyện, đông nhất là Vị Xuyên: 21,988 người. Tuy vậy, chưa có tài liệu nào cho
biết người Dao Tuyển đến Hà Giang từ bao giờ. Qua tài liệu điền dã, nhiều dòng
họ Dao Tuyển mới từ Trung Quốc sang Hà Giang được 8 - 10 đời. Tại đây, họ cư
trú thành làng (giắng hay giằng) với tên gọi theo đặc điểm địa hình, địa vật…Trước
đây, làng của họ mang tính tự quản, đứng đầu là ông giằng châu, từ năm 1960
thêm chức trưởng thôn. Tiếng nói của già làng, trưởng họ, thầy cúng rất quan
16
trọng. Nhiều làng có chủ miếu, chuyên trông coi, cúng miếu vào các ngày tuần tiết
vào các dịp cúng lớn trong năm.
1.3.3 Hoạt động kinh tế
Người Dao Tuyển là cư dân nông nghiệp canh tác nương rẫy và làm ruộng
lúa nước. Trước đây nương rẫy là hình thức canh tác chủ yếu và phổ biến nhưng về
sau người Dao Tuyển đã biết khai phá làm ruộng lúa nước hoặc ruộng bậc thang.
Trong canh tác nương rẫy đồng bào Dao rất chú trọng khâu chọn đất. Để có nương
tốt phải chọn đất có nhiều mùn và ở phía mặt trời mọc vì sẽ đón được nhiều ánh
nắng mặt trời.
Đồng bào ở đây chỉ làm nương trong 3 vụ sau đó bỏ hoang từ 4 - 6 năm rồi
mới quay lại gieo trồng tiếp. So với việc canh tác nương rẫy thì việc khai phá
ruộng lúa công phu hơn cần có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng. Làm ruộng lúa
nước năng suất cao và đời sống ổn định hơn nên đồng bào Dao Tuyển ngày nay
canh tác ruộng lúa nước phổ biến hơn trước.
Người Dao Tuyển có tục ngữ:
Tiếp đến là rau mướp "cà đây" cũng dùng lá nấu canh. Đu đủ " cùng qua"
cũng là món mà người Dao Tuyển thường dùng để xào làm nguyên liệu cho bữa ăn
hàng ngày. Ngoài ra khi đi rừng họ còn tìm được hoa chuối rừng “cà đíu” thái nhỏ
ngâm nước nấu canh gà hoặc cá thì quả là tuyệt vời.
Một loại rau nữa có tên trong thực đơn hàng ngày của người Dao Tuyển là
rau rớn được dùng xào hoặc nấu canh cho bữa cơm. Để các món ăn hấp dẫn hơn
người Dao Tuyển thường sử dụng các loại gia vị như: muối ớt, rau thơm các loại.
Muối ớt được làm từ ớt tươi, thái nhỏ trộn lẫn với bột canh hoặc muối tiêu giã
thành bột, có thể vắt thêm nước chanh. Muối ớt làm nước chấm, có vị cay, chua, ăn
rất ngon. Các loại rau thơm thường được sử dụng nhất là rau húng các loại... Các
18
món rau, nấu canh hoặc xào nếu mua hoặc đi săn được thú rừng người ta sẽ nấu lẫn
thịt thú rừng đó với rau ăn rất ngon và bổ.
Trong ngày lễ, tết đồng bào Dao Tuyển còn làm nhiều loại bánh như: bánh
mật, bánh dầy tròn, bánh dầy dài, bánh chưng gù, bánh gio… Ngoài ra vào ngày
tết, lễ, hội thịt lợn và thịt gà là thực phẩm không thể thiếu. Ngay cả khi mùa gặt
hoặc mùa cấy người Dao Tuyển cũng thịt lợn, nếu ăn không hết họ sẽ dùng kỹ
thuật ướp để ăn lâu dài. Thịt được thái mỏng, rắc đều muối, rượu và lá gia vị bóp
đều rồi cho vào lọ đậy thật kín. Có thể úp thêm một cái bát bên ngoài nắp lọ rồi
dùng vôi chát kín có thể giữ được cả năm. Người Dao Tuyển còn nấu rượu từ thóc
nếp, sắn, ruột cây báng.
