SKKN một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ - Pdf 45

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ 4-5 tuổi
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã
hội.
3. Tác giả:
- Họ và tên: Trần Thị Ánh Nguyệt

Giới tính: nữ

- Ngày, tháng, năm sinh: 16/ 3/ 1985
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mầm Non.
- Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên- trường Mầm Non Nhiệt Điện Phả Lại.
- Điện thoại: 0934397235
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Trường Mầm Non Nhiệt Điện Phả Lại- Phả Lại- Chí Linh- Hải Dương.
- SĐT: 03203881390
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
- Trường Mầm Non Nhiệt Điện Phả Lại- Phả Lại- Chí Linh- Hải Dương.
- SĐT: 03203881390
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Trẻ mầm non ở độ tuổi 4- 5 tuổi.
- Giáo viên có trình độ chuyên môn mầm non từ trung cấp trở lên, linh hoạt,
sáng tạo, yêu nghề mến trẻ.
- Sự quan tâm và phối hợp chặt chẽ của phụ huynh với giáo viên.
- Có đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Tháng 10/ 2014 đến tháng 12/ 2014
HỌ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN


truyền, phối kết hợp với phụ huynh cùng giáo dục trẻ để việc giáo dục trẻ đạt
kết quả cao nhất.
+ Khả năng áp dụng của sáng kiến: sáng kiến có thể áp dụng cho tất cả trẻ
ở lứa tuổi mầm non, cụ thể tôi đã áp dụng cho trẻ 4- 5 tuổi và tôi đã tiến hành
như sau:
2


Đầu tiên tôi cần xác định nội dung giáo dục vệ sinh cho trẻ, đó là vệ sinh cá
nhân (như: vệ sinh thân thể, vệ sinh quần áo, vệ sinh ăn uống) và vệ sinh môi
trường.
Sau đó, tôi tìm tòi các biện pháp, xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ một cách
nhẹ nhàng để việc giáo dục đạt hiệu quả cao nhất, cụ thể như sau: Tuyên truyền
tới các bậc phụ huynh; Giáo dục trẻ thông qua tiết học; Giáo dục trẻ ở mọi lúc,
mọi nơi; Giáo dục trẻ qua nêu gương; Giáo dục trẻ qua trò chơi.
+ Lợi ích thiết thực của sáng kiến: Với những biện pháp giáo dục nhẹ
nhàng nhưng lại đem đến một kết quả cao. Trẻ đã có những kỹ năng và thói
quen vệ sinh tốt. Trẻ tự giác thực hiện mà không cần có sự thúc giục của bố mẹ
hay cô giáo nên phụ huynh rất yên tâm và tin tưởng cô giáo.
4. Kết quả đạt được của sáng kiến.
Sau khi áp dụng các biện pháp trên tôi thấy trẻ rất hứng thú thực hiện và
đạt được kết qủa rõ rệt. Các cháu đi học quần áo, đầu tóc lúc nào cũng gọn
gàng, sạch sẽ, tự giác thực hiện kỹ năng vệ sinh, có những hành động đúng
trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường.
5. Đề xuất kiến nghị để mở rộng sáng kiến.
Nhà trường tạo điều kiện phổ biến, nhân rộng sáng kiến, tổ chức chuyên đề
để giáo viên gặp gỡ trao đổi, học hỏi lẫn nhau, tích lũy thêm kinh nghiệm để
phục vụ cho công tác giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao hơn.

3

Bản thân là một giáo viên mầm non, tôi rất hiểu tầm quan trọng của việc
giáo dục vệ sinh cho trẻ. Giáo dục vệ sinh nhằm mục đích tạo cho trẻ có ý thức,
4


