XÂY DỰNG KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CẢI TẠO THỰC TIỄN
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH THPT
Nguyễn Thanh Bình
Viện Nghiên cứu Sư phạm, ĐHSPHN
Tóm tắt nội dung
Bài viết đề cập đến ý nghĩa của vận dụng Nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễnhay
còn được gọi với tên khác là Nghiên cứukhoa học Sư phạm ứng dụng
(NCKHSPUD) trong việc tìm kiếm biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục KNS
cho HS cũng như phát triển năng lực nghiệp vụ của GV. Từ đó, tác giả xây dựng
kế hoạch NCKHSPUD theo quy trình 7 bước của Dự án Việt-Bỉ:(1)Hiện trạng;
(2)Giải pháp thay thế;(3)Vấn đề nghiên cứu;(4)Thiết kế;(5)Đo lường- thu thập dữ
liệu;(6) Phân tích dữ liệu;(7) Kết quả, đồng thời đảm bảo các đặc điểm của
NCKHSPUD. Kế hoạch này mang tính hướng dẫn kết hợp với gợi ý để GV áp
dụng, thực hành nghiên cứu về biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho HS thông qua
vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng
GDKNS cho học sinh THPT.
Từ khóa: Kế hoạch nghiên cứu tác động cải tạo thực tiễn/ Nghiên cứukhoa
họcSư phạm ứng dụng, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
I.
Đặt vấn đề
Chương trình Hành động Dakar đã yêu cầu mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người
học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống (KNS) phù hợp (mục tiêu 3)
và đánh giá chất lượng giáo dục phải đánh giá KNS của người học ( mục tiêu 6)[5].
Theo đó, từ năm học 2010 – 2011 Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo lồng ghép, tích hợp giáo
dục KNS vào hoạt động dạy học và giáo dục. Nhưng trên thực tế việc thực hiện
giáo dục KNS cho học sinh chưa có kết quả do nhiều nguyên nhân như: (1) Nhận
thức về KNS của GV còn mung lung, chưa phân biệt được KNS và các kỹ năng
động giáo dục KNS của mình để nâng cao hiệu quả hoạt động này. Đồng thời, qua
đó năng lực nghiên cứu và năng lực nghiệp vụ của GV được phát triển.
Kemmis & Mc Taggart(1992) đã phân biệt NCKHSPUD với những hoạt động tác
động thường ngày của GV như sau: (1) Đó không phải là những suy nghĩ thường
ngày của GV về hoạt động dạy học của mình, mà là việc thu thập thông tin, dữ liệu,
bằng chứng một cách hệ thống dựa trên cơ sở hiểu biết về thực trạng;
(2)NCKHSPUD không đơn thuần là giải quyết vấn đề theo nghĩa cố gắng tìm hiểu
cái gì chưa đúng đang diễn ra, mà bao hàm cả đặt vấn đề, thúc đẩy những thay đổi
để cải thiện thực tế; (3)NCKHSPUD không phải là nghiên cứu do người khác thực
hiện mà do chính chủ thể GV thực hiện trên chính hoạt động của mình để giúp nâng
cao hiệu quả công việc đang làm;(4)NCKHSPUD không phải chỉ là một phương
pháp nghiên cứu khoa học được vận dụng vào hoạt động dạy học, mà có nhiều
phương pháp được thực hiện trong đó [4 ].
Qua phỏng vấn 30 GV ở Hà Nội và 50 GV ở Đồng Nai cho thấy, họ chỉ biết đến
tổng kết kinh nghiệm mang nặng tính kinh nghiệm và chủ quan, chưa biết
đến NCKHSPUD[3, tr12]. Trong khuôn khổ bài viết này sẽ gợi ý kế hoạch
NCKHSPUD nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT, vì kế
hoạch NCKHSPUD phản ánh được tất cả các bước của chu trình nghiên cứu.
II. Nội dung nghiên cứu
Khi thiết kế kế hoạch NCKHSPUD GV- người nghiên cứu cần đảm bảo quy trình
các bước và thể hiện các đặc điểm của nghiên cứu sư phạm ứng dụng.Kế hoạch
NCKHSPUD bao gồm các bước cụ thể sau:
1.Hiện trạng
Trong bước này gồm có các hoạt động sau:
a. GV- người nghiên cứu cần xác định được hiện trạng giáo dục KNS hiện nay, ví
dụ:
Giáo dục KNS cho HS còn nhiều bất cập, thể hiện:
+ Tích hợp KNS vào bài học gặp khó khăn. GV ít vận dụng phương pháp, kĩ thuật
Tiềm năng giáo dục KNS của một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực của
Nguyễn Thanh Bình [2 ], …
Tiếp theo GV- người nghiên cứu cần phân tích được những kinh nghiệm và nghiên
cứu trên đã chỉ ra điều gì về biện pháp giáo dục KNS cho HS?
