VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HOẠT
QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT - HUNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ THU HẰNG
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý giáo dục đạo đức cho sinh
viên Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung” là công trình nghiên cứu
độc lập, các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đích nghiên cứu
trong công trình này được sử dụng đúng quy định, không vi phạm quy chế
bảo mật của nhà nước. Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là đúng
sự thật. Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đào Thị Hoạt
i
1.3. Nội dung quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên đại học ...................... 22
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên đại học
......................................................................................................................... 26
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT - HUNG ...... 29
2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và quá trình tổ chức khảo sát thực trạng
......................................................................................................................... 29
2.2. Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học
Công nghiệp Việt - Hung ................................................................................ 34
2.3. Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại
học Công nghiệp Việt - Hung ......................................................................... 38
2.4. Đánh giá chung ........................................................................................ 45
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
VIỆT - HUNG ................................................................................................ 48
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp ............................................................ 48
3.2. Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại
học Công nghiệp Việt - Hung ......................................................................... 50
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất .................................................. 60
3.4. Khảo sát tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất ...................... 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 65
iii
DANH MỤC TƯ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt
cho sinh viên.................................................................................................... 44
Bảng 3.1.Kết quả khảo sát đánh giá mức độ cấn thiết và mức độ khả thi các
biện pháp ......................................................................................................... 62
Biểu 3.1.Mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải
pháp ................................................................................................................. 63
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, khoa học công nghệ phát triển
như vũ bão như hiện nay việc GDĐĐ cho học sinh, sinh viên càng trở nên
quan trọng. Trong thời kỳ hội nhập nhiều sinh viên có ý thức học hỏi vươn
lên trong quá trình học tập. Bên cạnh những mặt tốt của đại đa số sinh viên thì
một bộ phận sinh viên còn lười học, vi phạm nội quy, quy chế nhà trường,
thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử. Mặt khác nhiều sinh viên
hiện nay đang bị ảnh hưởng bởi rất nhiều những tệ nạn của xã hội như nghiện
hút, tiêm chích, cờ bạc, nghiện rượu đặc biệt là có hiện tượng suy thoái đạo
đức trong lối sống như thiếu ý thức rèn luyện, không nhường nhịn người trẻ,
không tôn trọng người lớn tuổi và có thái độ thờ ơ vô cảm…
Trường Đại học công nghiệp Việt - Hung là trường đào tạo đa hệ, đa
ngành, được hình thành từ năm 1977, trường Công nhân kỹ thuật Hữu nghị
Việt Nam-Hungary được thành lập nhờ sự giúp đỡ to lớn và quý báu của
Hungary. Trường có sứ mệnh đào tạo những lớp thanh niên mới trở thành
những người lao động có kỹ thuật cao, có kỷ luật và tác phong công nghiệp để
xây dựng đất nước sau chiến tranh. Năm 2011, Trường được nâng cấp và đổi
tên thành Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung. Hiện nay với gần 5.000
sinh viên đang theo học tại trường ở nhiều cơ sở khác nhau là một lợi thế
nhưng cũng là khó khăn trong công tác quản lý GDĐĐ cho sinh viên. Thời
người sống có đạo đức. Ông cho rằng: “Nguyên nhân sâu xa của hành vi có
hay không có đạo đức là do nhận thức” [4].
Arixtốt thì xem đạo đức và chính trị là triết học về con người. Đạo đức
là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội. Sau này trên thế
giới có nhiều triết gia, nhiều nhà giáo dục khác bàn về vấn đề đạo đức và giáo
dục đạo đức. Trong đó phải kể đến nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc
2
LAKomenxky (1592-1670). Theo ông : “Việc trau dồi đức hạnh cần phải bắt
đầu từ lúc còn thơ, trước khi tâm hồn bị hoen ố” và “Đức hạnh của người có
thể trau dồi được bằng cách luôn luôn xử sự chân chính”. Trong các phương
pháp giáo dục sinh động của mình, ông đề cao giáo dục động cơ và hành vi
đạo đức [16].
2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, có nhiều tác giả nghiên cứu những vấn đề về đạo đức và
giáo dục đạo đức.
Nguyễn Tiến Độ (2014), Quản lý hoạt động GDĐĐ cho sinh viên các
trường Đại học, Cao đẳng tỉnh Quảng Ninh thời kỳ hội nhập quốc tế, Luận
văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Thái Nguyên, tác giả luận văn đã hệ
thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến quản lý và quản lý giáo dục đạo
đức. Phân tích đánh giá thực trạng, rút ra được những thành công, hạn chế,
các nguyên nhân của những hạn chế. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất 05
nhóm biện pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý GDĐĐ cho sinh viên trên
địa bàn nghiên cứu [7].