thói quen trong việc giữ gìn vệ sinh, trong khuôn khổ hẹp là giữ gìn vệ sinh cho
chính bản thân trẻ và rộng hơn nữa là giữ gìn vệ sinh môi trường. Trong môi
trường vệ sinh được đảm bảo là điều kiện để trẻ phát triển về thể chất, phát triển
toàn diện. Nhưng trong thực tế, không phải trẻ nào cũng có ý thức trong việc giữ
gìn vệ sinh, trẻ chưa tự giác thực hiện. Vì vậy, việc giáo dục vệ sinh cho trẻ tạo
cho trẻ những thói quen vệ sinh là việc làm rất cần thiết và cần được hình thành
từ khi trẻ còn nhỏ.
Tuy nhiên, lứa tuổi mầm non là lứa tuổi “học mà chơi, chơi mà học” sự
giáo dục cho trẻ không thể gò bó, áp đặt mà phải nhẹ nhàng, hấp dẫn trẻ cả về
nội dung lẫn hình thức. Bên cạnh đó thì việc hình thành thói quen vệ sinh cho
trẻ chưa được phụ huynh thực sự chú trọng nên việc giáo dục thói quen vệ sinh
cho trẻ đạt hiệu quả chưa cao.
Đó không phải là điều trăn trở của riêng tôi mà cũng là điều trăn trở của tất
cả các giáo viên khác, vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giáo dục
thói quen vệ sinh cho trẻ 4- 5 tuổi”
1.3. Phạm vi và đối tượng áp dụng:
Sáng kiến này được áp dụng cho trẻ mầm non, đặc biệt là trẻ 4- 5 tuổi
1.4. Mục tiêu nghiên cứu:
Giúp giáo viên có những biện pháp linh hoạt hơn trong việc giáo dục thói
quen vệ sinh cho trẻ giúp trẻ tiếp thu một cách hứng thú và có kết quả hơn.
1.5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.

cho trẻ và những nội dung vệ sinh cần giáo dục trẻ. Với lòng yêu nghề mến trẻ
tôi luôn có ý thức tìm tòi, tự học hỏi trên sách báo cũng như qua đồng nghiệp.
3.2. Khó khăn:
- Trẻ chưa có thói quen vệ sinh cá nhân như: tự rửa mặt, rửa tay khi tay
bẩn, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh...Có trẻ lấy tay nhặt cơm vãi xong
không lấy khăn tay tay mà lau luôn vào vạt áo, hay có trẻ ăn xong không lấy
khăn lau miệng mà kéo luôn vạt áo lên lau…

6


- Trẻ chưa có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường như: còn vứt vỏ bánh, kẹo,
sữa…ra sân trường hoặc trẻ nhìn thấy nhưng không nhặt để vào thùng rác.
- Một số phụ huynh chưa chú ý rèn thói quen vệ sinh cho trẻ, phụ huynh
thường làm hộ trẻ, trẻ ỷ lại vào người lớn làm giúp dẫn đến việc trẻ không có kỹ
năng và không tự giác thực hiện.
3.3. Kết quả thực trạng khảo sát:
Trước khi áp dụng các biện pháp mới tôi đã tiến hành khảo sát trẻ, kết quả
thu được như sau:
Nội dung

Số trẻ

Trẻ có thói quen giữ

Trẻ chưa có thói quen giữ

khảo sát
Số trẻ
Tỷ lệ

60.6%
Kết quả thu được qua khảo sát cho thấy số trẻ chưa tự giác trong việc giữ
gìn vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh môi trường. Vì vậy, cần đưa ra các biện
pháp để nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh cho trẻ.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện.
Sau khi khảo sát và điều tra thực trạng trẻ, vấn đề đặt ra khiến tôi luôn phải
suy nghĩ là làm thế nào để trẻ có thói quen vệ sinh tốt. Trong học kỳ I vừa qua
tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
4.1. Xác định nội dung giáo dục vệ sinh cho trẻ:
Để đưa ra được các biện pháp giáo dục trẻ phù hợp, trước hết tôi đã xác
định được những nội dung cần giáo dục cho trẻ như sau:
- Vệ sinh thân thể: Trẻ có thói quen sạch sẽ, giữ gìn vệ sinh thân thể( rửa
mặt mũi, chân, tay) không cho tay vào miệng, vào mũi…
- Vệ sinh quần áo: Giữ gìn quần áo sạch sẽ, không ngồi lê la trên đất bẩn.
- Vệ sinh ăn uống: Rửa tay trước khi ăn, không bốc thức ăn bằng tay, không
làm rơi vãi đồ ăn, ăn xong biết lau miệng, súc miệng.
7


- Vệ sinh môi trường: Đi vệ sinh đúng nơi quy định, không vứt rác bừa bãi.
4.2. Làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh.
Để làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh, ngay từ đầu năm
học thông qua buổi họp phụ huynh tôi trao đổi với phụ huynh để phụ huynh
hiểu được nhà trường, cô giáo đã quan tâm đến vấn đề vệ sinh cho trẻ như thế
nào.
VD: - Ở lớp có đầy đủ đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ.
- Trẻ được rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, trẻ được
lau miệng, súc miệng sau khi ăn …
Hàng tuần nhắc nhở phụ huynh cắt móng tay, móng chân cho trẻ, quần áo
luôn phải gọn gàng, sạch sẽ.

