skkn một vài BIỆN PHÁP rèn kỹ NĂNG nói TIẾNG ANH CHO học SINH TRƯỜNG TIỂU học NAM TRÂN - Pdf 45

I/ Tên đề tài: MỘT VÀI BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH
CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC NAM TRÂN
II/ Đặt vấn đề:
1. Lý do chọn đề tài:
Tiếng Anh là ngôn ngữ được nhiều quốc gia sử dụng nhất, nó trở thành tiếng
bản ngữ của nhiều nước, là ngôn ngữ giao tiếp giữa con người với con người
trên toàn thế giới.
Với xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam đang ngày càng phát huy hết khả năng
sẵn có trong mọi lĩnh vực. Ngôn ngữ giao tiếp trở thành công cụ đắc lực và có
sức mạnh tiên quyết. Ngoài tiếng mẹ đẻ, người Việt Nam đã coi tiếng Anh
như một môn chính khoá vào các trường học.Từ năm học 1996-1997, môn tiếng
Anh đã được Bộ GD & ĐT đưa vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học từ
lớp 3 trở lên. Chúng ta cũng xác định rõ vị trí của môn học đối với sự phát triển
chung của toàn xã hội: là một công cụ tạo điều kiện hoà nhập với cộng đồng
quốc tế và khu vực; tiếp cận thông tin quốc tế và khoa học kỹ thuật; tiếp cận
những nền văn hoá khác cũng như những sự kiện quốc tế quan trọng. Bước đầu
cho các em làm quen với ngôn ngữ thứ hai. Hình thành dần cho các em các kĩ
năng chủ yếu: Nghe- Nói - Đọc - Viết, trong đó chú trọng đặc biệt là kĩ năng
nghe và nói. Tạo tiền đề, sự hứng thú, lòng say mê và khả năng khám phá ngôn
ngữ mới để lên bậc THCS các em sẽ học tốt hơn. Mở rộng tầm nhìn, sự nhạy
bén, óc tò mò về đất nước, con người, nền văn hoá Anh và các nước trên thế
giới.
Riêng cá nhân tôi, với cương vị là giáo viên phụ trách bộ môn tiếng Anh ở
trường tiểu học, tôi nắm rõ đặc trưng phương pháp của bộ môn mình phụ trách.
Qua thực tế làm công tác giảng dạy tiếng Anh nhiều năm, bản thân đã trực tiếp
tham gia nhiều đợt hội giảng các cấp, tham dự nhiều chuyên đề đồng thời dự
giờ trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với nhiều giáo viên ở các trường khác, tôi
thấy các đồng chí đều đã thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn
tiếng Anh nói chung và kỹ năng giao tiếp nói riêng. Nhiều đồng chí giáo viên
băn khoăn không biết nên xử lý thế nào cho hiệu quả khi gặp phải những giờ
dạy mà mình chưa thực hiện được hết ý đồ mình muốn khai thác để củng cố và

chung, tiếng Anh nói riêng, việc đổi mới phương pháp dạy học là rất rõ ràng và
quan trọng đặc biệt trong giao tiếp bằng ngôn ngữ. Từ những luận điểm trên
việc các em học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, nói một cách tự
nhiên và linh hoạt sẽ tạo được niềm vui hứng khởi trong phân môn tiếng Anh.
Kỹ năng giao tiếp trong phân môn tiếng Anh tức là thực hiện theo phương
pháp dạy học mới, học sinh trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, chủ động
sáng tạo, không bị gò bó theo khuôn mẫu. Chúng ta đã biết mỗi môn học đều
góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Các kiến thức
kĩ năng trong phân môn tiếng Anh có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất
cần thiết để học các môn học khác và học tiếp môn tiếng Anh ở bậc học trên.
IV/ Cơ sở thực tiễn:
Ở những vùng đô thị, thành phố, tiếng Anh trở thành nhu cầu cấp thiết của
nhiều người. Nhiều trung tâm, câu lạc bộ mở ra khắp nơi đáp ứng nguyện vọng
của mọi người dân. Ngược lại, ở những vùng xa xôi như miền núi, nông thôn
tiếng Anh đến với người học còn mới mẻ, lạ lẫm, nhận thức của nhiều người
còn hạn chế. Do đó, tạo ra được niềm ham thích cho đối tượng học cũng không
phải là dễ dàng.Tiếng Anh là một bộ môn khá thú vị nhưng đòi hỏi sự cần cù,
chịu khó cao từ phía người học nếu không kiến thức sẽ dễ dàng đứt quãng và dễ
quên. Tạo được dấu ấn cho học sinh ngay từ việc tiếp thu cái mới giúp các em
nhớ ngay và khắc sâu là niềm băn khoăn, trăn trở của các giáo viên. Trên con
đường tìm tòi, tích lũy tư liệu và học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp tôi đã kết
hợp các phương pháp dạy học hiện đại, học mà chơi, chơi mà học vào các tiết
dạy gây hứng thú cho đối tượng học.Việc khuyến khích các em đóng vai trò là
nhân vật trong hội thoại hay nói các câu đơn giản giúp các em tiếp cận với kiến
thức tốt hơn, phát triển kĩ năng nghe, nói. Đóng vai trong hội thoại thường
xuyên tạo cho các em tính bạo dạn, bộc lộ được cảm xúc như cử chỉ, nét mặt,
điệu bộ, trọng âm, ngữ điệu.
V/ Nội dung nghiên cứu:
2