Nguyễn Thanh Phú (2014), Quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên
Trường Cao đẳng Sư phạm miền Đông Nam bộ, Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo
dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Tác giả luận án đã nghiên cứu cơ sở
lý luận về quản lý GDĐĐ nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường cao
Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Đứng trên khía cạnh giáo
dục học, tác giả luận án đã chỉ ra những phẩm chất đạo đức cần có của người
sinh viên nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích các
biện pháp giáo dục nhằm tạo ra những đổi mới trong giáo dục dục đạo đức
cho sinh viên sư phạm [31].
Bên cạnh đó, đề tài tham khảo các nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Thị
Thanh Hương (2012), Biện pháp quản lý công tác GDĐĐ cho sinh viên
4
trường cao đẳng công nghệ và kinh doanh Việt Tiến Đà Nẵng, Luận văn Thạc
sĩ, Đại học Đà Nẵng. Tác giả Nguyễn Văn Trung, đề tài luận văn Thạc sỹ
khoa học giáo dục, chuyên ngành Quản lý giáo dục “Công tác quản lý của
Hiệu trưởng trong việc tổ chức GDĐĐ cho học sinh ở các trường THPT
huyện Châu Thành, Đồng Tháp”, năm 2006; Tác giả Lê Quang Tuấn, đề tài
luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành Quản lý giáo dục “Một số
giải pháp công tác quản lý GDĐĐ cho học sinh ở các trường THPT huyện
Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh”, năm 2008; Tác giả Lê Viết Phú, đề tài luận văn Thạc
sỹ khoa học giáo dục, chuyên ngành Quản lý giáo dục “Một số biện pháp
quản lý GDĐĐ cho học sinh ở các trường THPT huyện Kim Bôi - Hòa Bình”,
năm 2010.
Tóm lại, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về
GDĐĐvà quản lý GDĐĐ cho sinh viên. Tuy nhiên, mảng đề tài nghiên cứu
về quản lý GDĐĐ cho sinh viên đặc biệt là sinh viên Trường Đại học Công
nghiệp Việt - Hung vẫn còn quá mỏng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
cũng như chưa thể hiện rõ tính đặc thù của đạo đức sinh viên. Luận văn góp
phần làm dày dặn hơn mảng nghiên cứu này trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư duy quan điểm đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam để tiếp cận có tính hệ thống, biện chứng, logic và lịch sử về các
vấn đề nghiên cứu. Các nguyên tắc tiếp cận: hoạt động - giá trị - nhân cách;
lịch sử - logic; thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Mục đích của phương pháp: luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu
này nhằm mục đích tổng hợp, phân tích tài liệu và văn bản có liên quan đến
quản lý GDĐĐ cho sinh viên
6
Nội dung và cách thức thực hiện: Phương pháp nghiên cứu được sử
dụng nhằm xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu đề tài luận văn. Tác giả tìm
đọc và tổng hợp các tài liệu, văn bản liên quan đến quản lý GDĐĐ cho sinh
viên và các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này. Từ đó phân tích, tổng
hợp, khái quát hoá vấn đề để xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài luận
văn này.
5.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Mục đích của phương pháp: Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích
thu thập kết quả nghiên cứu để phân tích thực trạng quản lý GDĐĐ cho sinh
viên Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung cũng như thực trạng các yếu
tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động này.
- Nội dung của phương pháp: Đề tài luận văn được xây dựng 01 phiếu
điều tra bằng bảng hỏi để nghiên cứu thực trạng quản lý GDĐĐ cho sinh viên
Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung cũng như thực trạng các yếu tố ảnh
hưởng tới quản lý hoạt động này (Cụ thể tại chương 2).
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích của phương pháp: Phương pháp này sẽ được đề tài sử dụng
nghiệp Việt - Hung. Luận văn hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về
GDĐĐ cho sinh viên đại học và quản lý hoạt động GDĐĐ cho sinh viên đại
học, các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động GDĐĐ cho sinh viên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã chỉ ra thực trạng GDĐĐ sinh viên
của Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp
cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý GDĐĐ cho sinh
viên. Kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý
giáo dục, giảng viên, sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục thì luận văn được chia thành 3 chương:
8
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên
đại học
Chương 2: Thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục đạo đức cho sinh
viên Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho
sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm đạo đức và hành vi đạo đức
sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được
trong quá trình học. Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là
họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học.