* Nhà cửa
Người Dao Tuyển có 3 loại hình nhà cửa khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn
nửa đất và nhà đất tường gỗ, phên tre.
Ở vùng sông Chảy, người Dao Tuyển ở nhà sàn. Hiện nay nhà sàn đều làm
bắng gỗ có 5 gian. Nhà sàn chia làm hai phần theo chiều dọc. Phần trước là nơi đặt
bếp, đặt khung cửi, đồ dùng. Phần sau là nơi ngủ, nơi thờ cúng.
Ở vùng thung lũng sông Hồng thường ở nhà nửa sàn nửa đất. Nhà chia làm
hệthống thần linh của người Dao Tuyển như hệ thống miếu vạn thần là hệ thống
miếu thờ thần của Đạo giáo. Ngoài ra, có hệ thống bùa chú, vũ khí trừ tà như đạo
tiên (soi đạo), đồng linh (chuông đồng), thần trượng (gậy thần), đại lực xoa (đinh
ba đại lực) đều là vũ khí của Đạo giáo.
Bên cạnh Đạo giáo, Phật giáo cũng ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống của
người Dao Tuyển. Những phép thuật của Phật như uống nước thiêng, tư tưởng hóa
kiếp luân hồi của Phật giáo đều thâm nhập vào đời sống tinh thần của người Dao
20
Tuyển. Bên cạnh đó, các hình thức xem tử vi tướng số, xem ngày tháng tốt, thực
hiện các nghi lễ cưới xin, làm nhà mới đều được sử dụng rộng rãi.
Sau Đạo giáo, Phật giáo, đời sống của người Dao Tuyển còn chịu ảnh hưởng
của Nho giáo. Biểu hiện rõ nhất trong việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái thầy cấp
sắc.Tuy ảnh hưởng của Tam giáo nhưng tàn dư tôn giáo vẫn tồn tại. Đó là tàn dư
ma thuật tình yêu với các loại bùa ngải, ma thuật làm hại với quan niệm về ma Ngọ
Hải. Đặc biệt là tín ngưỡng liên quan đến việc chữa bệnh phát triển khá mạnh. Từ
quan niệm hồn đến nguyên nhân ốm đau, bệnh tật do là do bị hồn ma bắt, đến việc
cúng bái chữa bệnh.
Các tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp tồn tại với nhiều hình
thức như việc cầu cúng miếu làng, làm phép thuật trừ sâu bệnh, tổ chức lễ cúng
cơm mới.
Tín ngưỡng dân gian của người Dao Tuyển gồm nhiều hình thức như thờ
cúng tổ tiên, thờ thần bản mệnh cộng đồng, sa man giáo và đặc biệt là đạo giáo đã
chi phối mạnh mẽ đời sống tôn giáo. Trong đó thờ cúng tổ tiên là hình thức tín
ngưỡng quan trọng của người Dao Tuyển.
- Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che chở cho gia đình:
Thờ cúng tổ tiên, tổ tiên của người Dao Tuyển gọi là “Cha Phìn”. Tổ tiên
người Dao Tuyển là những người đã khuất trong dòng họ tính từ 6 đời trở xuống.
Hàng năm vào ngày mồng 1 tháng giêng tất cả dân làng đều đến thắp hương
và đặt lễ các loại bánh trái tại miếu thờ của làng rồi cầu xin phúc, lộc cho bản thân
và gia đình. Người cầu nguyện không được nói thành lời mà chỉ để trong tâm
niệm.