ngại nói, e sợ mắc lỗi, xấu hổ với bạn bè và thầy cô.
- Một bộ phận những em yếu kém vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng nên dễ
dẫn đến việc các em nghỉ học, hay chán nản không muốn học bộ môn này.
- Học sinh hay có thói quen thụ động, các em chưa có nhu cầu tự thân bộc lộ
những suy nghĩ, tình cảm, sở thích, năng khiếu của cá nhân trước tập thể.
- Ý thức chuẩn bị bài trước hầu như không có, tồn tại thói quen đợi chờ tiếp
nhận kiến thức từ bạn mình hoặc từ phía giáo viên, nếu có khó khăn thì đợi giải
thích từ phía giáo viên.
b/ Giáo viên:
- Có sự quan tâm của ngành cấp trên, Ban giám hiệu, một số phụ huynh và
giáo viên.
- Hầu hết các trường đều biên chế giáo viên Tiếng Anh đồng thời đội ngũ
giáo viên trẻ có sự nhiệt tình, năng lực và có tích luỹ được kinh nghiệm. Song
thực trạng hiện nay là đa số giáo viên được đào tạo ở trình độ cao đẳng hoặc đại
3


học cho phổ thông cơ sở và trung học phổ thông về dạy Tiểu học.
Ngoài ra, trong tiết dạy giáo viên sợ mất nhiều thời gian, sợ làm lớp ồn, còn
thiếu trang thiết bị phục vụ cho bộ môn: con rối, phòng lab, trang thiết bị, sách
tham khảo.
3. Biện pháp thực hiện:
Mục đích của việc rèn kĩ năng nói là giúp cho học sinh kĩ năng giao tiếp phù
hợp với trình độ và lứa tuổi của học sinh, giúp học sinh có điều kiện thu nhận và
trao đổi thông tin, nâng cao trình độ tiếng Anh, có hiểu biết thêm về xã hội.
Chúng ta biết rằng cấu trúc một bài dạy tiếng Anh thường bao gồm các hoạt
động để phát triển đồng thời 4 kỹ năng: Nghe- nói- đọc- viết một cách đúng hướng và toàn diện. Chúng vừa là phương tiện và vừa là mục đích của việc học bộ
môn này.Trong những năm qua, bước đầu chúng ta đã áp dụng việc đổi mới
phương pháp giảng dạy tiếng Anh nhằm giúp học sinh nắm được cách học một
cách chủ động, tích cực và đáp ứng được yêu cầu là học sinh phải sử dụng được

