VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THIỀU CHÍ NGỌC
QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MƯỜNG NHÉ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số
: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG XUÂN CỪ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
THIỀU CHÍ NGỌC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL
Cán bộ quản lý
CSVC
Cơ sở vật chất
DTTS
Dân tộc thiểu số
GD-ĐT
Giáo dục và đào tạo
GV
Giáo viên
HĐDH
Hoạt động dạy học
HS
Học sinh
Sáng kiến kinh nghiệm
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TPCM
Tổ phó chuyên môn
TTCM
Tổ trưởng chuyên môn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Đánh giá việc thực hiện nội dung môn Vật lí
42
2.7
Mục đích viết SKKN
44
2.8
2.9
2.10
2.11
Thực trạng kết quả học tập môn Vật Lí của học sinh các trường
THPT huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên
Số lượng, chất lượng giáo viên môn ở các trường trung học phổ
thông huyện Mường Nhé Vật Lí năm học 2016-2017
Tổng hợp đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện các biện
pháp quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn
Thực trạng bồi dưỡng chuyên đề giáo viên dạy học môn Vật lý ở
các trường THPT huyện Mường nhé
44
45
45
47
2.12
Biện pháp đảm bảo thực hiện nội dung chương trình
51
2.18
Mức độ chỉ đạo đổi mới KTĐG của CBQL
52
3.1
3.2
Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và khả thi
của các biện pháp quản lý đề xuất
Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp quản lý đề xuất
70
71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu về các quy luật vận động của tự nhiên,
từ thang vi mô (các hạt cấu tạo nên vật chất) cho đến thang vĩ mô (các hành tinh, thiên
hà và vũ trụ). Đối tượng nghiên cứu chính của Vật Lí hiện nay bao gồm vật chất, năng
lượng, không gian và thời gian. Vật Lí còn được xem là ngành khoa học cơ bản bởi vì
các định luật Vật Lí chi phối tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác. Vì vậy, những
hiểu biết và nhận thức về Vật Lí có giá trị to lớn trong đời sống và sản suất, đặc biệt
trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
lớp theo kiểu dạy "chay", không sử dụng thí nghiệm hoặc các phương tiện trực quan
khác. Việc sử dụng phương tiện dạy học còn nặng về mô tả, minh hoạ là chủ yếu. Hình
thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, nội dung bài giảng chưa có tính liên môn. Dạy theo
lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học cá nhân, nhóm, ngoài trời chưa được thực hiện,
hoặc thực hiện chưa có hiệu quả. Trong nhiều giờ học Vật lí, học sinh ít có cơ hội để
tự xây dựng nên kiến thức của mình. Các em ít có điều kiện để suy xét, thảo luận và sử
dụng những ý tưởng nhằm tái sắp xếp cấu trúc những ý tưởng đó thành những ý nghĩa
riêng và “làm chủ” những ý tưởng mà các em xử lí.Trong một số lớp học, học sinh yếu
kém được giao những bài tập như các học sinh khá giỏi, bài tập khó đến mức các em
không đạt được những thành công cần thiết. Cơ sở vật chất phục vụ dạy học và các
phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.
Có thể quan sát thấy trong nhiều giờ học Vật lí học sinh tỏ ra không quan tâm
nhiều đến nội dung bài học, ít chịu trách nhiệm về việc học của bản thân mình và trở
thành người học thụ động. Trong suy nghĩ của nhiều học sinh, kiến thức môn Vật lí
không vận dụng được vào đời sống hàng ngày của các em.
Có thể nói, cách dạy và học Vật lí nêu trên đã làm hại đến việc phát triển trí tuệ
của học sinh, làm cho học sinh mất hết hứng thú khi học môn Vật lí và làm cho việc
dạy học Vật lí trở thành gánh nặng của cả thầy và trò. Đặc biệt việc quản lí đổi mới
dạy học môn Vật lí chưa được quan tâm thích đáng, chỉ đạo thực hiện mang tính chất
hình thức. Vì vậy, tiếp tục đổi mới việc quản lí dạy học Vật lí đang nổi lên như một
trong những vấn đề quan trọng nhất mà cải cách giáo dục bộ môn Vật lí ở trường phổ
thông phải tiếp tục quan tâm giải quyết.