Qua đó, giúp trẻ có kỹ năng chăm sóc và bảo vệ các giác quan, đồng thời
giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh thân thể và vệ sinh môi trường.
Trong chương trình giáo dục mầm non thì giáo dục âm nhạc là một hoạt
động mà trẻ tham gia rất hứng thú, bởi âm nhạc là món ăn tinh thần không thể
thiếu cho mỗi người, những câu hát sẽ như những dòng nước mát nhẹ nhàng
thấm sâu vào tâm hồn trẻ. Vì vậy, âm nhạc có vai trò rất lớn trong việc giáo dục
trẻ. Hiểu được điều đó tôi đã chọn những bài hát có nội dung giáo dục vệ sinh
để dạy trẻ: “Rửa mặt như mèo” hay bài “Vui đến trường”. Thông qua bài hát
giúp trẻ hiểu được cần phải giữ gìn vệ sinh và biết vệ sinh đúng cách:
- Khi ngủ dậy các con phải làm gì?
- Các con rửa mặt như thế nào?...
Bên cạnh âm nhạc thì các tác phẩm văn học cũng có sức mạnh vô cùng to
lớn. Từ khi lọt lòng mẹ đến lúc chập chững biết đi, biết nói, đến lúc trẻ biết viết,
biết đọc thì văn học là chiếc cầu nối, là phương tiện để dẫn dắt trẻ. Qua việc cho
trẻ làm quen văn học chính là hình thành ở trẻ những tình cảm đạo đức tốt đẹp,
những cảm xúc thẩm mỹ, phát triển trí tưởng tượng…Vì vậy, giáo dục thói quen
vệ sinh cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học là một biện pháp mang lại hiệu
quả cao. Tôi cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học như:
Ví dụ: Truyện: “Gấu con bị đau răng”. Trong khi đàm thoại về nội dung
câu truyện, tôi hỏi trẻ:
- Đêm đó chuyện gì đã xảy ra với gấu con?
- Vì sao răng Gấu con lại bị sâu?
9


- Để hàng răng chắc khỏe, không bị sâu thì các con phải làm gì?
Qua đó, giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể thật sạch
sẽ: Mỗi ngày bé đánh răng 2 lần vào buổi sáng và buổi tối trước khi đi ngủ, bé
không nên ăn nhiều bánh kẹo mà hãy ăn nhiều các thức ăn như: Thịt, cá, trứng,
sữa và nhiều rau quả tươi để có một cơ thể khỏe mạnh, có hàm răng chắc khỏe,

“Một tay chẳng làm được

Nhích khăn lên các bé

Bé phải lau hai tay

Lau sống mũi xuống đi

Bắt đầu từ hôm nay

Sau đó đến cái gì?

Lau từ trong ra nhé

Đến miệng xinh của bé”

Tôi cho trẻ đọc và hỏi trẻ:
- Bài thơ nhắc nhở chúng mình điều gì?
- Chúng mình rửa mặt như thế nào?
Tương tự khi dạy trẻ các thơ khác, tôi cũng trò chuyện với trẻ để giáo dục
trẻ sâu hơn: trẻ tự giác vệ sinh cơ thể, rửa tay trước khi ăn, khi tay bẩn, tắm và
thay quần áo hàng ngày…
Bài thơ: “Tắm gội”
“Mùa hè nóng nực

Nước này mát lắm

Ra lắm mồ hôi

Ta phải bảo nhau

Bài thơ: “ Bé ngoan”:
“Lúc ông mặt trời

Đánh răng rửa mặt

Trở mình thức giấc

Ăn sáng khẩn trương

Bé vội dậy ngay

Cùng mẹ đến trường

Không chờ mẹ nhắc

Nắng theo chân bé”

Không chỉ giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân, mà có rất nhiều bài thơ có
nội dung giáo dục trẻ giữ gìn vệ sinh môi trường.
11