Look at her.
4


+ Luyện tập cho học sinh phát âm các âm cuối:
Book: / buk /
Robot: / rəubDt /
Pen: / pen /
+ Đối với hình thức số nhiều, cần luyện tập cho các em phát âm:
* S phát âm là /s/ khi đứng sau phụ âm vô thanh như: cassettes, kites,
notebooks…
* S phát âm là /z/ khi đứng sau nguyên âm hoặc phụ âm hữu thanh như:
robots, tables, bats….
* S phát âm là /iz/ khi đứng sau những âm như: -s-, -z-, -sh-, -tch,…
Ví dụ: pencil cases, watches….
+ Có môt số âm rất khó đọc, ngay cả với học sinh nhỏ bản ngữ như:
* Âm /r/: là âm khó, học sinh chú ý môi thầy cô, chu môi ra sau đó mở tròn
miệng r r r.
* Âm /th/: chỉ cho học sinh đạt lưỡi giữa hai hàm răng. Chú ý cắn nhẹ đầu
lưỡi khi đọc âm này.
Ví dụ: this, that, these, those, they…..
* Âm /l/: bắt đầu đặt lưỡi đằng sau răng trên.
+ Chú ý trọng âm, ngữ điệu khi phát âm.
Phần lớn học sinh tiểu học hiện nay chưa có khả năng nói trôi chảy. Nói trôi
chảy không phải là nói nhanh mà là nói có điểm dứt theo nhóm nghĩa thể hiện
đúng trọng âm câu và ngữ điệu.Thiếu trọng âm từ và đặc biệt là trọng âm câu,
không thể hiện được ngữ điệu, và nhịp điệu câu.
Sự thiếu hụt này không thể hiện được sắc thái, tình cảm của người nói. Học
sinh tiểu học hay có thói quen nói tiếng Anh dùng những âm cách xa với chuẩn
bản ngữ, cụ thể là các em nói kéo dài từ, câu, nói không dứt khoát nên nghe

c. hit
d. pit
4/ a. can
b.map
c. fan
d. van
Trong quá trình dạy, nếu một học sinh gặp khó khăn khi phát âm một yếu tố
nào đó hoặc nói chưa đúng ngữ điệu thì giáo viên không nên bắt học sinh đọc đi
đọc lại nhiều lần mà nên yêu cầu cả lớp đọc đồng thanh mẫu đó vài lần. Sau đó
học sinh tiếp tục luyện đôi và khi đó giáo viên có thể tiếp tục giúp đỡ những học
sinh gặp khó khăn.
3.2/ Rèn luyện tín hiệu phi ngôn ngữ:
+ Kiểm soát tầm nhìn: nhìn xa, nhìn gần, nhìn vào người đang đối thoại, cần
thể hiện ánh mắt linh hoạt, tập trung….. tránh kiểu nhìn lơ đểnh, mông lung khi
đang nói.
+ Chú trọng đến yếu tố, cử chỉ, điệu bộ như: khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười,
gật đầu, lắc đầu….để biểu hiện được ý nghĩa của lời nói nhằm làm cho cuộc
giao tiếp thú vị hơn.
+ Giữ tác phong lịch sự khi giao tiếp cụ thể là đầu tóc và quần áo phải gọn
gàng, sạch sẽ.
+ Giáo viên cần phải nhắc nhỡ học sinh rèn luyện các yêu cầu trên mỗi ngày.
Cần chú ý cung cấp cho học sinh ngữ liệu không khó bằng việc sử dụng ngữ
liệu đó vào giao tiếp. Vì vậy giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh có thời
gian thực hành nói thường xuyên giúp các em tự tin, mạnh dạn đưa ra ý kiến
của mình và cũng giúp học sinh phát hiện những hạn chế và tự sửa sai.
3.3/ Rèn luyện tín hiệu ngôn ngữ
+ Phù hợp với cuộc nói chuyện, thể hiện sắc thái biểu cảm ( vui, buồn, ngạc
nhiên, tò mò…….)
+ Đủ âm lượng ( cường độ, cao độ…) giọng điệu gây sự chú ý, gây cảm tình
với người đối diện.

trong lớp học và trong trò chơi, như thế học sinh sẽ mạnh dạn, tự tin trong giao
tiếp.
Ví dụ:
Giáo viên yêu cầu học sinh mở sách thì nói: open the book.
Yêu cầu học sinh lặp lại thì nói: repeat…..
Giáo viên vào lớp nên hỏi: - How are you today?, What’s the weather like
today?