2
Bên cạnh những yếu tố chủ quan trên, còn có những yếu tố khách quan như xu
thế đô thị hóa, tác động của nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của sự bùng nổ công
nghệ thông tin, truyền thông...đang hàng ngày len lỏi vào từng con ngõ, từng ngôi nhà,
từng lớp học...lấy đi thời gian, lấy đi niềm đam mê học hành, tâm trí, thậm chí tiền bạc
ra nhiều tình huống QL giáo dục và QL dạy học trong nhà trường, trong đó tác giả đã
bàn nhiều về phương pháp thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, đặc
biệt là vấn đề phân công trong QL dạy học.
2.1.2. Nghiên cứu trong nước
Trước hết phải nói đến tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về QL giáo dục và
dạy học. Bằng việc vận dụng sáng tạo Triết học Mác – Lênin và kế thừa tinh hoa của
các tư tưởng giáo dục tiên tiến, Người đã để lại cho nền giáo dục cách mạng Việt Nam
những tư tưởng có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận giáo dục và dạy học.
Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lí giáo dục và quản lí trường học chủ yếu
dựa trên nền tảng lý luận giáo dục học.
Trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục hiện nay thì việc yêu cầu đổi mới nội dung,
phương pháp dạy học là việc làm cần thiết và cấp bách. Các nhà nghiên cứu giáo dục
cũng cho ra đời nhiều công trình trong lĩnh vực này: tác giả Phạm Viết Vượng với vấn
đề lấy học sinh làm trung tâm; tác giả Trần Hồng Quân đề cập tới một số vấn đề đổi
mới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Trong các nhà trường phổ thông, HĐDH là hoạt động trọng tâm. Chính vì vậy
cũng có rất nhiều cán bộ quản lí trường THPT trong cả nước tập trung nghiên cứu về
các biện pháp quản lí nhà trường, trong đó có quản lí HĐDH, chẳng hạn như các luận
văn thạc sỹ của các tác giả Đinh Thị Tuyết Mai với đề tài “ Các biện pháp quản lí hoạt
động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT ở tỉnh Thái Nguyên” ( 2002); tác giả
Phạm Hoàng Phương với đề tài “ Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học của
Hiệu trưởng các trường THPT huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây”, Trần Thanh Hải với đề
tài " Những biện pháp quản lý hoạt động của tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng
dạy học ở các trường THPT huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang" (2008), Trần Thị Thanh
Mai với đề tài "Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên tại
các trường THPT huyện Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc" (2005), Trần Xuân Lý với đề tài
"Quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí ở trường các THPT huyện Bình Xuyên, tỉnh
Vĩnh Phúc"(2015), Phạm Trung Kiên với đề tài "Quản lý hoạt động dạy học môn Vật
lí theo hướng tích hợp ở trường THPT Chuyên Thái Bình" (2014), Mai Thị Hồng
THPT.
3.2.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí ở các trường
THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
5
3.2.3. Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Vật lí ở các trường THPT
huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý dạy học môn Vật lí ở các trường THPT huyện Mường Nhé.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý dạy học môn Vật lí ở các trường THPT huyện Mường Nhé,
tỉnh Điện Biên .
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu biện pháp quản lý dạy học bộ môn Vật lí đang được triển
khai và thực hiện ở các trường THPT huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
4.3.2. Giới hạn về không gian nghiên cứu:
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ở các trường THPT trên địa bàn huyện Mường
Nhé, tỉnh Điện Biên.
4.3.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát:
Đề tài tiến hành điều tra lấy ý kiến đánh giá của 7 cán bộ QLGD gồm: 2 Hiệu
trưởng, 5 Phó Hiệu trưởng, 7 giáo viên Vật lí và 372 học sinh thuộc 2 trường THPT
trên địa bàn huyện Mường Nhé về thực trạng dạy học Vật lí và các biện pháp dạy học
môn Vật lí trong các trường THPT tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn đề tài nêu
trên, các phương pháp nghiên cứu sau đây sẽ được sử dụng:
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Vật lí trong các trường
THPT huyện Mường Nhé, Điện Biên
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
Quản lí là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan
được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Thuật ngữ quản lí đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa quản lí từ các góc độ khác nhau:
Theo Đặng Quốc Bảo: “ Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý
đến khách thể QL nhằm đạt mục tiêu chung” . [3, tr 16]
Theo Trần Hồng Quân: “ Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lí ( người quản lí) đến khách thể quản lí ( người bị quản lí) trong tổ chức,
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [27, tr 176]
Từ những cách tiếp cận về quản lí, chúng ta thấy khái niệm quản lí bao giờ
cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm có hai yếu tố: chủ thể quản lí và
khách thể quản lí. Chủ thể quản lí là tác nhân tạo ra các hoạt động, còn khách thể quản
lí là người chịu sự quản lí của chủ thể quản lí. Giữa chủ thể quản lí và khách thể quản
lí phải có chung một mục tiêu và quy trình, dựa vào đó làm căn cứ để chủ thể tạo ra
các tác động. Hai thành phần này có mối quan hệ, tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau.
