Biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của hiệu trưởng các trường mần non thành phố Hải Phòng - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU
TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC


Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN LÊ
HÀ NỘI – 2011
LỜI CẢM ƠN
4
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BGH : Ban giám hiệu
CBGV : Cán bộ giáo viên
CBGVNV : Cán bộ giáo viên nhân viên
CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Cơ sở vật chất
CSGD : Chăm sóc, giáo dục
GD-ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDMN : Giáo dục mầm non
GD : Giáo dục
GV : Giáo viên

4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG
CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG
MẦM NON 6
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
6
1.2. Một số khái niệm cơ bản
7
1.2.1. Quản lý
7
1.2.2. Quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý trường mầm non
17
1.2.3. Chất lượng, chất lượng giáo dục, chất lượng giáo dục của trường
mầm non

20
1.3. Trường mầm non, hiệu trưởng trường mầm non và vấn đề nâng cao
chất lượng giáo dục của trường mầm non

23
1.3.1. Vị trí, vai trò của trường mầm non
23
1.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường mầm non

thành phố Hải Phòng

53
2.2.1. Công tác kế hoạch
53
2.2.2. Công tác tổ chức
54
2.2.3. Công tác chỉ đạo
55
2.2.4. Công tác kiểm tra, đánh giá
56
2.2.5. Đánh giá thực trạng
57
Tiểu kết Chương 2
58
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG MẦM NON
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 59
3.1. Định hướng và nguyên tắc xây dựng biện pháp
59
3.1.1. Định hướng xây dựng biện pháp
59
3.1.2. Nguyên tắc xây dựng biện pháp
65
3.2. Hệ thống các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng giáo dục của
hiệu trưởng các trường mầm non phố Hải Phòng



7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Trang
Sơ đồ 1.1 : Mô hình quản lý
8
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu
trình quản lý

11
Bảng 2.1: Biến động số lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên
31
Biểu 2.1: Biến động số lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên
32
Bảng 2.2: Tính định mức số trẻ / 01 giáo viên
32
Biểu đồ 2.2: Huy động trẻ
33
Bảng 2.3: Đánh giá số lượng giáo viên so với nhu cầu hiện tại
33
Bảng 2.4: Biến động về trình độ đội ngũ cán bộ giáo viên
35
Biểu đồ 2.3: Biến động về trình độ đội ngũ giáo viên
36
Bảng 2.5: Năng lực chuyên môn của GVMN
37
Bảng 2.6: Nguyên nhân của những khó khăn GVMN thường gặp
38

tiếp tục khẳng định: "Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Sự khẳng định đó nhấn mạnh sức mạnh vĩ
đại không thể thay thế được của GD-ĐT và đặt GD-ĐT trước một thách thức to
lớn trong sự nghiệp phát triển KT-XH của nước ta là tác động vào yếu tố cơ
bản - nguồn lực con người để phát triển kinh tế xã hội.
GDMN là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
của nhân cách con người. Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức
quốc tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của GD cho mọi
người. Đầu tư cho trẻ em hôm nay là đầu tư cho phát triển nguồn lực con
người trong tương lai. Ngày nay giá trị con người ngày càng được nhận thức
đúng và đánh giá một cách toàn diện thì công tác CSGD MN càng mang một
ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về phát triển GDMN còn nhiều bất cập. Sự quan tâm về chính sách đối với
GDMN của chính quyền địa phuơng đã và đang tỏ ra lạc hậu so với nhu cầu
phát triển GDMN và yêu cầu về chất lượng CSGD trẻ. Điều đó thể hiện ở một

2
số khía cạnh sau:
- Nhu cầu cho trẻ đến trường lớp mầm non ngày càng cao trong khi
CSVC, phòng học, trang thiết bị hiện có của GDMN Hải Phòng còn thiếu và
lạc hậu, mới chỉ đáp ứng cho khoảng 70% số trẻ đã huy động ra lớp.
- Tỷ trọng đầu tư cho GDMN hiện nay còn thấp, chiếm khoảng 9%
ngân sách dành cho GD-ĐT (Trong khi Chính phủ yêu cầu tỷ trọng đầu tu cho
GDMN từ ngân sách GD-ĐT chiếm ít nhất là 10% đến năm 2005).
- Chế độ chính sách tiền lương đối với đội ngũ GV không tương xứng
với lao động, không tạo động lực phấn đấu. Nhiều GV trăn trở, âu lo không

