A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang
tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại
hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi trao
đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự
phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ... trên
cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
Người ta cho rằng các ngân hàng về hình thức là những công ty tài chính
và nó giống với bất kỳ công ty tài chính nào khác. Việc tồn tại của ngân hàng
thương mại nhằm vào mục đích hình thành các yếu tố kích thích tiết kiệm trong
phạm vi nền kinh tế và bản thân nó luôn hướng vào mục đích lợi nhuận. Để đạt
được mục địch, thì khi ngân hàng cung cấp các dịch vụ sẽ đều thu phí dịch vụ
như một phần lợi nhuận. Trong đó, việc phát hành và sử dụng thẻ ATM của các
ngân hàng thương mại là vấn đề đáng được quan tâm. Hiện nay, cũng đã có
nhiều văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề này. Để tìm hiểu rõ hơn, em xin chọn đề
tài:” Tìm hiểu việc thu phí dịch vụ trong việc phát hành và sử dụng thẻ ATM
của các ngân hàng thương mại theo quy định pháp luật và nêu ý kiến pháp lý
khi nghiên cứu thực tiễn áp dụng?” Làm đề tài cho bài tiểu luận.
B. NỘI DUNG
1. Hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm hoạt động dịch vụ ngân hàng
Hiện nay tại mỗi quốc gia lại có cách hiểu khác nhau về dịch vụ mà chưa
có sự thống nhất về định nghĩa. Hiệp định chung về thương mại của Tổ chức
thương mại Thế giới cũng không nêu rõ về định nghĩa dịch vụ mà thay vào đó
chia thành 12 ngành lớn.
Nói đến dịch vụ ngân hàng người ta thường gắn nó với hai đặc điểm:
Thứ nhất: Đó là các dịch vụ chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của nó mới
1.2.1. Dịch vụ tín dụng
Ngân hàng làm chức năng trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối giữa
người thừa vốn và người thiếu vốn”. Nói cách khác, ngân hàng sau khi huy động
được các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế sẽ hình thành nên quỹ
cho vay của ngân hàng và sẽ sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ
thể trong nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Với chức năng này ngân
hàng đóng vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Hay nói cách khác,
nghiệp vụ tín dụng ngân hàng của Ngân hàng thương mại đi vay là để cho vay.
Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ
trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sở dĩ không phải là một tổ chức nào khác
trong nền kinh tế mà lại là ngân hàng đứng ra thực hiện chức năng này vì ngân
hành là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, họ có đầy đủ kinh
nghiệm và sự hiểu biết về tình hình cung cầu tín dụng trong nền kinh tế do vậy
họ có thể khắc phục được những khiếm khuyết của thị trường tài chính đó là sự
không khớp nhịp giữa cung cầu tín dụng về thời hạn và số lượng tức là thông qua
việc thu hút tiền gửi với một số lượng lớn ngân hàng có thể giải quyết mối quan
hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối lượng vốn cho vay và thời gian cho vay .
Điển hình là dịch vụ thẻ ngân hàng. Thẻ ngân hàng là một công cụ thanh
toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho các đơn vị và cá nhân để họ sử
dụng trong thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt, nạp tiền,
chuyển khoản…thông qua hệ thống ATM, POS của ngân hàng.
Thanh toán thông qua POS là hình thức thanh toán không dung tiền mặt
bằng cách sử dụng giao tiếp giữa thiết bị đọc thẻ với thẻ ngân hàng. Qua đó hệ
thống tự động trích tiền từ tài khoản của người mua trả cho người bán tức thời.
Về hình thức,thẻ thanh toán có nhiều loại khác nhau, trước mắt ở nước ta
phát hành và sử dụng hai loại thẻ sau:
-Thẻ thanh toán( còn gọi là thẻATM): thẻ thanh toán áp dụng rộng rãi cho mọi
khách hàng trong nước và ngoài nước với điều kiện là khách hàng phải mở tài
nâng cao uy tín của mình đối với các đối tác bên ngoài.
1.2.3. Dịch vụ ngoại hối
Cung ứng dịch vụ ngoại hối là hoạt động cần thiết trong đời sống kinh tếxã hội nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ngoại hối đa dạng của tổ chức, cá nhân
trong hoạt động dân sự và thương mại. Ở Việt Nam, cung ứng dịch vụ ngoại hối
có thể thực hiện bởi ngân hàng thương mại. Để cung ứng dịch vụ ngoại hối đến
tay khách hàng với chất lượng tốt nhất, các ngân hàng phải kí kết và thực hiện
các hợp đồng dịch vụ ngoại hối. Hợp đồng này có thể do từng ngân hàng quy
định mẫu hoặc tuân theo mẫu chung về hợp đồng do Hiệp hội ngân hàng quy
định.