Ví dụ: bài thơ: “ Bé giữ vệ sinh môi trường”
“Sân trường bé chơi

Các nơi đều sạch

Thấy lá vàng rơi

Không khí trong lành

- Các con thấy tay, chân mình như thế nào?
- Bây giờ các con sẽ làm gì để tay, chân sạch sẽ?...
Khi cho trẻ tham gia hoạt động như vậy tôi thấy trẻ rất hứng thú, tích cực,
vì vậy sẽ dễ dàng hình thành cho trẻ những thói quen tốt.
12


Trước mỗi giờ ăn tôi cho trẻ đi rửa tay và cùng chuẩn bị đồ dùng giúp cô:
phơi khăn, chuẩn bị đĩa đựng cơm vãi, đĩa đựng khăn lau tay…Mỗi lần như thế
tôi cảm thấy các cháu rất hứng thú thực hiện. Khi trẻ ngồi vào bàn tôi hỏi trẻ:
- Chuẩn bị cho giờ ăn chúng mình đã làm những gì?
- Chúng mình đã rửa tay như thế nào?
- Chúng mình còn giúp cô làm gì nữa?
- Trên bàn ăn có những gì?
- Những đồ dùng đó để làm gì?
- Cô chuẩn bị những chiếc khăn này để làm gì?...
Qua đó hình thành ở trẻ những thói quen vệ sinh tốt như: rửa tay trước khi
ăn, khi cơm vãi trẻ biết nhặt để vào đĩa, không để cơm vãi xuống sàn nhà mất vệ
sinh. Khi nhặt cơm vãi trẻ biết lấy khăn lau tay, khi ăn xong trẻ tự giác lấy khăn
lau miệng, xúc miệng, uống nước…
Sau khi ngủ dậy, tôi gọi trẻ lại gần và hỏi trẻ:
- Các con nhìn xem khi ngủ dậy thì quần áo, đầu tóc các con như thế nào?
- Bây giờ chúng mình phải làm gì?
Vào hoạt động chiều tôi hướng dẫn các cháu các kỹ năng lao động tự
phục vụ như: chải tóc, tự mặc và cởi quần áo, gấp quần áo…tổ chức cho các
cháu giúp cô lau dọn và sắp xếp đồ dùng, đồ chơi ở các góc. Qua đó hình thành
cho trẻ kỹ năng tốt, khi trẻ có kỹ năng thì trẻ sẽ có sự tự giác trong việc gữ gìn
vệ sinh, dàn dần sẽ hình thành một thói quen tốt ở trẻ.
4.5. Giáo dục trẻ qua nêu gương
Ở lứa tuổi này trẻ tiếp nhận kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và

tay sau khi nhặt cơm vãi ở bàn vào đĩa, biết rửa tay khi tay bẩn…Kết quả thu
được như sau:
Nội dung Thời
khảo sát

Số trẻ

Trẻ có thói quen giữ

Trẻ chưa có thói quen

khảo

gìn vệ sinh cá nhân

giữ gìn vệ sinh cá nhân

gian khảo sát

sát

Số trẻ

Tỷ lệ

Số trẻ

Tỷ lệ

Đầu năm học


gìn vệ sinh môi trường

giữ gìn vệ sinh môi

gian khảo sát

sát

trường

14


Đầu năm học
Cuối học kỳ I

33
33

Số trẻ
13
30

Tỷ lệ
39.4%
90.9%

Số trẻ
20

+ Về nhân lực:

15


- Có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn mầm non từ trung cấp trở
lên, nhiệt, yêu nghề mến trẻ, luôn năng động, sáng tạo, linh hoạt trong giảng
dạy.
- Luôn có ý thức học hỏi, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn để nâng cao
trình độ chuyên môn.
- Luôn phối hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh.
+Về trang thiết bị:
- Có đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng vệ sinh.

16


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Như chúng ta đã biết, giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng và
cần thiết. Muốn thực hiện được nhiệm vụ to lớn này thì gia đình là sợi dây tình
cảm, yêu thương, chăm sóc, cha mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ. Mỗi nhà giáo
dục, mỗi cô giáo là người mẹ thứ hai của trẻ thì phải làm sao hình thành cho các
cháu bước đầu có một đức tính tốt để sau này trẻ trở thành người công dân tốt.
Một con người mới phát triển toàn diện: Đức- trí- thể- mỹ- lao động”. Vì vậy,
việc “giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ 4- 5 tuổi” là một việc làm cần thiết.
Bởi điều đó không chỉ mang lại cho trẻ một sức khoẻ tốt, mà còn hình thành cho
trẻ nhân cách tốt, góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
Bản thân tôi luôn phải suy nghĩ để có thể tìm ra những biện pháp mang lại
hiệu quả cao, giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng không mang tính gò bó, áp đặt

18


PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tập san giáo dục mầm non
2. Giáo trình giáo dục học mầm non
3. Giáo trình giải phẫu sinh lý, vệ sinh phòng bệnh trẻ em
4. Tuyển tập trò chơi, câu đố, thơ, truyện trẻ 4-5 tuổi.
5. Tổ chức các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm
non.