3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý chất lượng GD trường mầm non của hiệu trưởng trường mầm
non thành phố Hải Phòng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng GD
tại các trường mầm non thành phố Hải Phòng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý của hiệu trưởng đối với việc nâng
cao chất lượng GD của trường mầm non.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng GD của các
trường mầm non thành phố Hải Phòng từ năm 2006 đến nay.
- Đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất
lượng GD của trường mầm non thành phố Hải Phòng.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng GD của trường mầm non thành phố Hải Phòng sẽ được
nâng cao, đáp ứng với yêu cầu đổi mới GD trong giai đoạn mới nếu được sự
tác động của một hệ thống các biện pháp quản lý khoa học, hợp lý của người
hiệu trưởng về triển khai thực hiện chương trình GD, tăng cường xây dựng
đội ngũ, quản lý tốt CSVC và các vấn đề có liên quan.

4
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chất lượng GD của trường mầm non phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong
phạm vi luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu các biện pháp quản lý của hiệu
trưởng nhằm nâng cao chất lượng CSGD trẻ tại các trường mầm non trên địa
bàn thành phố Hải Phòng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp các
phưong pháp sau:

6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG MẦM NON

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
GD-ĐT là con đường quan trọng nhất của xã hội để phát huy nguồn lực
con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững. Muốn làm
được như vậy GD-ĐT phải luôn chú trọng vấn đề nâng cao chất lượng.
Chất lượng GD của mỗi nhà trường phụ thuộc rất lớn vào vai trò quản lý
của hiệu trưởng vì họ là hạt nhân chủ yếu ứng dụng khoa học quản lý cải tiến các
biện pháp quản lý để thực hiện mục tiêu chất lượng của nhà trường.
Cùng với sự phát triển của khoa học quản lý GD, rất nhiều nhà khoa
học đã đầu tư công sức, trí tuệ để nghiên cứu và tổng kết những vấn đề lý luận
liên quan đến quản lý và nâng cao chất lượng GD. Có thể kể tên một số nhà
khoa học tiêu biểu như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thị
Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Văn Lê, Hồ Sĩ Thế Nhiều công trình
nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của công tác quản lý đối với việc nâng
cao chất lượng GD là: các nhà quản lý GD phải không ngừng cải tiến, nâng
cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách
hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ
thống GD.
GDMN là bậc học nền tảng, là khâu đầu tiên đặt nền móng cho sự hình

thực tiễn.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất

8
của con người, là công việc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống
xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ
những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và
quản lý mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý tùy theo quan điểm và cách tiếp
cận. Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lý là các tác động có
định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản
lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức. Hiện nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa rõ
hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối
đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra" [11, tr.9].
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất của
hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau,
quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá
trình “Lý” gốm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”.
Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ bị
trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát triển của tổ chức
không bền vững. Do vậy người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt,
sao cho trong “Quản” phải có “Lý” và trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho
trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động.
Bản chất của hoạt động quản lý có thể mô hình qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 : Mô hình quản lý

năng chủ yếu của quản lý, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn
chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng
quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu đối với thành tựu
tương lai của tổ chức, chương trình hành động và quyết định cách thức,
phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý
để đạt được mục tiêu đó. Sản phẩm quan trọng của chức năng kế hoạch hóa là
kế hoạch. Có 3 loại kế hoạch: kế hoạch chiến lược, kế hoạch chiến thuật, kế
hoạch tác nghiệp. Kế hoạch hóa giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn
diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận. Việc lập kế
hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo

10
hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức giúp tổ chức sẵn sàng khả năng ứng
phó với sự thay đổi. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra.
Không có kế hoạch sẽ không thể xác định được tổ chức đang vận hành đúng
hướng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu, do đó
kiểm tra trở thành vô căn cứ. Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn
thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó đảm bảo hướng
vào mục tiêu đã định.
- Tổ chức: Tổ chức là việc chuyển hóa những ý tưởng trừu tượng của
kế hoạch thành hiện thực. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình
hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận
trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt
được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức làm cho các chức năng khác của
hoạt động quản lý được thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ
thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý. Họ cần phân tích sứ mạng
chung của đơn vị - từng bộ phận trong đơn vị, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ
máy, quy định chức năng - nhiệm vụ - quyền hạn cho từng bộ phận và cá
nhân, lựa chọn và phân công cán bộ, xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức,