Tóm lại: ta có thể hiểu quản lí là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể
quản lí lên khách thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội của
hệ thống để đạt được mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường.
1.1.2. Quản lý giáo dục và chức năng quản lý giáo dục
kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch: là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục
và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Khi tiến hành các
chức năng kế hoạch, người quản lý cần hoàn thành nhiệm vụ là xác định đúng các mục
tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết định được các biện pháp có tính khả thi. Chức
năng kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình quản lý, nó có vai trò khởi đầu,
định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý và là cơ sở để huy động
9
tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra
đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị và từng cá nhân.
- Chức năng tổ chức thực hiện: là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực
theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất các mục tiêu đã đề ra.
Chức năng tổ chức là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý nó có vai trò hiện thực
hóa các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt là chức năng tổ chức có khả năng tạo ra sức
mạnh mới của tổ chức, cơ quan đơn vị thậm chí của cả hệ thống nếu việc phân phối,
sắp xếp nguồn nhân lực được khoa học và hợp lý.
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của
những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao. Chức năng chỉ đạo là
chức năng thứ ba trong quá trình quản lý nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để
hiện thực hóa các mục tiêu. Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và
hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả. Thực
chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới
những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và
nhà trường thành nhu cầu của mọi người, trên cơ sở đó mọi người tích cực, tự giác và
mang hết khả năng để làm việc.
- Chức năng kiểm tra: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các
hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức. Chức năng kiểm tra là chức năng cuối cùng
- Tiếp cận dạy học từ góc độ tâm lý học: Dạy học được hiểu là sự biến đổi hợp
lý hoạt động và hành vi của người học trên cơ sở cộng tác hoạt động và hành vi của
người dạy và người học.
- Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: “ Dạy học là quá trình cộng tác
giữa thầy và trò nhằm điều khiển- truyền đạt và tự điều khiển- lĩnh hội tri thức nhân
loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục”. [16, tr 51]
1.1.3.2. Trường trung học phổ thông
Trường THPT là cơ sở giáo dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung
học của hệ thống giáo dục quốc dân. Cấp THPT gồm 3 năm học từ lớp 10 đến lớp 12.
Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp
phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực. Do đó trường THPT có mục tiêu,
nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện, với những đặc
thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ:
11
- Hoàn chỉnh học vấn phổ thông nhằm phát triển nhân cách người lao động mới
năng động, sáng tạo. Tích cực chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động sản
xuất, làm nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Chuẩn bị cho học sinh cơ sở để học tiếp lên, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
và nhân tài cho đất nước.
1.1.3.3. Quản lý hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, đóng vai trò chủ đạo
trong quá trình dạy học, người lãnh đạo tổ chức và điều khiển quá trình sư phạm tổng
thể là ĐNGV. Cho nên, quản lý tốt hoạt động dạy và học trong nhà trường có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng sản phẩm giáo dục.