+ Tận dụng hình thức kể chuyện bằng tiếng Anh bằng ngôn ngữ đơn giản và có
minh họa tranh ảnh….Sau đó yêu cầu học sinh tóm tắt nội dung câu chuyện.
+ Phát triển tối đa các hình thức trò chơi, hát, đọc vần thơ, tập nhịp câu, v.v...
3.5/ Tổ chức hoạt động theo cặp – nhóm:
+ Đây là hoạt động đắc lực và lí tưởng nhất trong quá trình luyện nói. Tất cả
học sinh sẽ được làm việc trong cùng một thời gian, giúp giáo viên giải quyết
được nhiều vấn đề.
+ Học sinh học tập lẫn nhau trong quá trình luyện tập, đó là cơ hội để chia sẻ
thông tin và hỏi những điều mình chưa rõ, đồng thời giáo viên cũng dễ dàng
kiểm soát học sinh bằng cách đi đi lại lại trong lớp, lắng nghe và hổ trợ khi cần
thiết.
+ Giáo viên quán xuyến lớp trong quá trình hoạt động nhóm.
Một số hoạt động theo cặp – nhóm được áp dụng:
a. Picture Story
Với hoạt động này, học sinh nhìn tranh để kể lại câu chuyện hoặc một
đoạn hội thoại. Nếu thực hành thường xuyên, học sinh sẽ luyện được tính
độc lập trong giao tiếp và sẽ sắp xếp được ý tứ khi trao đổi, kể chuyện hoặc
giới thiệu về một hoạt động.
b. Walk and Talk:
Để đáp ứng tính hiếu động của trẻ, giáo viên trên lớp cần phát huy các biện
pháp thu hút sự chú ý của trò. Ví dụ khi dạy trò hỏi thăm sức khoẻ bạn, How
are you? I´m fine, thank you, chúng ta không nên cho học sinh ngồi tại chỗ hỏitrả lời với bạn ngồi bên cạnh, mà nên cho một vài học sinh chạy quanh lớp, thực

3.7/ Tổ chức các trò chơi: Trẻ có khả năng rất sáng tạo trong vui chơi. Kinh
nghiệm cho chúng ta thấy cách chơi của trẻ đôi khi sáng tạo và làm cho trò chơi
tự nhiên hơn, "trẻ con hơn". Sử dụng trò chơi chúng ta có thể ôn tập ngữ liệu
một cách có tổ chức và vui vẻ.
Ví dụ:
Relay Race: Chia lớp thành nhiều đội, mỗi đội một hàng dọc. Cho học sinh
ngồi đầu mỗi hàng một từ, nhóm từ, hoặc câu. Học sinh đó nói lại từ đó cho
người ngồi dưới mình nghe. Cứ như thế cho đến khi từ đó đến với học sinh ngồi
cuối hàng. Khi nhận được từ, học sinh này đứng dậy đọc to từ đó lên, rồi chạy
ngay lên bảng viết lên bảng. Đội nào hoàn thành trước sẽ thắng.
Brain storming:
Ví dụ: Unit 9- Lesson 2(Lớp 3)
purple blue
brown
red
yellow

color

orange
green white

3.8/ Sửa lỗi sai cho học sinh:
+ Việc sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ pháp cho học sinh trong khi nói là một việc
8


làm quan trọng. Tuy nhiên, làm thế nào để sửa lỗi cho các em, sửa lỗi vào thời
điểm nào cho thích hợp là một việc làm đòi hỏi sự tế nhị và mang tính sư phạm
cao.

- Review: 5 minutes.
- Presentation: 15 ms
- Open your books: 10ms
- Extension: 10ms.
VI/. Kết quả nghiên cứu:
Qua các tiết dạy thực nghiệm, dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy việc ứng
dụng các phương pháp dạy học đa dạng, phong phú và tiên tiến là cần thiết. Với
việc thực nghiệm các phương pháp trên, các em học sinh đã có những nhận định
khác nhau với bộ môn này. Từ việc cho rằng học tiếng Anh khó, đặc biệt khó
trong việc tiếp thu kiến thức mới, không mạnh dạn trong giao tiếp thì các em đã
bị thu hút bởi các trò chơi hoạt động thú vị. Do đó, các em hứng thú với bộ môn
này hơn và học tốt hơn. Số lượng học sinh khá giỏi tăng lên, số lượng học sinh
9


yếu kém giảm xuống.
Tôi thấy học sinh đều có sự tiến bộ, tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên. Học
sinh không còn có cảm giác ngại học tiếng nước ngoài.
Kết quả cụ thể là:
Căn cứ vào kết quả học tập của học sinh, tôi có kết quả xếp loại khả năng
nói của học sinh khối 3, 4, 5 như sau:
Bảng thống kê khả năng nói của học sinh khối 3, 4, 5 học kỳ I
năm học 2014-2015:

Khối

Tổng số

lớp


19,6%

48,1%

8hs

14,8%

25hs
35,7%

20hs
54

Chưa

25hs
28,8%

56

Tỉ lệ

được

15hs
52

Tạm


Cấu trúc sách giáo khoa có phân chia thành từng kỹ năng nhằm rèn luyện cho
học sinh trong quá trình học ngoại ngữ. Tuy nhiên trong quá trình dạy, chúng ta
phải luôn luôn biết phối hợp việc dạy lồng ghép các kỹ năng trong cùng một giờ
học, tránh việc tách rời các kỹ năng để dạy riêng biệt.
Trong quá trình giảng dạy ở trường tiểu học, cùng với việc nghiên cứu học
tập các tài liệu tham khảo và sự rút kinh nghiệm của bản thân, sự học hỏi không
ngừng từ các bạn bè đồng nghiệp, tôi đã thực hiện kinh nghiệm “một vài biện
pháp rèn kĩ năng nói cho học sinh tiểu học”. Tuy nhiên kinh nghiệm của tôi
không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Rất mong nhận được sự ủng hộ
của lãnh đạo cấp trên, ý kiến đóng góp xây dựng của quý đồng nghiệp để tôi có
thể rút kinh nghiệm, học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân.

IX/ Tài liệu tham khảo:
1. Thực trạng giảng dạy tiếng Anh tại Việt Nam. Trịnh Quốc Thái, Vụ
trưởng Vụ Tiểu học. Bộ GD&ĐT.
2. Dạy tiếng Anh Bậc tiểu học. Nguyễn Quốc Hùng.
3. Sách giáo viên: Let’s go – Khối 3, 4, 5.NXB Oxford.
4. English for Primary Teachers (Phương pháp dạy trẻ học tiếng). Mary
11


Slattery & Jane Willis do nhà xuất bản Oxford xuất bản năm 2001.
5. How to teach English. Jeremy Harmer - Oxford University Press – 2002.
6. Bồi dưỡng phương pháp dạy học tiếng Anh hiện đại. NXB Đại học Quốc
Gia Hà Nội-1999.

X/ Phụ lục: Tranh minh họa cho biện pháp phản xạ nhanh bằng tiếng Anh.

12


V/ Nội dung nghiên cứu.
1. Nguyên nhân.

3

2. Thực trạng của vấn đề.

3-4

3. Biện pháp thực hiện.

4-10

VI/ Kết quả nghiên cứu.

9-10

VII/ Kết luận.

10

VIII/ Đề nghị.

11

IX/ Tài liệu tham khảo.

12

X Phụ lục.


CỦA HĐKH TRƯỜNG : TH Nam Trân

1. Tên đề tài: Một vài biện pháp rèn kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh trường
Tiểu học Nam Trân.
2. Họ và tên tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
3. Nhiệm vụ được phân công: giảng dạy tiếng Anh.
4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài:
a) Ưu điểm: ..............................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
b) Hạn chế: ...............................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
..........................................................................................................................................
5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường TH Nam Trân
thống nhất xếp loại :
Những người thẩm định:
(Ký, ghi rõ họ tên)

Chủ tịch HĐKH
(Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)

...........................................ký .....................

Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài

Điểm
tối đa

1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề

1

3. Cơ sở lý luận

1

4. Cơ sở thực tiễn

2

5. Nội dung nghiên cứu

9

6. Kết quả nghiên cứu

3

7. Kết luận

1


UBND HUYỆN ĐẠI LỘC
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Đại Lộc, ngày

tháng

năm 2015

PHIẾU CHẤM ĐIỂM, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NĂM HỌC 2014-2015
CỦA HĐKH PHÒNG GD&ĐT ĐẠI LỘC
Họ và tên tác giả: Phan Thị Thanh Thủy
Đơn vị: Trường TH Nam Trân
Đề tài: Một vài biện pháp rèn kỹ năng nói tiếng Anh cho học sinh trường Tiểu học

Nam Trân.
ĐIỂM CỤ THỂ :
Phần

Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài

Điểm
tối đa

1. Tên đề tài

1
1

Thể thức văn bản, chính tả

1

Tổng cộng

20đ
Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại :
Người đánh giá xếp loại đề tài
(Người thứ hai ký và ghi rõ họ tên)

16

Điểm
đạt
được


17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status