Dạng bị động trong tiếng pháp và những phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng việt (tt) - Pdf 45

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************

ĐINH HỒNG VÂN

DẠNG BỊ ĐỘNG TRONG TIẾNG PHÁP
VÀ NHỮNG PHƢƠNG THỨC BIỂU ĐẠT
TƢƠNG ĐƢƠNG TRONG TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ : 5.04.08 (62.22.01.01)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học : GS. TS. ĐINH VĂN ĐỨC

Hà Nội - 2006
MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................ 6
PHẦN MỞ ĐẦU : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................ 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................6
2. Mục đích của luận án .....................................................................................................8
3. Đối tượng và nội dung nghiên cứu ................................................................................. 9
4. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................................9
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................10
6. Phương pháp và tư liệu nghiên cứu.............................................................................. 11
7. Bố cục của luận án .......................................................................................................11
CHƢƠNG 1 : NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .............. 14

defined.
2.1.1.1. Vấn đề hình thái học động từ bị động ......... Error! Bookmark not defined.
2.1.1.2. Sự hoán đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ của động từError! Bookmark not
defined.
2.1.1.3. Vấn đề bổ ngữ chỉ tác nhân......................... Error! Bookmark not defined.
2.1.1.4. Sự lựa chọn giới từ dẫn nhập bổ ngữ chỉ tác nhânError! Bookmark not defined.
2.1.1.5. Động từ có hai bổ ngữ................................. Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Các kiểu cấu trúc bị động có mặt trong ngữ liệu Error! Bookmark not defined.
2.1.2.1. Những cấu trúc bị động cơ bản trong tiếng PhápError! Bookmark not defined.
2.1.2.2. Các cấu trúc khác thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng PhápError! Bookmark
not defined.
2.1.2.3. Dạng bị động đầy đủ và dạng bị động khuyết thiếu .. Error! Bookmark not
defined.
2.1.3. Tần số sử dụng dạng bị động trong các dạng văn bản tiếng PhápError! Bookmark
not defined.
2.1.3.1. Tần số sử dụng dạng bị động trong phong cách văn chươngError! Bookmark
not defined.
2.1.3.2. Tần số sử dụng dạng bị động trong phong cách hành chính công vụ ..Error!
Bookmark not defined.
2.1.3.3. Tần số sử dụng dạng bị động trong phong cách khoa học và báo chí công luận
.................................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.1.3.4. Tần số sử dụng dạng bị động trong phong cách sinh hoạt hàng ngày .Error!
Bookmark not defined.
2.2. Dạng bị động nhìn từ phương diện ngữ nghĩa .......... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Một số nhận xét.................................................. Error! Bookmark not defined.
2.2.1.1. Vấn đề đồng nghĩa giữa câu bị động và câu chủ độngError! Bookmark not
defined.
2.2.1.2. Vấn đề "hành động phải chịu đựng"........... Error! Bookmark not defined.
2.2.1.3. Bị thể bị biến đổi ......................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Những ràng buộc về mặt ngữ nghĩa của dạng bị độngError! Bookmark not defined.

3.2. Bàn luận .................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Những nét tương đồng giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động
của tiếng Việt ............................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1.1. Về mặt hình thức ......................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1.2. Về mặt chức năng và ý nghĩa ...................... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động của
tiếng Việt ...................................................................... Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết............................................................................. Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG 4 : MỘT KHẢO SÁT VỀ VIỆC SỬ DỤNG DẠNG BỊ ĐỘNG Ở NGƢỜI VIỆT
NAM HỌC TIẾNG PHÁP .................................................... Error! Bookmark not defined.
4.1. Đặt vấn đề ................................................................. Error! Bookmark not defined.
4.1.1. Đối tượng khảo sát ............................................. Error! Bookmark not defined.
4.1.2. Mục đích ............................................................ Error! Bookmark not defined.
4.1.3. Phương pháp ...................................................... Error! Bookmark not defined.
4.1.4. Một số kết quả khảo sát ..................................... Error! Bookmark not defined.
4.1.4.1. Dịch ngôn ngữ hành chính công vụ ............ Error! Bookmark not defined.
4.1.4.2. Dịch ngôn ngữ văn học ............................... Error! Bookmark not defined.
4.1.4.3. Dịch ngôn ngữ báo chí-công luận ............... Error! Bookmark not defined.
4.2. Bàn luận .................................................................... Error! Bookmark not defined.
4.2.1. Một số lỗi đã gặp trong cách sử dụng dạng bị độngError! Bookmark not defined.
4.2.2. Nguyên nhân mắc lỗi trong cách sử dụng dạng bị động ... Error! Bookmark not
defined.
4.2.3. Một số gợi ý về hướng giải quyết ...................... Error! Bookmark not defined.
4.2.3.1. Điều chỉnh cách dạy dạng bị động tiếng PhápError! Bookmark not defined.
4.2.3.2. Tăng cường so sánh đối chiếu giữa tiếng Pháp và tiếng Việt.Error! Bookmark
not defined.