Quản lý hoạt động dạy và học phải đồng thời quản lý hoạt động dạy của giáo viên
và quản lý hoạt động học của HS. Yêu cầu của quản lý dạy học là phải quản lý các
thành tố của quá trình dạy học, trước hết các thành tố đó sẽ phát huy tác dụng thông
của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất
tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng
bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến
khích học tập suốt đời. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9)
có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở;
trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ
thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt
buộc 9 năm từ sau năm 2020. Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ
tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
1.1.4.2. Đổi mới dạy và học ở trường THPT trong bối cảnh hiện nay
Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới Giáo dục – Đào tạo đang được định hướng
theo hướng tiếp cận năng lực và hội nhập
* Hội nhập nhưng phải phù hợp với tình hình giáo dục thực tế ở Việt Nam
Các quan điểm chỉ đạo đổi mới hiện nay tập trung vào các nội dung trọng điểm
như: Tiếp tục thực hiện tốt các quan điểm phát triển giáo dục đã được đề ra trong các
13
Nghị quyết của Đảng; chuyển từ một nền giáo dục chủ yếu là truyền thụ kiến thức
sang phát triển phẩm chất và năng lực người học; Đổi mới theo hướng xây dựng một
nền giáo dục mở, học tập suốt đời, phát triển giáo dục điện tử, chuyển từ giáo dục
"đóng khung", "khép kín" sang nền giáo dục mở về nghề nghiệp, chương trình, nôi
dung, thời gian học, chọn thầy, chọn sách, loại hình đào tạo...
* Dạy và học tiếp cận theo năng lực
ngày 05/5/2013].
1.2. Dạy học môn Vật lí trong nhà trường trung học phổ thông
1.2.1. Vị trí, vai trò môn Vật lí trong chương trình giáo dục trung học phổ thông
Vật Lí là môn khoa học mà khi học tốt môn này sẽ giúp các em có tư duy tốt
hơn để học tập các môn khác, là cơ sở để các em có hứng thú trong học tập.
Môn Vật Lí có vai trò rất quan trọng, là môn học nghiên cứu những hiện tượng
xảy ra trong đời sống và có rất nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống hằng ngày,
giúp các em làm quen với các kiến thức mới, góp phần vào việc nâng cao sự hiểu biết của
học sinh về các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên và cung cấp những kiến thức cơ bản giúp
các em hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng cách khoa học, linh hoạt và giải thích
được một số hiện tượng trong cuộc sống như : bằng kinh nghiệm cá nhân ông bà có thể
rót nước vào phích (bình thuỷ) dù không nhìn thấy mực nước trong bình thuỷ vẫn biết
được nước đầy hay chưa, dùng kiến thức Vật Lí các em có thể dễ dàng giải thích được
hiện tượng này cách khoa học, hay giải thích sự tạo thành mưa trong tự nhiên.
14
Bên cạnh đó, Vật Lí là môn khoa học tự nhiên, rất quan trọng trong thực tế, nó
có ứng dụng vô cùng quan trọng trong các ngành kinh tế chủ chốt của các quốc gia, là
cơ sở của các ngành công nghiệp như: chế tạo máy, điện, hạt nhân . Thông qua giáo
dục trong nhà trường để các em có sự hiểu biết ban đầu về khoa học, vai trò của môn
Vật Lí là rất quan trọng, vì nó giúp các em làm quen với các kiến thức mới, mở rộng
sự hiểu biết của mình, để giải thích một số hiện tượng xẩy ra trong thực tế từ đó hình
thành niềm tin về môn học và tư duy học tốt các môn học khác như: Toán học, sinh
học, địa lí, công nghệ…
1.2.2. Chương trình Vật lí ở trường trung học phổ thông
1.2.2.1. Mục tiêu dạy học môn Vật lí
Mục tiêu tổng quát của dạy học vật lí ở trường phổ thông là góp phần thực hiện
mục tiêu của giáo dục phổ thông. Theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày
trình vật lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra.
Vận dụng được kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí,
giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở
mức độ phổ thông.
Sử dụng được các thuật ngữ vật lí, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính
xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin.
-
Về thái độ:
Có hứng thú học Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng
góp của Vật lí cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học.
Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác và có
tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, cũng như trong việc áp dụng các hiểu
biết đã đạt được.
Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện
sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên.
Có thế giới quan, nhân sinh quan, tư duy khoa học và những phẩm chất, năng lực
theo mục tiêu của giáo dục phổ thông.
