TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA XÃ HỘI – DU LỊCH
GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ)
VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
(Dành cho Cao đẳng sư phạm Ngữ văn)
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài An
Năm 2012
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1. Khái niệm
Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết.
Trong đó văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học
dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học Việt Nam chỉ có văn học dân gian; khi có
chữ viết nền văn học Việt Nam mới bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học
viết.
Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng,
phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày
nay. Ba thuật ngữ sau đây được xem là tương đương khi nghiên cứu văn học dân gian:
Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ
(folklore văn học)
Như vây, Văn học dân gian được hiểu là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền
miệng được tập thể sáng tạo, nhằm mục đích phục vụ trực tiếp cho những sinh hoạt
khác nhau trong đời sống cộng đồng.
1.2. Đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
- Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng.
- Gắn bó và phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng.
Người ta còn gọi 3 đặc trưng trên là : tính truyền miệng, tính tập thể và tính thực hành.
1.3. Những giá trị cơ bản của văn học dân gian
- Văn học dân gian là kho trí thức vô cùng phong phú về đời sống của các dân tộc (kho trí
khôn của nhân dân về mọi lĩnh vực của đời sống tự nhiên, xã hội, con người). Kho tri
thức này phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân ta đúc kết từ thực tế.
Vào trong các tác phẩm, nó được mã hoá bằng những ngôn từ và hình tượng nghệ
thuật tạo ra sức hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến, dễ tiếp thu và có sức sống
lâu bền cùng năm tháng.
- Văn học dân gian ngợi ca, tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con người. Vì thế, nó có
giá trị giáo dục sâu sắc về truyền thống dân tộc (truyền thống yêu nước, đức kiên
trung, lòng vị tha, lòng nhân đạo, tinh thần đấu tranh chống cái ác, cái xấu,…). Văn
học dân gian cũng vì thế mà góp phần hình thành những giá trị tốt đẹp cho các thế hệ
xưa và nay.
- Văn học dân gian có giá trị to lớn về nghệ thuật. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành và phát triển nền văn học dân nước nhà. Nó đã trở thành những mẫu mực
để đời sau học tập. Nó là nguồn nuôi dưỡng, là cơ sở của văn học viết.
1.4. Văn học dân gian trong mối quan hệ với văn hóa dân gian
Văn học dân gian mang đặc trưng nguyên hợp, là một bộ phận củavăn hóa dân
gian. Đặc trưng này khiến văn học dân gian là một bộ phận không thể tách rời với văn
hóa dân gian. Vì thế, để hiểu văn học dân gian,không thể không đặt nó trong mối quan
hệ với văn hóa dân gian. Những đặc trưng giúp phân biệt văn học dân gian và văn học
viết thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều là:tính nguyên hợp, tính tập thể,
tính truyền miệng và tính dị bản. Các đặc trưng trên có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo
ra nét đặc trưng của văn học dân gian so với văn học viết. Trong bốn đặc trưng trên,
tính nguyên hợp làđặc trưng quan trọng hàng đầu và nó cũng chính là cơ sở lí thuyết
của việcgiảng dạy tác phẩm văn học dân gian dưới góc độ văn hóa dân gian.
họ thể hiện những kinh nghiệm, tri thức, tư tưởng tình cảm của mình trong văn học
dân gian- một loại nghệ thuật không chuyên. Biểu hiện rõ ràng nhất của đặc trưng
nguyên hợp là ở chỗ: Văn học
dân gian là kết tinh trí tuệ, tâm hồn của nhân dân nhiều địa phương trong nhiều thời
đại, là sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực văn hóa: lịch sử, tín ngưỡng , tôn giáo,
phong tục…
Khác với văn học viết là thành tựu sáng tạo của một cá nhân, văn học dân gian là
sáng tạo của cả tập thể. Vì thế, cũng giống như tính nguyên hợp trong văn hóa dân
gian, khi tìm hiểu tính nguyên hợp trong văn học dân gian, phải xét đến vai trò sáng
tạo của những thời đại khác nhau và giữa các địa phương khác nhau trong quá trình
sáng tạo tác phẩm văn học
CHƯƠNG 2: CÁC THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
Dựa vào những đặc điểm giống nhau cơ bản về nội dung và nghệ thuật của các tác
phẩm trong cùng một nhóm, có thể thấy văn học dân gian Việt Nam gồm những thể
loại chính như sau : thần thoại, sử thi dân gian, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện
cười, truyện ngụ ngôn, tục ngữ, câu đố, ca dao – dân ca, vè, truyện thơ, các thể loại sân
khấu (chèo, tuồng, múa rối, các trò diễn mang tích truyện).