1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý
Nguyên tắc quản lý là một hệ thống các quy tắc mang tính chỉ đạo,
những quy định, tiêu chuẩn, điều kiện đòi hỏi người quản lý phải tuân thủ mới
mong đạt được mục tiêu đề ra. Có nhiều lý thuyết về nguyên tắc quản lý, tuy
nhiên các nhà quản lý cần tập trung đảm bảo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: sự tập trung phải được thể hiện là tất cả
các hoạt động dù lớn hay nhỏ của một tổ chức đều phải hướng vào cơ quan
quyền lực cao nhất. Vì cơ quan này giữ vai trò hoạch định đường lối, chủ
trương, xác định mục tiêu, xây dựng các chính sách, biện pháp để chỉ đạo các
bộ phận của tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu cao
nhất của tổ chức. Tính dân chủ được thể hiện trong một tổ chức là mọi thành
Kiểm tra
Kế hoạch
Tổ chức
Thông tin
Lãnh đạo/chỉ đạo

12
viên đều được quyền và nghĩa vụ tham gia đóng góp trí tuệ của mình vào hoạt
động của tổ chức. Tấc cả các thành viên trong tổ chức đều được tham gia ý
kiến của mình vào các công việc chung, vào tất cả các chức năng của quá
trình quản lý. Đó là việc xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực
hiện và tra đánh giá hoạt động của tổ chức. Sự kết hợp giữa tập trung và dân
chủ sẽ giúp thu được hiệu quả quản lý tích cực, vừa phát huy sức mạnh quyền
lực của cơ quan, lại vừa huy động được sức mạnh trí tuệ của các thành viên để
thực hiện thành công mục tiêu quản lý. Có tập trung dân chủ thì mới thúc đẩy
được tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, khích lệ được đông đảo các thành

quản lý không biết phân tích tình hình, tính chất quan trọng, cấp thiết của các
nội dung công việc sẽ dẫn đến tình trạng dàn trải, ôm đồm, không trọng tâm,
thiếu quyết đoán trong chỉ đạo, điều hành dẫn đến không hoàn thành công việc.
Bởi thế, người quản lý phải tùy giai đoạn, trạng thái, tình huống công việc để
phân tích và đưa ra quyết định chính xác, kịp thời trong những khâu then chốt,
những vấn đề trọng tâm của công việc. Có như vậy mới phân phối hợp lý và
phát huy được hiệu quả các nguồn lực.
- Nguyên tắc kiên định mục tiêu: Kiên định theo mục tiêu đã đề ra sẽ
tạo cho người quản lý có sức mạnh tinh thần, đủ bản lĩnh để lãnh đạo tổ chức
vượt qua được những khó khăn trong quá trình phát triển. Trong thực tế,
không phải khi nào hoạt động của tổ chức cũng thuận lợi mà nhiều khi phải
đối mặt với rất nhiều thách thức, những tác động trái chiều từ môi trường bên
ngoài, thâm chí ngay cả bên trong tổ chức. Nếu không kiên định, người quản
lý dễ thiếu quyết đoán, nản trí, thất bại, thậm chí đi chệch mục tiêu.
Các nguyên tắc quản lý nêu trên tuy có tính chất độc lập nhưng lại có
mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau,
là điều kiện và động lực thúc đẩy nhau. Đảm bảo đầy đủ những nguyên tắc
này sẽ là người quản lý thành công.
1.2.1.4. Các biện pháp quản lý
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) thì biện pháp là cách làm, cách thức
tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể, một công việc cụ thể nào đó.

14
Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử
dụng một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, cùng
một biện pháp có thể sử dụng trong nhiều phương pháp.
Biện pháp quản lý là tổng thể cách thức tác động của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm giúp nâng
cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra.
Các biện pháp được đánh giá theo các tiêu chí sau:

uy tổ chức của người quản lý để bắt buộc người dưới quyền phải thực hiện
mệnh lệnh quản lý. Đây là biện pháp cưỡng bức đơn phương, một bên ra
quyết định, một bên phục tùng. Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức,
xác lập trật tự, kỷ cương của bộ máy, giúp cho các quyết định quản lý được
thi hành nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả hoạt động quản lý.
- Biện pháp kinh tế: Là cách tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng
quản lý thông qua các lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực
hoạt động. Hay nói cách khác, biện pháp kinh tế là sự tác động một cách gián
tiếp lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng hành chính mà bằng cơ chế kích
thích, con đường tự nguyện, tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để
người thực hiện tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ.
Biện pháp này có ưu điểm làm tăng cường tính chủ động cho các nhân và tập
thể, giảm bớt được sự kiểm tra đôn đốc vụn vặt chi li của nhà quản lý.
- Biện pháp tâm lý - GD (còn được gọi là biện pháp tuyên truyền GD):
Là cách tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua đời
sống tâm lý cá nhân, các hệ tư tưởng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ.
Biện pháp này dựa trên cơ sở các chức năng, quy luật tâm lý của con người và
uy tín của người quản lý để khai thác tiềm năng của con người, kích thích ý
thức tự giác, sự say mê, chủ động sáng tạo của con người trong hoạt động của
mình, lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công
việc. Biện pháp này không tồn tại tự thân mà thường phối hợp với các biện
pháp khác, nhưng hướng chủ yếu là tác động vào tâm lý con người, vào lòng
tự trọng và lương tâm nghề nghiệp của người lao động.

16
Trên đây là các biện pháp đặc thù của quản lý. Thực tiễn quản lý cho
thấy không có biện pháp nào là vạn năng, biện pháp nào cũng có mặt ưu điểm
và nhược điểm. Bởi vậy chủ thể quản lý cần biết phối hợp các biện pháp một
cách linh hoạt nhằm khai thác những được những mặt mạnh và hạn chế được
những nhược điểm của từng biện pháp. Khi vận dụng các biện pháp, tùy hoàn

điểm chủ yếu sau:
Theo P.V.Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên Xô trước đây) thì:
QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống GD nhằm
mục đích bảo đảm việc GD chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát
triển toàn diện và hài hòa cho thế hệ trẻ.
Tác giả P.V.Kônđacốp, một chuyên gia GD khác của Liên Xô cũ cho
rằng: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của
chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm
mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận
thức và vận dụng những quy tắc chung của xã hội cũng như những quy luật của
quá trình GD, của sự phát triển tâm thế và tâm lý trẻ em.
Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII khẳng định: "Quản lý GD là sự tác động có ý thức của chủ
thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ
thống GD đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất" [9, tr.50].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: "QLGD thực chất là tác động
đến nhà trường, làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, GD thể
chất theo đường lối, nguyên lý GD của Đảng, quán triệt được những tính chất
trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới" [22, tr.32].
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại nhấn mạnh: "QLGD là tập hợp những biện
pháp tổ chức, phương pháp GD, kế hoạch hóa tài chính, cung tiêu nhằm
đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm

18
bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như
về chất lượng” [21, tr.29] .
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: Quản lý GD theo nghĩa tổng quan

thế hệ trẻ và từng học sinh" [17, tr.71].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cũng cho rằng: "Quản lý nhà trường là tập
hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can
thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể CBGV và học sinh nhằm tận dụng nguồn
lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do lao động
xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường
và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế
hoạch đào tạo đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới" [22, tr.13].
Như vậy, ta có thể hiểu quản lý nhà trường chính là những công việc
mà người CBQL trường học phải thực hiện những chức năng nhiệm vụ của
mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo nhà trường. Đó chính là những hoạt động
có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các
hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
trường đã đề ra.
Mục tiêu của quản lý nhà trường bao gồm:
- Đảm bảo kế hoạch GD kế tiếp, tuyển sinh học sinh đúng số lượng
theo kế hoạch GD hàng năm, đúng chất lượng theo quy định của Bộ GD-ĐT.
Duy trì sỹ số và hạn chế tối đa số học sinh lưu ban, bỏ học.
- Đảm bảo chất lượng, hiệu quả quá trình dạy học và GD, tiến hành các
hoạt động GD theo đúng chương trình, đảm bảo đạt yêu cầu của các môn học
và hoạt động GD.
- Xây dựng đội ngũ GV của nhà trường đồng bộ, đủ về số lượng và chất
lượng ngày càng cao. Xây dựng đội ngũ nhân viên phục vụ có nghiệp vụ tương
ứng thích hợp, am hiểu về đặc thù GD trong công việc của mình.
- Từng bước hoàn thiện, nâng cao CSVC, trang thiết bị, phương tiện -
kỹ thuật phục vụ tốt các hoạt động dạy học và GD.
- Xây dựng và hoàn thiện môi trường GD lành mạnh thống nhất ở địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status