4.2.3.3. Xác định rõ yêu cầu về tính trung thành trong dịch thuậtError! Bookmark not
defined.

Cấu trúc bị động
Giới từ
Giới từ DE + danh ngữ
Động từ être + phân từ quá khứ
Cấu trúc bị động tiếng Pháp
Danh từ + động từ nguyên thể
Người dịch
Câu
Giới từ PAR + danh ngữ
phân từ quá khứ bị động
Mệnh đề bị động
Danh ngữ
Danh ngữ tác thể
Danh ngữ đích thể
Tổng số
Verbe, động từ
Cấu trúc bị động tiếng Việt

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ các cấu trúc bị động trong ngữ liệu ............... Error! Bookmark not defined.
Bảng 2 : Tỷ lệ các cấu trúc bị động trong tác phẩm Miếng da lừaError! Bookmark not defined.
Bảng 3 : Cấu trúc bị động trong Hiến pháp CH Pháp 1958 Error! Bookmark not defined.
Bảng 4: Tỷ lệ câu bị động tiếng Pháp trong các bài báo và báo cáo khoa họcError! Bookmark
not defined.
Bảng 5 : Tỷ lệ câu bị động trong ngôn ngữ nói ................... Error! Bookmark not defined.
Bảng 6 : Tỷ lệ các cấu trúc bị động trong các bài báo và các báo cáo khoa họcError! Bookmark
not defined.
Bảng 7 : Tần số của dạng bị động trong phong cách sinh hoạt hàng ngàyError! Bookmark not
defined.
Bảng 8 : Tỷ lệ cấu trúc bị động trong ngữ liệu tiếng Việt ... Error! Bookmark not defined.

Trong tiếng Pháp, dạng bị động là một phương tiện biểu đạt xuất hiện muộn hơn,
chủ yếu là trong văn viết và ở một số phong cách nhất định. Việc nghiên cứu dạng bị
động tiếng Pháp trong mối liên hệ so sánh với tiếng Việt sẽ cho phép :
-

làm sáng tỏ một số vấn đề về cách ứng xử của người Pháp.

-

việc tìm hiểu về lối nói tiếp thụ-bị động ở tiếng Việt và có thể cũng sẽ làm sáng tỏ
một số vấn đề ngữ pháp tiếng Việt.

-

Trong tình hình đó, luận án sẽ góp phần vào kho tàng lý luận tiếng Việt : cụ thể là
nguồn gốc và lai lịch của lối nói bị động trong tiếng Việt; vai trò và ảnh hưởng của
tiếng Pháp đối với tiếng Việt trong cách diễn đạt ý nghĩa bị động.


-

Luận án này cũng sẽ góp phần củng cố quan điểm cho rằng cùng một ý nghĩa ngữ
pháp nhưng có thể được biểu đạt bằng những phương thức khác nhau ở các ngôn
ngữ khác nhau.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn
Theo các nhà nghiên cứu, ý nghĩa bị động tồn tại ở hầu hết các ngôn ngữ, sự khác
biệt là ở cách biểu đạt ý nghĩa này. Đối với các ngôn ngữ châu Âu thì dạng bị động là
một hiện tượng quen thuộc, còn ở tiếng Việt thì đây là một hiện tượng ngữ pháp đang
phát triển. Vì vậy, khi học tiếng Pháp, do quen diễn đạt theo lối chủ động, người Việt


amatur

amamus

amamur

amatis

amamini

amant

amantur

Trong khi đó ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh thì lại không có hình thái riêng biệt cho
dạng bị động, dạng này được thể hiện bằng sự kết hợp giữa trợ động từ être, trong tiếng
Pháp, to be, trong tiếng Anh, với phân từ quá khứ. Ví dụ :
-

…, Jacques a surpris le voleur. (Jacques đã bắt gặp tên trộm.)

-

Un voleur a été surpris par la police… (Tên trộm đã bị công an bắt gặp.)

-

Millions of people have read that book. (Hàng triệu người đã đọc cuốc sách này.)