2.1. Các thể loại tự sự dân gian
2.1.1 Thần thoại
Truyện thần thoại Việt Nam là thể loại tự sự viết bằng văn xuôi, kể lại sự tích các vị
thần sáng tạo ra thế giới tự nhiên và văn hóa, phản ánh nhận thức, cách hình dung của
người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người. Có thể nói chuyện
thần thoại được xây dựng bằng những hình ảnh,chi tiết không có thực mà chỉ là hư ảo
do con người tưởng ra dựa trên quan niệm về sự tiến hóa loài người mà sau này chỉ có
các nhà khoa học mới giải thích được. Đó là những quan niệm theo lối duy vật từ thời
xa xưa khi bắt đầu có loài người trên Trái Đất. Nhằm phản ánh quá trình sáng tạo văn
học con người thời cổ đại
Thần thoại Việt Nam có thể phân ra thành các nhóm chính sau đây
Thần thoại đã tạo nên cho con người Việt Nam nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình
tượng phóng đại và khoáng đạt. Nhà nghiên cứu người Nga M.N. Tkachốp đã có nhận
xét xác đáng rằng: "Những quan điểm thần linh siêu nhiên vốn là tư duy truyền thống
của người Việt Nam từ thời xa xưa và được bắt nguồn chính từ thần thoại. Những lời
giải cho sự "kì lạ" không phải là quá hiếm hoi, và đã nằm trong những hoàn cảnh đã
tạo nên nó. Một người Việt Nam dù sinh ra trong gia đình làm nghề cày ruộng hay một
gia đình quý tộc thì từ tấm bé đều biết ánh sáng loé lên của tia chớp và tiếng sấm là
dấu hiệu thần Sấm đang đến, vung lưỡi tầm sét của mình để thực hiện ý muốn của ông
Trời trừng phạt một kẻ nào đó phạm tội ác. Anh ta biết rằng cơn gió mát mẻ và trận
cuồng phong dữ dội là do bởi chiếc quạt lông của thần Gió cụt đầu mà ra, còn
con rồng khổng lồ đang dồn đuổi đám mâymưa trên bầu trời chính là thần Mưa. Còn
nếu ông Thần Nông xuất hiện trong giấc mơ của ai đó một cách vui vẻ thì có nghĩa là
mùa màng thất bát đang đón chờ anh ta, còn nếu thần xuất hiện trong bộ dạng phờ
phạc thì là sự báo trước một mùa màng bội thu... Trong mỗi dòng sông, trong những
cánh rừng rậm và hang núi, đang sống những vị thần mà mọi người đều biết rõ tập tục
và thói quen của họ"
2.1.2 Truyền thuyết
Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian, ra đời sau truyện thần thoại, thường có
yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều liên quan đến lịch sử, là những
truyện truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc
các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến
của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như
cổ tích và thần thoại.
Dựa theo nội dung truyền thuyết Việt Nam có thể chia theo các thời kì sau:
Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang: mang tính chất sử thi, phản ánh không khí anh
hùng ca thời Hùng Vương dựng nước và trình độ khá văn minh của người Văn Lang.
Lịch sử địa danh: Sự tích Hồ Gươm, Sự tích núi Ngũ Hành...
Anh hùng nông dân: Chàng Lía, Quận He, Ba Vành...
Anh hùng nông dân không có yếu tố thần kỳ: Hầu Tạo, Chàng Lía, Lê Văn Khôi...
Nội dung : Kể bề những sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo
quan điểm đánh giá của dân gian.