19


HÌNH ẢNH MINH HỌA (4.2)

20


GIÁO ÁN MINH HỌA (4.3.1)
Đề tài: Năm giác quan của bé
I. Mục đích:
- Trẻ biết tên, tác dụng, đặc điểm của 5 giác quan trên cơ thể con người.
Biết được sự cần thiết phải cách sóc và bảo vệ các giác quan.
- Phát triển khả năng quan sát, nhận xét. Tập cho trẻ nhận biết xung quanh
bằng các giác quan. Rèn cho trẻ kỹ năng nghe, nói mạch lạc.
- Giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh thân thể và vệ sinh môi trường, giữ
gìn và chăm sóc các giác quan.
II. Chuẩn bị:


Ghi chú


- Như vậy nhờ có mắt mà các con nhìn thấy
màu sắc, hình dạng, kích thước của mọi vật.

Trẻ thực hiện.

- Cho trẻ giới thiệu về đôi mắt của mình.
- Tại sao gọi là đôi mắt?
- Tên gọi khác của mắt là gì?

2 trẻ thực hiện theo

- Con hãy nhắm mắt lại đi dến chỗ cô nào, con yêu cầu của cô
thấy thế nào?
=>Giáo dục trẻ: chăm sóc giữ gìn đôi mắt, Trẻ lắng nghe
không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày
bằng nước và khăn sạch.
+Thính giác:

Trẻ chú ý và trả lời.

- Con hãy nhắm mắt lại, nghe và nói cho cô
biết cô đang gõ đệm bằng nhạc cụ nào?
- Cho trẻ nghe và nhận biết một số âm thanh
khác nữa.
- Tương tự cô trò chuyện với trẻ về tên gọi,
đặc điểm, tác dụng và cách giữ gìn vệ sinh đôi

- Để mũi không bị ngạt chúng mìn phải làm
gì?

Trẻ lắng nghe.

=> Giáo dục trẻ: không cho vật gì vào mũi,
không ngoáy tay vào mũi, khi ra đường cần
đeo khẩu trang và đội mũ khi ra trời nắng.
+Vị giác:

Trẻ thực hiện.

- Cho trẻ đếm số cốc nước.

Trẻ trả lời.

- Đố trẻ trong cốc nước đựng gì?
- Cô cho trẻ nếm và nhận xét nước muối, nước
đường, nước cam và nước đun sôi để nguội.

Trẻ trả lời.

- Nhờ giác quan nào mà các con nhận biết
được vị mặn, ngọt…?
- Lưỡi còn gọi là gì?

Trẻ lắng nghe.

=> Giáo dục trẻ: không ăn thức ăn quá nóng,
quá lạnh, giữ vệ sinh răng miệng hàng ngày.


thường xuyên giữ gìn vệ sinh cơ thể sạch sẽ.
*Luyện tập:
+Trò chơi 1: Thi nói đúng, nói nhanh.

Trẻ chơi

Cho 2 đội chơi nói tên gọi, tác dụng của các
giác quan. Đội nói tên giác quan, đội nói tác
dụng và ngược lại.
+Trò chơi 2: Tìm và gắn bộ phận còn thiếu.

Trẻ chơi.

- Chia trẻ thành 3 đội, cho trẻ lên chọn và gắn
các giác quan còn thiếu vào đúng vị trí.
- Thời gian chơi là 1 bản nhạc, đội nào gắn
đúng, phù hợp là đội chiến thắng.
*Kết thúc:

Trẻ thực hiện.

Cho trẻ hát và vận động bài hát: Cái mũi.

24


GIÁO ÁN MINH HỌA (4.3.2)
Đề tài: Lợn con sạch lắm rồi
I. Mục đích:

dụng các nhân vật trong truyện bằng rối tay
- Trong truyện có những nhân vật nào?
Giảng nội dung: Câu truyện kể về 1 chú lợn
25

Trẻ trả lời.

Ghi chú



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status