Theo quy định hiện hành, khi đáp ứng các điều kiện do ngân hàng nhà
nước quy định, các ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ ngoại hối
sau:
- Cung cấp các giao dịch hối đoái dưới hình thức giao dịch giao ngay, giao
dịch kỳ hạn, giao dịch hoán đổi, giao dịch quyền lựa chọn, giao dịch hợp đồng
tương lai và các giao dịch hối đoái khác theo thông lệ quốc tế.
- Huy động vốn, cho vay và bảo lãnh bằng ngoại tệ dưới các hình thức
theo quy định của pháp luật,
- Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền, thanh toán trong nước và quốc tế cho
người cứ trú và không cư trú, thực hiện các nghiệp vụ nhận và chi trả ngoại tệ,
- Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ,
-…..
Trong quá trình cung cấp dịch vụ ngoại hối, mỗi ngân hàng phải niêm yết
công khai bằng giá dịch vụ ngoại hối tại hội sở chính hoặc văn phòng giao dịch
của chi nhánh, sở giao dịch để khách hàng tham khảo. Việc dành cho khách hàng
lựa chọn tốt nhất về giá cả và chất lượng dịch vụ ngoại hối chính là cách để mỗi
ngân hàng nâng cao uý tín và khẳng định thương hiệu của mình trên thương
trường.
1.2.4. Một số dịch vụ khác
được quyền ấn định và niêm yết mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Ngân hàng và khách hàng có thể thỏa thuận về mức phí
theo quy định về pháp luật. Trong trường hợp
hoạt động ngân hàng có diễn
biến bất thường, để đảm bảo an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng, Ngân hàng
nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí trong hoạt động kinh doanh.
Nội dung này được quy định tại Điều 91, Luật tổ chức tín dụng năm 2010.
Việc thu phí dịch vụ của ngân hàng thương mại thì tuỳ vào loại hình dịch
vụ của ngân hàng lại có những văn bản pháp lý quy định riêng sao cho phù hợp.
Thứ nhất đối với dịch vụ cấp tín dụng:
Điển hình là dịch vụ thẻ ATM: Kể từ ngày 1/3/2013, Thông tư số
35/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quy định về phí
dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa có hiệu lực thi hành. Ngoài phí rút tiền ngoại mạng thì
chủ thẻ gánh thêm hàng loạt phí khác như phí rút tiền nội mạng (rút tại chính
máy ATM của ngân hàng phát hành thẻ), phí chuyển khoản...Trong giai đoạn
hiện nay, mục đích của việc thu phí đối với giao dịch ATM rút tiền nội mạng
không nhằm bù đắp, thu hồi toàn bộ chi phí giao dịch mà chỉ giúp các ngân hàng
cân đối một phần chi phí bỏ ra, dung hòa lợi ích giữa khách hàng với ngân hàng,
hướng đến sự phát triển bền vững của dịch vụ ATM...về cơ sở pháp lý và thực
tiễn thì việc thu phí ATM là cần thiết và đã được quy định theo lộ trình cụ thể, có
sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng nhà nước.
Thứ hai đối với dịch vụ thanh toán:
Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt của Chính
phủ,tại điều 17 có quy định: “1. Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và tổ chức
cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán ấn định và phải niêm yết công khai các
mức phí cung ứng dịch vụ.
Hay đối với dịch vụ bảo hiểm ngày 02/7/2014, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà
nước đã ban hành Thông tư liên tịch số 86/2014/TTLT-BTC-NHNNVN (Thông
tư 86) hướng dẫn hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Thông tư 86 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/ 9 /2014. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên hướng dẫn toàn
diện hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ của tổ chức tín dụng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài với tư cách là đại lý bảo hiểm cho các doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ, theo đó có nội dung quy định về phí dịch vụ: “ Thu
phí bảo hiểm: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thu hộ các
khoản phí bảo hiểm từ khách hàng và chuyển lại cho doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ theo thỏa thuận tại hợp đồng đại lý bảo hiểm”….
Tóm lại, việc thu phí dịch vụ của ngân hàng thương mại thì tuỳ vào loại
hình dịch vụ mà pháp luật sẽ có những quy định riêng, có những loại hình mà
pháp luật cho thu phí, có loại hình lại không cho thu phí. Nếu được thu phí dịch
vụ, thì lại có cái ngân hàng ấn định giá, có cái thì tự ngân hàng với khách hàng
sẽ thoả thuận với nhau cho phù hợp…
3. Thực tiễn việc thu phí dịch vụ trong việc phát hành và sử dụng thẻ ATM
của accs ngân ahfng thương mại
Thực tế mỗi ngân hàng lại có những chính sách về thu phí dịch vụ khác
nhau để thu hút khách hàng. Một số ngân hàng miễn phí dịch vụ này nhưng lại
thu phí dịch vụ khác, cũng có ngân hàng lại thu phí cao hơn với bình quân với lý
do là tự cho có chất lượng phục vụ tốt.