- Đặc điểm nghệ thuật :
+ Là những tác phẩm văn xuôi tự sự có dung lượng vừa phải.
+ Có sự tham gia của những chi tiết, của các sự việc có tính chất thiêng liêng kì ảo (các
nhân vật thần, các đồ vật kì ảo có phép lạ hay những sự biến thân).
2.1.3. Truyện cổ tích
Truyện cổ tích Việt Nam là những truyện cổ tích ở Việt Nam, được truyền miệng trong
dân gian để kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhân vật và sự
kiện khác nhau. Vì mang tính chất dân gian và truyền miệng, những truyện cổ tích
được xét vào thể loại hư cấu và không được xem là cứ liệu khoa học, mà nó thuộc vào
phạm trù văn hóa.
Truyện cổ tính thường mang yếu tố hoang đường, kì ảo, thể hiện ươc mơ của nhân dân ta
về chiến thắng cuối cùng của cái thiện và cái ác, sự công bằng và bất công.
Ghi nhớ
- Nội dung :
+ Là những câu chuyện kể về số phận của những con người bình thường hay bất hạnh
thòi về quyền lợi, về mặt tính cách, họ trọn vẹn về đạo đức nhưng thường chịu đựng
trừ nhân vật xấu xí mà có tài (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Cây tre trăm đốt).
*Truyện cổ tích thế tục
Truyện tiếu lâm, Truyện cũng kể lại những sự kiện khác thường ly kỳ, nhưng những sự
kiện này rút ra từ thế giới trần tục. Yếu tố thần kỳ, nếu có, thì không có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển câu chuyện như trong cổ tích thần kỳ.
Nhóm truyện có đề tài nói về nhân vật bất hạnh (Trương Chi, Sự tích chim hít cô, Sự tích
chim quốc...); nhóm có nội dung phê phán những thói xấu: (Đứa con trời đánh, Gái
ngoan dạy chồng...); nhóm truyện về người thông minh: (Quan án xử kiện hay Xử kiện
tài tình, Em bé thông minh, Cái chết của bốn ông sư, Nói dối như Cuội...); nhóm
truyện về người ngốc nghếch: (Chàng ngốc đi kiện, Làm theo vợ dặn, Nàng bò tót...)
2.1.4. Truyện ngụ ngôn
Truyện ngụ ngôn là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho
một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thực tế xã
hội.
Trong quá trình sống gần gũi với tự nhiên và chưa hoàn toàn tách mình ra khỏi tự nhiên,
người cổ đại đã từng quan sát, tìm hiểu các con vật để dễ săn bắt và tự vệ. Khi con
người có ý thức mượn truyện loài vật để nói về con người thì truyện ngụ ngôn xuất
hiện.
Nội dung truyện ngụ ngôn Việt Nam thường bao gồm các điểm sau
Đả kích giai cấp (thống trị): đó là thói ngang ngược, đạo đức giả của kẻ quyền thế
(Khi chúa sơn lâm ngọa bệnh, Chèo bẻo và ác là, Mèo ăn chay...)
Phê phán thói hư tật xấu của con người: thói huênh hoang đi kèm với bệnh chủ quan,
trong. Ðó là mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hình tượng và ý niệm, giữa sinh
động và máy móc.
Nội dung của truyện cười có các mục đích:
Mua vui giải trí: nhằm mục đích giải trí là chủ yếu, song nó cũng có tính chất phê phán
nhẹ nhàng những thói xấu của người bình dân, những lầm lẫn, hớ hênh, những tình
huống trớ trêu: (Tay ải tay ai, Thấy dễ mà thèm, Ăn vụng gặp nhau...) như các giai
thoại về Bác Ba Phi
Phê bình giáo dục: phê bình thói hư tật xấu của người chung quanh trong xã hội đương
thời: Hội sợ vợ, Áo mới lợn cưới, Sợ quá nói liều...
Đả kích: vạch trần cái ác, cái xấu có tính bản chất của giai cấp thống trị, lãnh đạo.