1.2.2.2. Nội dung dạy học môn Vật lí THPT
Chương trình THPT là chương trình đồng tâm, được thể hiện ở hai loại là
chương trình chuẩn và chương trình nâng cao. Nội dung và thời lượng của hai loại của
chương trình này được thể hiện ở bảng dưới đây:
Tiết
Lớp
Nội dung chương trình Vật lí THPT
Chương chình
cơ bản
40
30
56
49
16
1.2.2.3. Phương pháp dạy học môn Vật lí
- Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới PPDH là:
+ Bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình (căn cứ chuẩn của
chương trình cấp THPT và đối chiếu với hướng dẫn thực hiện của Bộ GDĐT);
+ Phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập của HS và vai trò chủ đạo của
giáo viên;
+ Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của giáo viên và học
sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải
(nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy
nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc không nắm
vững bản chất;
+ Sử dụng hợp lý SGK khi giảng bài trên lớp, tránh tình trạng yêu cầu học sinh
ghi chép quá nhiều theo lối đọc - chép;
+ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, khuyến khích sử dụng
hợp lý công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, thực hiện đầy đủ thí
nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học;
+ Giáo viên sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác
phong thân thiện, khuyến khích, động viên học sinh học tập, tổ chức hợp lý cho HS
làm việc cá nhân và theo nhóm;
+ Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học
- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với đặc trưng nội dung, chương trình của môn
Vật lí.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh phải căn cứ vào
điều kiện cụ thể về đối tượng học sinh, về CSVC, PTDH.
- Kết quả học tập của học sinh phải được thể hiện ở các mức độ nhận thức
(nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá) của học sinh đạt
được qua bài làm.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Vật lí của học sinh phải dựa trên mức
độ tối thiểu (chuẩn) cần đạt theo mục tiêu môn Vật lí về kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ
bản được cụ thể hoá trong môn Vật lí.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Vật lí phải thực hiện một cách nghiêm
túc, đảm bảo tính công bằng, khách quan chính xác và toàn diện đúng theo nguyên tắc
đánh giá xếp loại của Bộ GD - ĐT quy định.
18
1.3. Quản lý dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông
1.3.1. Quản lý hoạt động giảng dạy môn Vật lí
Ở trường THPT, quản lý hoạt động giảng dạy môn Vật lí được thực hiện qua
các nội dung cơ bản sau:
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học
Mục tiêu chung bộ môn Vật lí ở trường THPT do Bộ GD-ĐT ban hành việc xác
định các bước đi để đạt được mục tiêu, xác định các nguồn lực (nhân lực, vật lực) và
các biện pháp để đạt tới mục tiêu là chức năng của các cơ sở giáo dục. Để vạch ra
được mục tiêu và xác định được bước đi cần có khả năng dự báo, tức là đòi hỏi nhà
quản lý phải có khả năng lường trước sự phát triển của các sự vật. Vì thế, trong chức
năng hoạch định bao gồm cả chức năng dự báo.
Bản kế hoạch năm học của bộ môn phải được sự thống nhất cao trong tổ bộ
môn nhà trường. Đó chính là nội dung cơ bản của quá trình quản lý, vì thế giai đoạn
phổ thông, toàn diện, tính khoa học, đại chúng, yêu cầu về tính phân hoá nhằm đảm
bảo sự tiếp cận bình đẳng giữa các trình độ nhận thức khác nhau của học sinh... Do đó
quản lý thực hiện nội dung chương trình, bên cạnh trọng tâm là quản lý tiến độ chương
trình dạy học, các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của chương trình được đảm
bảo thì các yếu tố như điều kiện thực hiện chương trình, khả năng hấp thụ chương
trình... cần được chú ý xem xét nhằm lượng hoá được khả năng thực hiện các yêu cầu
trong giáo dục môn Vật lí. Từ đó có các kiến nghị hay điều chỉnh phương pháp , cách
thức thực hiện nội dung chương trình.
- Quản lý đổi mới phương pháp trong dạy học môn Vật lí.
Hiệu trưởng chỉ đạo trưởng bộ môn nâng cao nhận thức cho giáo viên Vật Lý
về đổi mới phương pháp dạy học Vật lý để họ có nhận thức đúng trên cơ sở đó trang bị
cho giáo viên những phương pháp dạy học hiện đại, giúp giáo viên thay đổi cách dạy
và thay đổi cách học của học sinh từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật Lý.
Trong dạy học Vật Lý Hiệu trưởng cần chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo
viên tăng cường thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Vật lý theo hướng dạy học
giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học thông qua thực hành, thí nghiệm,
phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học Vật lý vv..
- Quản lý sử dụng phương tiện dạy học môn Vật lí.
Xác đinh các nguồn lực đảm bảo cho việc đầu tư tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ dạy học Vật lý với các hoạt động thực hành, thí nghiệm tại trường.
20