Tuy nhiên, theo các phân tích trên chúng ta thấy rằng thu nhập từ các dịch
vụ ngân hàng hiện đại của các Ngân hàng thương mại đã tăng qua các năm
nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nhập của ngân hàng . Và trên
thực tế thời gian vừa qua, trong khi các Ngân hàng thương mại Việt Nam lao vào
cuộc đua lãi suất cho vay, giảm điều kiện các tài sản đảm bảo tín dụng thì từ lâu,
ở phạm vi toàn cầu, các ngân hàng nước ngoài đã lấy chất lượng dịch vụ và sự đa
nhưng vẫn đang nằm trong nhóm thấp trong hệ thống, Vietcombank là 200.000
đồng, BIDV là 200.000- 4000.000 đồng. Không chỉ phí thường niên, lãi suất vay
của các ngân hàng này cũng thuộc dạng thấp, tại Vietcombank là 18%/ năm ( tức
1,5%/tháng), BIDV là 1,25-1,5%/ tháng .
Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại tư nhân hay ngân hàng nước
ngoài lại thu phí cao hơn khá nhiều...Thẻ tín dụng của HSBC có mức lãi suất từ
2,2 – 2,6%/tháng, phí thường niên cũng tùy loại, từ 350.000 đồng đối với thẻ
chuẩn và 1,2 triệu đồng cho thẻ Bạch kim. ANZ cũng thu phí từ 350 nghìn đồng
trở lên, cùng lãi suất quá hạn từ 2,7%/tháng. Citibank đang là ngân hàng có các
mức phí cao nhất, phí thường niên của ngân hàng này lên đến 800.000 đồng – 1,
5 triệu đồng; lãi suất 2,15-2,5% /tháng.
4. Ý kiến pháp lý khi nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc thu phí dịch vụ
trong việc phát hành và sử dụng thẻ ATM của các ngân hàng thương mại
Nhận thức về xu thế của sự phát triển dịch vụ trong hoạt động ngân hàng
hiện đại nên nhiều ngân hàng thương mại đã và đang đầu tư công nghệ hiện đại,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh các hoạt động Marketing ... nâng
cao và hoàn thiện chất lượng sản phẩm theo chuẩn mực quốc tế nhưng có sự
tương thích với thực tế thị trường Việt Nam. Bên cạnh đó có sự sắp xếp lại cơ
cấu tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ quản trị điều hành, mở
rộng mạng lưới giao dịch ... gắn với cơ chế lương để phát triển mạnh kinh doanh
dịch vụ. Các ngân hàng thương mại đã chủ động hình thành phong cách chủ
động đến với khách hàng, tạo ra nhu cầu sử dụng dịch vụ để thu hút khách hàng,
đặc biệt là trong dịch vụ ngoại hối, phát hành thẻ tín dụng, thẻ ATM, dịch vụ trả
lương tự động ... Nhiều ngân hàng đã đề ra chiến lược tiếp cận và cung cấp trọn
gói tất cả các dịch vụ đối với một khách hàng, một doanh nghiệp giao dịch thay
vì cung cấp những dịch vụ đơn lẻ theo nhu cầu của khách hàng như trước đây.
Đang có sự đầu tư và cạnh tranh giữa các ngân hàng về các sản phẩm mới trên
mại cần có nhưng chiến lược phù hợp để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của
mình để thu được lợi nhuận cao, góp phần phát triển vào kinh tế đất nước
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đại học luật Hà Nội, Giao trình luật ngân hàng, NXB.CAND, 2015.
2 Luật tổ chức tín dụng năm 2010
3 Luật phí và lệ phí năm 2015
4 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số diều của
Pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của pháp
lệnh ngoại hối
5 Thông tư số 15/2015/TT-NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị
trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối
của ngân hàng nhà nước
6 Thông tư số 30/2014/TT-NHNN quy định về uỷ thác và nhận uỷ thác của
tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
7 Thông tư số 17/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động môi giới tiền tệ
của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
8 Thông tư liên tịch số 86/2014/TTLT-BTC-NHNNVN (Thông tư 86) hướng
dẫn hoạt động đại lý bảo hiểm của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