Trong xã hội, sinh viên là nhóm đặc biệt, họ đang thực hiện tiếp thu các
kiến thức và kỹ năng chuyên môn ở nhà trường để chuẩn bị cho công việc của
họ sau khi ra trường. Bản thân sinh viên cũng có nhiều sự thay đổi về tâm
sinh lý và quan niệm niệm sống khác nhau nên họ có những phẩm chất đạo
đức khác nhau.
1.1.3. Khái niệm giáo dục đạo đức cho sinh viên
GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếu được của quá
trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình bộ phận khác
như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động
hướng nghiệp. GDĐĐ vừa có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận khác
trong quá trình giáo dục tổng thể, lại vừa có vai trò định hướng cho các hoạt
động giáo dục khác và có ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả giáo dục.
GDĐĐ không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật. Nó đòi hỏi nhà
giáo dục vừa phải tuân theo quy luật hình thành phát triển nhân cách vừa phải
tìm và vận dụng khéo léo các biện pháp tác động vào ý thức sinh viên để tổ
chức và quản lý được các hoạt động GDĐĐ một cách có hiệu quả. Vậy,
GDĐĐ là quá trình tác động có chủ đích, có kế hoạch của nhà giáo dục tới đối
tượng của giáo dục thông qua việc thực hiện nội dung giáo dục, sử dụng các
11
phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục nhằm đạt được mục tiêu
giáo dục trong môi trường giáo dục luôn biến động.
Tóm lại, trong luận văn này sử dụng khái niệm GDĐĐ cho sinh viên là
tác động có chủ đích, có kế hoạch của các nhà giáo dục trong trong trường đại
học tới sinh viên thông qua việc thực hiện các nội dung giáo dục, sử dụng các
Căn cứ vào định nghĩa về quản lý và định nghĩa về GDĐĐ có thể đưa ra
khái niệm Quản lý GDĐĐ như sau: Quản lý GDĐĐ là tác động có định hướng,
có kế hoạch của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện
các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo,chỉ đạo, kiểm tra) nhằm
đạt mục tiêu của GDĐĐ trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Đó là quá trình chủ thể quản lí xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch,
vạch ra những phương hướng, tìm biện pháp, huy động các nguồn lực, triển
khai thực hiện, đôn đốc, giám sát điều chỉnh và đưa ra những quyết định sáng
suốt kịp thời nhằm thực hiện được các mục tiêu, đáp ứng được những yêu cầu
của xã hội về chất lượng đạo đức sinh viên.
GDĐĐ cho sinh viên là một lĩnh vực quản lí rất khó khăn, phức tạp đòi
hỏi người quản lí phải có năng lực quản lí vững vàng, toàn diện; khả năng vận
dụng các biện pháp quản lý linh hoạt và phải luôn là tấm gương sáng về đạo
đức nhà giáo cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và sinh viên.
1.2. Hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên
1.2.1. Yêu cầu phải giáo dục đạo đức cho sinh viên đại học
Sinh viên là vốn quý, nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của giáo dục
là hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo
những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân
tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần thực hiện mục tiêu chung cho dân
13
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Sinh viên hiện nay có những ưu điểm căn bản là nhiệt tình cách mạng,
có nhiều ước mơ, hoài bão cao đẹp, muốn làm những công việc ích nước lợi
dân. Họ là bộ phận có trình độ học vấn phổ thông, có vốn nhất định về chính
1.2.2. Mục tiêu giáo dục đạo đức cho sinh viên đại học
Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị
đạo đức biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một
công dân tốt, làm chủ cuộc sống.
Mục tiêu GDĐĐ cho sinh viên nằm trong mục tiêu xây dựng người
Việt Nam mới trong sự đổi mới cách mạng hiện nay. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ X Ban chấp hành TW khoá (07/2004), Đảng ta xác định: “Tiếp tục đặt lên
hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sông và đời sông văn hoá
lành mạnh trong xã hội…” và “Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây
dựng con người Việt Nam theo năm đức tính được xác định trong Nghị quyết
Trung ương 5 (khoá VIII)”.
Mục tiêu giáo dục - đào tạo đã được khẳng định trong Luật giáo dục,
Cụ thể là:
- Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cần thiết về tư tưởng đạo đức
nhân văn, các kiến thức pháp luật, văn hoá - xã hội.
- Hình thành ở mỗi sinh viên thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo
đức trong sáng với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng,
dẫn tới mỗi sinh viên phải nắm được những giá trị đạo đức theo chuẩn mực xã
hội, những giá trị cơ bản phải tuân theo.
- Rèn luyện nhiều hơn để mỗi sinh viên tự giác thực hiện các chuẩn
mực đạo đức xã hội, có ý thức chấp hành những quy định của pháp luật, nỗ
lực học tập rèn luyện; có ý thức tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ cho nhân
dân, đất nước.
