báo cáo đánh giá thực hiện 3 năm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam 2011 2014 - Pdf 45

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ
THỰC HIỆN 3 NĂM CHÍNH SÁCH CHI TRẢ
DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM

(2011-2014)


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

© Nga Dang/Winrock International

Ấn phẩm này được xuất bản với sự hỗ trợ từ nhân dân Mỹ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
(USAID). Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và nội dung này
không nhất thiết phản ánh quan điểm của USAID hay Chính phủ Hoa Kỳ.


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

MỤC LỤC

© Winrock International

ĐẶT VẤN ĐỀ

8

TÓM TẮT

9

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM

4. Kết quả về môi trường
5. Kết quả về xã hội

20

PHẦN 4: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ THIẾU SÓT CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
1. Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được giữa các tỉnh không đồng đều
2. Sự chênh lệch về mức chi trả tiền DVMTR trên một ha trong một năm
3. Chưa có sự gắn kết giữa việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR với các hoạt động
bảo vệ rừng trong Kế hoạch BV&PTR đến năm 20
4. Tiến độ rà soát, xác định rừng và chủ rừng để chi trả DVMTR chậm
5. Chưa có hướng dẫn về xác định ranh giới, diện tích rừng cung ứng DVMTR cho dịch vụ
du lịch và nhà máy sản xuất nước sạch, hoặc các dịch môi trường khác

6. Một số vấn đề quản lý Ban điều hành quỹ Tỉnh cần được hoàn thiện
7. Chưa thống nhất về việc trích và sử dụng quỹ phòng
8. Chưa quy định rõ chức năng của Hội đồng quản lý Quỹ tỉnh
9. Chưa quy định và hướng dẫn công việc giám sát chi trả DVMTR
10. Mức chi trả DVMTR hiện tại thấp
11. Chưa có hướng dẫn thực hiện chi trả trực tiếp
12. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách chi trả DVMTR chưa hiệu quả
13. Chưa có cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ

81
84
85
86
87
88


122

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

124

74
75
76

PHỤ LỤC
Nghị định 99: Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

132

16
18
18

20
28
45
53
62

77
78

Bảng 21
Bảng 22
Bảng 23
Bảng 24
Bảng 25
Bảng 26

Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được tại tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La trong hai năm
thí điểm, 2009-2010
Thống kê các tỉnh đã thực hiện Nghị định 99 (đến tháng 8/2014)
Thực trạng về nhân sự và tổ chức của một số Quỹ tỉnh
Mức độ hoàn thành việc rà soát rừng và chủ rừng để chi trả DVMTR ở một số tỉnh
Tiền chi trả DVMTR bình quân cho một ha rừng của một số tỉnh
Hệ số K được áp dụng ở một số tỉnh để chi trả DVMTR
Quản lý và sử dụng tiền DVMTR của VNFF trong 3 năm 2011-2013
Tình hình quản lý, sử dụng tiền DVMTR năm 2013 của một số Quỹ tỉnh
Tổng số tiền DVMTR thu được từ năm 2011 đến tháng 8/2014
Tiền DVMTR thu từ năm 2011 đến 8/2014 theo đối tượng và loại DVMTR
Tiền DVMTR của các đối tượng nộp tiền theo từng năm
So sánh số lượng tiền chi trả DVMTR giữa các Quỹ tỉnh
So sánh số lượng tiền DVMTR của Quỹ tỉnh và cấp quản lý
Tổng hợp diện tích rừng được quản lý, bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR năm 2013
Diện tích rừng được bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR
Vi phạm lâm luật trong 3 năm thực hiện PFES
Thống kê số hộ dân tham gia chi trả DVMTR trong 3 năm 2011-2013
Lý do các hộ dân tham gia chi trả DVMTR
Lý do các hộ không tham gia chi trả DVMTR
So sánh mức chi trả tiền DVMTR giữa tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La
Các thay đổi trong hoạt động lâm nghiệp của hộ dân ở tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La
sau khi nhận tiền chi trả DVMTR (năm 2011)