Truyện trào phúng đả kích từ vua chúa, quan chức đến địa chủ cường hào, thầy đồ,
thầy chùa, thầy pháp, thầy lang, nhà giàu mới, ông bà chủ, xếp... (Quan huyện thanh
liêm, Thần bia trả nghĩa, Nó phải bằng hai mày, Nam mô... boong, Thầy đồ liếm
mật, Chỉ có một con ma...). Hệ thống truyện trạng (tiêu biểu là truyện Trạng Quỳnh,
truyện ông Ó), Ba Giai Tú Xuất,...
Theo tiêu chí kết cấu thì truyện cười có 2 nhóm lớn:
Truyện cười kết chuỗi:
Ca dao than thân thường là lời của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xa. Thân phận
của họ thường bị phụ thuộc vào những người khác trong xã hội, giá trị phẩm chất của
họ không được người ta biết đến và trân trọng. Thân phận ấy thường được so sánh
như: củ ấu gai, tấm lụa đào, hạt mưa, miếng cau khô, cái giếng...
Ca dao yêu thương, tình nghĩa đề cập đến tình bạn cao đẹp, tình yêu đôi lứa (với những
cung bậc phong phú như nhớ thương, hờn giận...), tình cảm gia đình, tình nghĩa thủy
chung của con người trong cuộc sống,...
Ca dao yêu thương thường gắn với những biểu tượng như cái khăn, chiếc cầu,... vì đây là
những vật, những nơi mà nam nữ thường có nhiều kỉ niệm. Cái khăn là kỉ vật luôn đi
cùng người con gái. Nó mang theo hơi ấm của người yêu. Còn chiếc cầu là nơi nam nữ
hẹn hò tâm sự.
Ca dao tình nghĩa còn thường sử dụng những ước lệ như cây đa, bến nước, con
thuyền, gừng cay, muối mặn... Vì đó là những hình ảnh vừa gần gũi, quen thuộc với
người bình dân vừa biểu tượng cho sự chia li, chờ đợi hay cho những ước muốn,
khát khao về sự thủy chung tình nghĩa của con người.
Trong ca dao hài hước, tiếng cười tự trào là tiếng cười hóm hỉnh, hồn nhiên vô tư nhằm
"thi vị hóa" cuộc sống nghèo khổ của mình. Nó là tiếng cười tiếp sức để người ta vượt
lên hoàn cảnh. Trong khi đó tiếng cười phê phán xã hội có mục đích đấu tranh xã hội
mạnh mẽ hơn. Nó hướng vào những thói hư tật xấu trong nội bộ hoặc lên án giai cấp
thống trị ti tiện, tham lam,... Tiếng cười phê phán có nhiều mức độ : nhắc nhở, giễu
cợt, đả kích, phủ nhận,...
Có thể nhận xét rằng ca dao hài ước là sản phẩm của tâm hồn lạc quan yêu đời của người
lao động. Nó nảy sinh ngay từ trong cuộc sống vất vả, khốn khó và bộn bề lo toan của
người nông dân.
b) Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng trong ca dao :
- Thường lặp lại các mô thức mở đầu : thân em, em như, cô kia, ước gì,...
- Sử dụng nhiều các mô típ biểu tượng : gừng cay - muối mặn, con đò, bến đợi, ngọn đèn,
tấm khăn, cái cầu,...
là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối:
đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể
gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.
Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản,
đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả.
2.2.3. Câu đố
Câu đố là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật hiện tượng theo lối nói chệch.
Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng và chức năng của từng vật cá biệt và sau
đó phản ánh thông qua sự so sánh, hình tượng hóa.
Có sự tương đồng về hình thức ngắn gọn, cô đúc, có vần điệu nhịp nhàng.
Câu đố xây dựng hình tượng phản ánh dấu hiệu đặc trưng và chức năng của những sự
vật, sự việc cụ thể với mục đích kiểm tra, truyền đạt tri thức về thế giới khách quan.
Căn cứ hình thức diễn tả, câu đố được chia hai loại: câu đố chính hiệu và câu đố vay
mượn.
Căn cứ đối tượng phản ánh, câu đố được chia hai loại: loại thuộc tự nhiên, loại thuộc
văn hóa.