1.1.1.3. Dạng bị động là gì ?
Theo từ điển Le Trésor de la Langue Française [84], Le passif là tập hợp của các
hình thái động từ bị động (L'ensemble des formes verbales passives.). Le passif đã được
dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau : dạng bị động, thái bị động, cấu trúc bị
động hay câu bị động. Trong luận án này, khái niệm le passif sẽ được hiểu theo định
nghĩa trên đây của từ điển Le Trésor de la Langue Française và được dịch theo một trong
những cách nói phổ biến đó là dạng bị động.
Dạng bị động là một hiện tượng ngữ pháp phổ biến ở các ngôn ngữ Ấn-Âu. Song,
có thể nói là mỗi trường phái ngữ pháp đều có cách quan niệm riêng của mình về hiện
tượng ngữ pháp này. Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu xem dạng bị động được quan
niệm như thế nào trong các trường phái ngữ pháp truyền thống, cải biến-tạo sinh, loại
hình học cú pháp, ngữ nghĩa-chức năng.
1.1.2. Dạng bị động trong ngữ pháp truyền thống
Có thể là do chịu ảnh hưởng của cách quan niệm ở các ngôn ngữ như tiếng La-tinh
hoặc Hy-lạp mà các tác giả của ngữ pháp truyền thống thường quan niệm rằng dạng bị
động là một phạm trù hình thái học thuần tuý. G. Mauger [117:199] đã xếp dạng bị động
vào mục chia động từ của tiếng Pháp. Tuy nhiên, ngay cả trong các ngôn ngữ có phạm trù
dạng rõ ràng, khi đề cập đến phạm trù này, các nhà nghiên cứu, ngoài việc phân biệt dạng
chủ động (voix active) với dạng bị động (voix passive) của động từ ra, còn phải nói đến
sự thay đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp của động từ. Cụ thể là trong một câu có
động từ ở dạng chủ động, chủ ngữ của câu đồng thời là chủ thể thực hiện hành động và
bổ ngữ trực tiếp của câu là đối tượng chịu tác động của hành động. Sau đây là ví dụ do
Maurice Grévisse đưa ra trong cuốn Le Bon Usage [100], một trong những cuốn cẩm
nang ngữ pháp tiếng Pháp.

- Un chauffard

a renversé

thể hiện mối quan hệ cú pháp của các thành tố trong câu. Cách quan niệm này của ngữ
pháp truyền thống coi dạng bị động như một phạm trù hình thái học của động từ, chủ yếu
là của động từ ngoại động không hoàn toàn thỏa đáng trên nhiều phương diện. Theo cách
quan niệm này, dạng bị động chỉ có thể được biểu hiện bằng hình thái của động từ, trong
khi đó như ta đã thấy thì dạng bị động còn được thể hiện cả bằng các phương tiện cú
pháp. Mặt khác, cũng theo quan niệm này thì mỗi động từ ngoại động đều có thể tồn tại ở
2 dạng chủ động và bị động. Trong thực tế thì như ở tiếng Pháp chẳng hạn, có nhiều động
từ như avoir, peser, … chỉ có thể tồn tại ở dạng chủ động mà không có dạng bị động
tương ứng :
-

J'ai 20 ans. (Tôi 20 tuổi.)(Là một câu đúng)

-

* 20 ans ont été eus par moi. (*20 tuổi đã có bởi tôi.)(Là một câu đúng ngữ pháp
nhưng không tồn tại trong tiếng Pháp)

-

Je pèse 70 kilos. (Tôi nặng 70 kg.)

-

* 70 kilos ont été pesés par moi. (*70 kg đã cân nặng bởi tôi.)


Mặt khác, ở một số ngôn ngữ, chẳng hạn như trong tiếng La-tinh, có những động
từ chỉ tồn tại ở dạng bị động mà thôi mặc dù chúng có nghĩa chủ động (verbes
déponents):

nạn Irắc đã đến được biên giới Iran.)

-

* La frontière iranienne a été gagnée par 100.000 réfugiés irakiens.

-

Cette grande salle peut contenir 800 personnes.v(Phòng

lớn này có thể chứa tới 800

người.)

-

* 800 personnes peuvent être contenues par cette grande salle.

-

Mais cette affaire regarde ta mère, […].(Vụ này có liên quan đến mẹ con, […] )

-

* Mais ta mère est regardée par cette affaire […].