102
107

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1
Sơ đồ 2
Sơ đồ 3
Sơ đồ 4

© Winrock International

Hệ thống tổ chức của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng
Tổ chức bộ máy của Quỹ BV&PTR Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Ban điều hành VNFF
Lộ trình chi trả tiền DVMTR của những người dân sử dụng DVMTR cho những người
dân cung ứng DVMTR (trường hợp chi trả gián tiếp)

22
24
25
31


ĐẶT VẤN ĐỀ

TÓM TẮT

Báo cáo này là một báo cáo tư vấn độc lập, do các
chuyên gia quốc tế và trong nước thực hiện nhằm
cung cấp cho Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) và Quỹ

tiêu là nhằm:

Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 (sau
đây gọi tắt là Nghị định 99) của Chính phủ về chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) bắt
đầu thực hiện từ ngày 01/01/2011, đến nay đã hơn
3 năm.

08

Các thành tựu chính về mặt thể chế:

Thành lập hệ thống Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
từ trung ương đến địa phương: Bộ NN&PTNT đã
thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam
(VNFF) ở trung ương và 36 Quỹ bảo vệ và phát triển
1) Huy động các nguồn lực xã hội cho công tác bảo rừng (FPDF) ở cấp tỉnh. Trong đó, 32 Quỹ đang tích
vệ rừng và nâng cao giá trị kinh tế của môi trường cực thực hiện chi trả DVMTR.
rừng thông qua việc thiết lập các mối quan hệ về
dịch vụ và chi trả giữa bên cung ứng và bên sử Các thành tựu chính về mặt kinh tế:
dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Chi trả thành công DVMTR: Chi trả DVMTR đã được
2) Sử dụng nguồn thu từ chi trả DVMTR để nâng áp dụng cho các công ty thủy điện (mức chi trả là
cao thu nhập cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ 20 đồng/kwh), các cơ sở chế biến nước sạch (mức
rừng để cung ứng DVMTR, tăng cường hơn nữa chi trả là 40 đồng/kwh) và các công ty du lịch (1-2%
tổng doanh thu). Tổng số tiền chi trả DVMTR thu
hiệu quả của công tác bảo vệ rừng.
được trong ba năm qua tính đến tháng 8/2014 là
3) Tạo cơ chế tài chính mới cho ngành lâm nghiệp 3.329 tỷ đồng (tương đương 157 triệu USD), trong
thông qua việc sử dụng ngân sách ngoài nhà nước đó hầu hết đến từ các doanh nghiệp thủy điện

đồng/hộ/năm).
Các thách thức còn tồn tại:
Bên cạnh những thành công kể trên, vẫn còn có
một số hạn chế và bất cập trong quá trình thực
hiện như sau:
Có sự khác biệt về tổng số tiền thu được từ chi trả
DVMTR giữa các tỉnh: Có sự khác nhau về mức chi
trả cho mỗi ha rừng giữa các lưu vực sông trong
một tỉnh và giữa các lưu vực sông của các tỉnh liền
kề, dẫn đến thắc mắc trong các cộng đồng dân cư.

Chưa có hướng dẫn về việc phân ranh hay xác định
chi trả DVMTR đối với du lịch và nước sạch, hay các
dịch vụ môi trường khác: Chi trả DVMTR đã cơ bản
được thực hiện cho 3 trong số 5 loại DVMTR quy
trong Nghị định 99 (thủy điện, nước sạch và du
lịch). Trong đó, chi trả cho các dịch vụ liên quan
quan đến thủy điện tương đối hoàn thiện, trong
khi các dịch vụ liên quan đến du lịch và nước sạch
chưa được thực hiện đầy đủ do chưa xác định được
ranh giới và diện tích rừng cung ứng dịch vụ cho
các công ty nước sạch và du lịch. Các dịch vụ môi
trường khác như các bon và cung ứng bãi đẻ cho
nuôi trồng thủy sản chưa được thực hiện do thiếu
tài liệu hướng dẫn.