Phương pháp nhận thức và phản ánh nghệ thuật của câu đố là một phương pháp
phổ biến ở hầu hết các dân tộc khác nhau trên thế giới. Câu đố ra đời từ thời cổ đại liên
quan đến lối nói so sánh gián tiếp phổ biến của người thời cổ, hiện tượng chưa có tên
của nhiều sự vật phổ biến trong giai đoạn đầu của mọi dân tộc. Việc dùng sự vật này
để nói sự vật khác, việc miêu tả đặc điểm sự vật vào một hình thức ngôn ngữ là điều
hợp quy luật.
Về nội dung:
- Chứa đựng tri thức thực tiễn: Đối tượng phản ánh của câu đố là các sự vật hiện
tượng trong thế giới khách quan, phần lớn có liên quan đến những hoạt động sinh hoạt
của người dân.
- Chứa đựng nội dung và ý nghĩa xã hội: Khi miêu tả thế giới hiện thực xung quanh
con người, nhiều câu đố mang thêm ý nghĩa xã hội, mặc dù đó không phải là mục đích
Con cò kiếm ăn.”
Nước non lận đận một mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.
Ai làm cho bể kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?
2. Thương thay thân phận con tằm
Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ.
Thương thay lũ kiến li ti,
Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi.
Thương thay hạc lánh đường mây,
Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.
Thuơng thay con cuốc giữa trời,
Dầu kêu ra máu có người nào nghe.
3. Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
thân em như hạt mưa xa
hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
2_ gánh cực mà đổ lên non
cong lưng mà chạy cực còn theo sau
3_ con cò mà đi ăn đêm
đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
ông ơi ông vớt tôi nao
tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
có xáo thì xáo nước trong
đừng xáo nước đục đau lòng cò con
Muống than thân muống
Trứt đọt nấu canh,
Anh than thân anh.
Đèn yêu ai mà đèn chẳng tắt
Ta yêu mình nước mắt nhỏ rạ
7)Ngó lên hương tắt đèn lờ
Tấm thân đơn bạc biết nhờ cậy ai
8)Ngán thay cái kiếp phong trần
Biết bao giờ hết nợ nần đã vay ?
9)Nước non lận đận một mình
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay,
Ai làm cho biển kia đầy
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con!
10)Thân em như bông cúc trên trang
Thân anh như manh chiếu rách bạn hàng bỏ quên
11)Khổ ơi là khổ em cam phận khổ
Lên non đốn củi, đụng chỗ đốn rồi,
Xuống sông gánh nước,
Đụng chỗ cát bồi, khe khô!
a. Phân tích những câu ca dao có hình ảnh con cò:
“Cái cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về
Cò về thăm quán cùng quê
Thăm cha, thăm mẹ, cò về thăm anh”.
“Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
“Trời mưa Quả dưa vẹo vọ
Con ốc nằm co
Con tôm đánh đáo
Con cò kiếm ăn”.
Lý giải - Đây là loài chim thường xuất hiện ở đồng ruộng gắn bó gần gũi với người nông
được hiện ra. + Sự lặp lại đó tăng thêm nỗi cực nhọc của những cuộc đời cay đắng và
thể hiện sâu sắc hơn, thấm thía hơn nỗi niềm thương cảm.
Câu 4. - Nhận xét chung: Hình ảnh nhưng con vật nhỏ bé, bèo bọt: “con tằm”, “lũ kiến”,
“chim hạc”, “con cuốc” dùng để ẩn dụ về cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn của người lao
động. - Hình ảnh cụ thể. + “Con tằm”: Tằm ăn lá dâu, rồi từ ruột nó, người ra lấy ra
những sợi tơ vàng làm nên những tấm vải rất đẹp, rất quý, tơ bị rút hết thì mạng sống
của tằm cũng chấm dứt = > Hình ảnh con tằm là ẩn dụ về người lao động bị giai cấp
thống trị bóc lột, bòn sút sức lao động cạn kiệt đến tận gan ruột, đến chết để làm giàu
cho chúng. + “Lũ kiến”: - hàm nghĩa chỉ số đông – “li ti” rất bé nhỏ, thường bị coi
thường, chẳng đáng gì. Bé thế ăn chẳng là bao, thế mà suốt ngày đi kiếm ăn = > Đó là
hình ảnh ẩn dụ về những người lao động thấp cổ bé họng trong xã hội cũ suốt đời suốt
kiếp nai lưng quần quật làm việc vất vả ngược xuôi mà vẫn không đủ sống, vẫn cứ đói
nghèo. + “Chim hạc” cánh chim bay mỏi không có nơi đứng = > hình ảnh ẩn dụ nói về
cuộc đời phiêu bạt và những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ.