Sau này, Chomsky có phát triển thêm Lý thuyết chuẩn (Standard Theory, 1965) và
Lý thuyết chuẩn mở rộng (Extended Standard Theory, 1977). Song nhìn chung, các tác
giả của ngữ pháp cải biến-tạo sinh đều cho rằng câu bị động là kết quả của phép cải biến
bị động và đây là một phổ niệm hình thức có ở tất cả các ngôn ngữ; các lý thuyết này vẫn


1.1.5.1. Dạng bị động xét trên phƣơng diện chức năng dụng học
Theo các tác giả của trường phái này (Dixon, 1992, Palmer,1994), việc sử dụng
dạng bị động có những nguyên nhân về dụng học. Trước hết, vì nhiều lý do khác nhau mà
người ta sử dụng dạng bị động để tránh phải nêu chủ thể của hành động (tác thể). Thứ hai
là do người nói muốn tập trung mô tả kết quả của hành động chứ không muốn mô tả quá
trình diễn ra của hành động. Thứ ba là do dạng bị động giúp cho việc thiết lập liên kết


chủ đề. Ngoài ra, dạng bị động còn cho phép nhấn mạnh vào chủ thể hành động khi nó
xuất hiện ở vị trí bổ ngữ chỉ tác nhân.
1.1.5.2. Dạng bị động xét trên phƣơng diện cấu trúc ngữ nghĩa
Xét trên phương diện này, khi thay một cấu trúc chủ động bằng một cấu trúc bị
động thì sẽ có một sự thay đổi về ý nghĩa do có một sự thay đổi của các tham tố ngữ
nghĩa cơ bản là tác thể (tức là chủ thể hành động), bị thể/đích thể (đối tượng chịu sự tác
động của hành động) và động từ. Cụ thể là trong câu bị động, tác thể không nằm ở vị trí
chủ ngữ của câu mà hoặc là nằm ở vị trí bổ ngữ tác nhân hoặc bị tỉnh lược hoàn toàn; bị
thể lên giữ vị trí chủ ngữ; động từ ngoại động của câu chủ động bị biến thành một dạng
mới thể hiện trạng thái.
1.1.5.3. Dạng bị động xét trên phƣơng diện hình thái cú pháp
Xét trên phương diện này, câu bị động có đặc điểm sau: chủ ngữ của câu không
còn biểu hiện tác thể mà biểu hiện bị thể, hay nói cách khác thì tác thể không còn làm chủ
ngữ của câu mà chỉ làm bổ ngữ chỉ tác nhân, nếu có xuất hiện thì thường đi sau một giới
từ (by, par, bởi, …); bị thể lên làm chủ ngữ của câu; động từ thì biến từ hình thái diễn đạt
hành động ngoại động thành hình thái thể hiện trạng thái của bị thể chủ ngữ.

1.2. Những lý luận phổ biến liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày những quan điểm cơ bản và phổ biến nhất
về dạng bị động của tiếng Pháp. Trong số đó có các tác giả thuộc các trường phái ngữ
pháp khác nhau. Có thể nói rằng hầu hết các tác giả đều coi dạng bị động như là kết quả


: Marie est aimée de (ou par) Pierre. (Marie được Pierre yêu.)

Cho đến nay, có ít nhất là năm cách định nghĩa khác nhau về dạng bị động dựa
trên : nghĩa; hình thái; cú pháp; cả nghĩa lẫn hình thái; cả hình thái lẫn cú pháp.
1.2.1. Định nghĩa dựa trên ngữ nghĩa
Theo quan niệm truyền thống, các nhà ngữ pháp thường đối lập dạng chủ động,
khi chủ ngữ thực hiện hành động, với dạng bị động, khi chủ ngữ chịu sự tác động của
hành động. Theo Wagner R. L. et J. Pinchon :"Dạng bị động là dạng có chủ ngữ của
động từ thể hiện đối tượng của hành động (tức là bổ ngữ chỉ đối tượng ở dạng chủ
động).". Và chỉ trong phần chú thích thêm thì các tác giả này mới đề cập đến hình thái
của động từ :
"Lưu ý
Cái mà người ta gọi là dạng bị động được thực hiện về mặt hình thái trong một
ngữ đoạn kiểu : être + dạng tính động từ) (phân từ quá khứ - ND)" [126:246].
Cách định nghĩa này đã bị phê phán từ lâu, vả lại chính các tác giả thuộc trường
phái này cũng đã chỉ ra những hạn chế của nó. H. Bonnard, tác giả của cuốn Grammaire
française des lycées et collèges, [74:147] đã viết :"Cách định nghĩa này đưa ra chỉ để đối
lập các nghĩa khác nhau của bản thân một động từ; không nên cho rằng tất cả mọi động
từ ở dạng chủ động hay phản thân đều có nghĩa như trong định nghĩa trên đây (có nghĩa
là chỉ ra rằng chủ ngữ là chủ thể của hành động – ND). Ai cũng biết rằng rất nhiều động


Trích đoạn Định nghĩa dựa trên hình thái
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status