Ví dụ: những nghiên cứu trên cho thấy GDKNS thông qua các môn học ở trên lớp
có thể được thực hiện thông qua hai cách tiếp cận cơ bản: thứ nhất, khai thác nội
dung môn học, lựa chọn những bài học có nội dung gần gũi, giao thoa, gắn với
cuộc sống hàng ngày của đối tượng để GDKNS (GDKNS thông qua cách tiếp cận
gắn với ngữ cảnh cụ thể); thứ hai, khai thác phương pháp, kĩ thuật dạy học, tạo điều
kiện cho học sinh được tương tác, trải nghiệm để GDKNS. Nếu chỉ thực hiện
GDKNS theo con đường thứ nhất, các KNS được giáo dục gắn với các vấn đề cụ
thể, các tình huống cụ thể của cuộc sống hàng ngày thì học sinh sẽ dễ dàng thực
hiện, vận dụng vào cuộc sống, tuy nhiên phạm vi thực hiện GDKNS bị hạn chế.
Nếu chỉ thực hiện GDKNS theo cách tiếp cận thứ hai thì phạm vi thực hiện
GDKNS được mở rộng hơn, hầu hết tất cả các bài học, các môn học đều có thể thực
hiện GDKNS cho học sinh thông qua việc tạo điều kiện cho HS được tương tác,
được hoạt động từ đó tạo điều kiện để người học được rèn luyện các KNS, đặc biệt
là các KNS chung như: KN giao tiếp, KN hợp tác, làm việc tập thể, KN ra quyết
định,... Tuy nhiên nội dung GDKNS bị dàn trải, việc vận dụng các KNS để giải
quyết các vấn đề cụ thể gắn với các tình huống của cuộc sống hàng ngày sẽ không
được sâu sắc. Như vậy, mỗi con đường GDKNS đều có những ưu, nhược điểm
riêng. Do đó, việc GDKNS muốn mang lại hiệu quả cao thì nên thực hiện phối hợp
GDKNS thông qua các môn học ở trên lớp theo cả hai cách tiếp cận: khai thác nội
dung môn học để GDKNS và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
để GDKNS. Đồng thời cần có biện pháp gắn kết việc thực hiện GDKNS ở trên lớp
với việc thực hiện các hành động, việc làm hàng ngày của học sinh.
b. GV- người nghiên cứu cần thiết kế giải pháp thay thế để giải quyết vấn đề. Ví
dụ: Để cải thiện chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT mỗi GV cần phân
soạn giáo án và dạy học.
- Chọn lớp và GV dạy lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Sử dụng 2 lớp nguyên
vẹn trong cùng một khối có sự tương đương để làm nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm
- Mô tả GV và HS trong lớp thực nghiệm và đối chứng ( khách thể /đối tượng tham
gia)
- GV- người nghiên cứu chia sẻ trao đổi kinh nghiệm với GV dạy trong lớp thực
nghiệm để họ phân biệt được KNS với các KN khác và biết khai thác tiềm năng
GDKNS qua nội dung và phương pháp dạy học.
- GV dạy lớp thực nghiệm trao đổi kinh nghiệm khi lập kế hoạch bài dạy để đảm
bảo rằng họ đã lựa chọn vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực chứa
đựng tiềm năng giáo dục KNS một cách phù hợp.
- GV- người nghiên cứu thiết kế kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm
tương đương
+ So sánh kết quả học tập của 2 lớp dựa vào kết quả học kì 1
+ Thiết kế công cụ đo kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng
trình bày ý tưởng ngắn gọn, kĩ năng quản lí thời gian, kĩ năng ra quyết định và giải
quyết vấn đề,… để đo trước và sau thực nghiệm
- Tiến hành thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và dạy bình thường ở đối chứng.
Nhóm
N1
N2
- GV- người nghiên cứu cần nêu rõ:
+ Tác động ở đâu? tác động như thế nào? Ví dụ: Tác động ở lớp thực nghiệm, tác
động bằng cách vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp
với nội dung ở tất cả các môn học và khai thác tiềm năng giáo dục KNS trong các
phương pháp và kĩ thuật dạy học đó.
+Tác động khi nào? kéo dài bao lâu? Ví dụ: Tác động từ đầu học kì 2, kéo dài 3
- Khi chọn 2 lớp tương đương, GV- người nghiên cứu cần lựa chọn phép kiểm
chứng T-test độc lập.
- Tính điểm trung bình về kết quả học tập, về một số KNS, tính độ lệch chuẩn và
giá trị p của phép kiểm chứng T-test. Nếu p