Câu 5. Những câu ca dao mở đầu bằng cụm từ “Thân em”. “Thân em như miếng cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày” ’’Thân em như hạt mưa sa Hạt rơi xuống
giếng hạt vào vườn hoa’’ ’’Thân em như là đại bi Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm
sương’’ - Đặc điểm, nội dung và nghệ thuật. + Những bài ca dao mở đầu bằng cụm từ
’’Thân em’’ thường nói vê thân phận đau khổ, không tự định đoạt được cuộc đời mình
của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. + Những bài ca dao này thường sử dụng
biện pháp nghệ thuật so sánh để diễn tả.
Câu 6. - Nhận xét về hình ảnh so sánh. + Trái bần: vừa chua vừa chát, hơn nữa đã rụng –
gợi ta liên tưởng những thân phận nghèo hèn lắm khổ đau – câu ca mang đậm màu sắc
Nam Bộ. + Gió dập, sóng dồi: hình ảnh các thế lực đen tối hợp lực vào nhau đè bẹp,
nhấn chìm cuộc sống của những con người lương thiện.
- Nỗi khổ người phụ nữ: Qua bài ca dao ta thấy được người phụ nữ trong xã hội phong
kiến dật dờ, trôi nổi, luôn gặp những khổ đau, bất hạnh
Con cò mà đi ăn đêm
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.
Bài “Tát nước đầu đình” đã diễn tả cuộc giao duyên hồn nhiên chân thành nơi thôn dã,
qua những lời lấp lửng tài hoa duyên dáng của những người sông nơi đồng nội. Tứ thơ
lại đặc sắc tài tình với các mạch thơ đầy uyển chuyển bất ngờ. Bài “Tát nước đầu
đình” tuy là một câu chuyện được tạo dựng nhưng vẫn đầy đủ dí dỏm ý vị và hấp dẫn.
Nhưng những cuộc giao duyên không phải khi nào cũng có kết cuộc tốt đẹp cả. Trong
kho tàng văn học dân gian còn lắm ca dao trữ tình diễn tả tình yêu nam nữ mà trong đó
những thương mến, nhớ nhung, than thở, oán trách đều tràn đầy thiết tha say đắm:
Anh đến tìm hoa, thì hoa đã nở,
Anh đến bến đò, thì đò đã sang sông.
Cô gái này đã mượn lời ca dao trên đây để biện minh việc nàng phải lấy chồng, không
thể chờ đợi vì chàng trai quá chậm trễ.
Anh đến tìm hoa nhưng hoa đến ngày thì hoa phải nở. Anh đến bến đò nhưng đò đầy
thì phải sang sông. Duyên em đến thì em phải lấy chồng! Biết anh khi nào đến mà đợi!
Anh không thể chê trách nàng được. Nàng cũng không có gì phải nuôi tiếc ân hận!
Bài Trèo lên cây bưởi hái hoa là lời thổ lộ về mối tình tan vỡ, chuyện không thành:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Emđilấy chồng anh tiếc lắm thay!
Ngày trước từng có yêu thầm, nhớ trộm chàng trai, nàng ngỏ lời tráchmóc:
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Một mớ trầu cay chỉ đáng giá ba đồng, vả lại gia đình em đâu có đòi hỏi gì cho cam. Chỉ
khi mộc mạc bộc trực hoặc những thở than oán trách. Đó chính là cái hay, cái đẹp
trong ca dao về tình yêu nam nữ và giao duyên trong kho tàng văn học dân gian Việt
Nam.