15
- Giáo dục lòng yêu tổ quốc Việt Nam XHCN gắn với tinh thần quốc tế
vô sản, lòng yêu lao động và biết quý trọng sản phẩm lao động, lòng yêu khoa
học và những giá trị văn hoá tiến bộ của loài người, đồng thời phải biết phát
thể: Giáo dục tinh thần tập thể XHCH: mình vì mọi người, đặt lợi ích cộng
đồng lên trên lợi ích cá nhân, tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực do tập
thể đề ra, có tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ nhau trong khi thực hiện công
việc chung. Có ý thức xây dựng tập thể, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ; hăng
hái tham gia các hoạt động tập thể có ích cho xã hội. Biết ứng xử hài hoà mối
quan hệ giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân.
(5) Giáo dục thái độ đối với lao động: Quan niệm đúng về lao động,
thấy rõ giá trị, ý nghĩa to lớn của lao động; tin vào sức sáng tạo của con người
và những thành quả to lớn mà lao động đem lại. Tin vào khả năng học tập và
lao động của bản thân, có thái độ kính trọng và luôn biết bảo vệ người lao
động, yêu quý thành quả lao động, có ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ của
cải của cá nhân và của tập thể. Lao động tự giác, cần cù, sáng tạo, bền bỉ,
khoa học, có tổ chức, có kỉ luật và đạt năng xuất cao. Biết lên án, đấu tranh
chống lại sự lười biếng, gian dối, bóc lột sức lao động, phá hoại tài sản, lãng
phí sức lao động và của cải của cá nhân và tập thể.
(6) Giáo dục thái độ đúng đắn đối với môi trường sống: Đối với môi
trường văn hoá: Giáo dục sinh viên ý thức tôn trọng và bảo vệ các giá trị văn
hoá của nhân loại, của dân tộc. Gắn bó và tôn trọng nền nếp sinh hoạt có văn
hoá của cộng đồng nơi cư trú. Tích cực cải tạo và xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh, văn minh. Đoàn kết với cộng đồng, dân tộc và nhân loại vì
hoà bình, công bằng và tiến bộ xã hội. Đối với môi trường tự nhiên: Giáo dục
thái độ, hành vi ứng xử đúng đắn với môi trường xung quanh; giữ gìn, bảo vệ
tài nguyên môi trường và góp phần cải tạo môi trường sống vì sự phát triển
bền vững của con người, của cuộc sống.
17
Những nội dung trên nằm trong hệ thống các phẩm chất đạo đức của
sinh viên. Chúng có mối quan hệ biện chứng, khăng khít với nhau, chi phối
Phương pháp giáo dục rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, trong quá
trình sử dụng nhà giáo dục cần vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp
cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục, với tình huống cụ thể. Đặc
biệt, cần lưu ý:
- Đảm bảo nguyên tắc quá trình giáo dục
- Đảm bảo tính mục tiêu, nội dung giáo dục
- Phối hợp các phương pháp
- Hiểu hoàn cảnh và đặc điểm tâm lý đối tượng.
1.2.5. Hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho sinh viên đại học
(1) Thông qua hoạt động dạy và học các môn trong chương trình đào
tạo của nhà trường.
Hoạt động dạy và học ở trên lóp nhằm cung cấp cho sinh viên hệ thống
tri thức học vấn chuyên ngành đã được đúc kết thành khái niệm, định luật, qui
tắc, phạm trù, phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách
quan. Nhờ được võ trang những tri thức văn hoá đó mà sinh viên ngày nay
càng mở mang trí tuệ, giúp cho quá trình phát triển tư duy ngày một sâu sắc
hơn. Chức năng trội của dạy học là giáo dưỡng, đồng thời phải thực hiện chức
năng giáo dục (theo nghĩa hẹp). Dạy học ở trên lớp nhằm cung cấp cho sinh
viên những tri thức đạo đức: Hiểu biết về đạo đức, về thái độ phải có, về
nghĩa vụ bổn phận phải làm là cần thiết. Đây là khâu quan trọng trong việc
GDĐĐ bằng những hoạt động cơ bản chủ yếu của quá trình giáo dục nói
chung và thông qua các môn học của nhà trường. Từ đó sinh viên có cơ sở để
nhận ra và phân biệt giữa hiện tượng đạo đức và vô đạo đức biểu hiện đa dạng
xung quanh mình hàng ngày, từ đó giúp các em tăng thêm tính tự giác trong
hành vi đạo đức của mình. Bên cạnh việc trang bị tri thức đạo đức, việc dạy
19