Bên cạnh đó còn thờ thần thiên lôi, thần nước, thần thổ địa… Như vậy
hệthống thần thánh của người Dao Tuyển rất đa dạng và phức tạp. Họ quan niệm
vạn vật hữu linh nên trong mỗi lĩnh vực lại có một vị thần cai quản riêng. Vì vậy
22
để đáp ứng được nhu cầu tâm linh của mình họ phải thờ tất cả các vị thần đó tuỳ
theo thời gian, địa điểm và lễ vật khác nhau.
- Thờ thần nông và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
Là cư dân nông nghiệp, kinh tế tự cấp tự túc, dựa chủ yếu vào nông nghiệp.
Bởi vậy đối với người dân Dao Tuyển thần nông "dằn lồng" là thần có ý nghĩa
nhất. Vào tháng 6 âm lịch hàng năm, nếu năm nhuận có thể cúng vào tháng 5 (âm
lịch).
+ Lễ cúng thóc mới:Trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp của đồng
bào nơi đây thì lễ cúng thóc giống là một trong những lễ cúng không thể thiếu.
Thường thường lễ cúng này được tiến hành trước khi đem thóc giống tra nương.
Người ta lập một đàn cúng trước bàn thờ tổ tiên, đặt vào đó một chum thóc giống,
lấy một tờ giấy bản vẽ hình tròn tượng trưng cho mặt trời, hình một người đứng
thẳng cầm nông cụ, vẽ một đàn gà, cá…Tờ giấy này được kẹp chặt vào một que
nứa rồi cắm vào chum thóc giống. Khi cúng xong họ đem chum thóc giống đi tra,
khi tra thóc giống ở trên nương xong họ sẽ đem tờ giấy đó đi đốt.
+Lễ cúng cơm mới: Cúng cơm mới là lễ tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng tốt
tươi, lúa ngô đã có thể thu hoạch. Trước hết người Dao Tuyển gặt lấy ít thóc đầu
mùa đem về phơi khô, giã thành gạo và nấu cơm. Sau đó họ đặt cơm mới và các
thức ăn như thịt gà, thịt lợn, và một bát canh rau lên bàn thờ tổ tiên. Khi chủ gia
người, ở hiền gặp lành...
- Câu đố: Để phản ánh toàn bộ các công việc và cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày của nhân dân số lượng các câu đố đã được sản sinh rất đồ sộ. Với số lượng
lớn như vậy khó có thể biết hết được nhưng hầu như đã là người Dao Tuyển ai
cũng thuộc vài câu:
“Con lạy xuống, bố quát to là cái gì?
Trả lời: Súng hỏa mai "phẳn trong hoặc"
Mẹ càng kêu, la, con càng lớn đẫy, đố là gì?
24
Trả lời: cái thoi dệt vải "phạt bui"
[13; tr.65 - 66]
Như vậy câu đố là 1 hình thức nghệ thuật của dân gian. Nó phục vụ ngay các
nhu cầu tinh thần của người lao động và phản ánh về cuộc sống sinh họat thường
ngày của họ.
- Tục ngữ: Giống như câu đố, kho tàng tục ngữ trong nghệ thuật dân gian
người Dao Tuyển cũng hết sức phong phú đa dạng. Nó phản ánh toàn bộ cuộc sống
sinh hoạt của người dân lao động. Nó gắn bó với họ trong từng hoạt động thường
ngày, do vậy dù bất cứ ai cũng có thể ngâm nga vài câu những phút cao hứng.
Sốlượng câu tục ngữ rất đồ sộ. Nội dung phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, mang
ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
“Rền nhằn trong cu háo nhằn tàu
(Cha ông xây dựng con cháu hưởng phúc)
Hoặc: Thu sủn pặt pành pắn nhổn vay
Pu quay pằn gòng tặt sẻ mềnh
(Số kiếp con người trời đã định
Giàu nghèo ai trách được số trời)
[13; tr.27]
Nội dung các câu tục ngữ mang nặng ý nghĩa giáo dục con người biết cách