Cần điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quản lý Quỹ
bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh: Chưa có hướng
dẫn cụ thể trong Nghị định 99 hay các thông tư có
liên quan về vai trò của Hội đồng quản lý Quỹ, mối

ta không thể khẳng định được rằng chi trả DVMTR
là vì người nghèo vì đơn giản, chúng ta không có
số liệu về việc có bao nhiêu người nhận tiền chi trả
DVMTR là người nghèo so với số hộ giàu và trung
bình, vì thế cần thu thập số liệu về những người
nhận tiền chi trả DVMTR và mục tiêu của các hợp
đồng chi trả DVMTR.
So sánh với các kinh nghiệm quốc tế:
Bản báo cáo này cũng có so sánh việc thực hiện chi
trả DVMTR tại Việt Nam với chi trả DVMTR trên thế
giới thông qua việc xem xét quy mô và phạm vi của
các chính sách chi trả DVMTR, so sánh về bên cung
ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, về
thỏa thuận chia sẻ lợi ích và về hiệu quả và giám
sát. Báo cáo cũng đề cập đến khả năng chi trả
DVMTR xuyên biên giới và mối liên kết với REDD+
cũng như các sáng kiến quốc tế khác. Báo cáo cũng
chỉ ra rằng, các chính sách chi trả DVMTR/DVMT trên
thế giới đang hướng tới quá trình toàn diện và có
sự tham gia hơn, và các bài học này cũng có thể áp
dụng được ở Việt Nam.
Các khuyến nghị khác:
Báo cáo này có phần Khuyến nghị về việc sửa đổi
Nghị định 99, Nghị định 05 và các thông tư hướng
dẫn cũng như đưa ra một số khuyến nghị cho các
nhà tài trợ.

© Winrock International

11

DVMTR
HGĐ
KTKT
Nghị định 99
NN&PTNT
PCCCR
VNFF
RĐD
RPH
RSX
TN&MT
TCLN
UBND

13


PHẦN 01
MỤC ĐÍCH – NỘI DUNG –
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
© Winrock International

1. Mục đích nghiên cứu

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm:

Để xây dựng báo cáo, nhóm chuyên gia tư vấn đã:


các tỉnh (gọi tắt là Quỹ tỉnh) nộp cho VNFF.
b) Thu thập các ý kiến, quan điểm, nhận xét về
chính sách chi trả DVMTR và việc thực hiện chính
sách này trong 3 năm qua của những người là Lãnh
đạo TCLN, Lãnh đạo VNFF và các cán bộ của VNFF
trong các cuộc họp tại VNFF (ngày 11/8/2014) và
TCLN (ngày 12/8/2014).
c) Thu thập các số liệu, thông tin, tài liệu tại 6 tỉnh:
Lào Cai: Tham dự cuộc thảo luận về chi trả
DVMTR với đại diện của 10 Sở NN&PTNT, Quỹ
BV&PTR các tỉnh vùng Tây Bắc và Đông Bắc. Làm
việc với Quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai.
Thừa Thiên Huế: Thu thập thông tin, số liệu và
thảo luận với Chi cục Lâm nghiệp và Quỹ BV&PTR
tỉnh Thừa Thiên Huế, Ban quản lý rừng phòng hộ
Sông Hương, lãnh đạo UBND xã và các hộ dân xã
Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
Quảng Bình: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng về
triển khai chi trả DVMTR về du lịch, những thuận
lợi, khó khăn, trở ngại, phương hướng giải quyết.

Bình Phước: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Quỹ BV&PTR tỉnh Bình Phước, Vườn
quốc gia Bù Gia Mập về tình hình 3 năm thực
hiện chính sách chi trả DVMTR, những kết quả,
vấn đề cần kiến nghị. Phỏng vấn các hộ dân
tham gia bảo vệ rừng về những hoạt động
tuần tra rừng họ thực hiện, tiền chi trả DVMTR
họ được nhận, thu nhập và sinh kế, những khó

từ chi trả và chia sẻ lợi ích.
e) Các số liệu, tài liệu do TS.Nguyễn Chí Thành thu
thập: i) tại các đợt khảo sát để chi trả DVMTR ở tỉnh
Quảng Nam năm 2011 (tư vấn cho Dự án GASF/
Winrock International); ii) tại các đợt khảo sát để
cố vấn cho tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện
chính sách chi trả DVMTR năm 2012 (tư vấn cho
Dự án của ADB); iii) tại đợt khảo sát tình hình chi
trả DVMTR ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Kon Tum,
Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông năm 2013 (tư vấn cho
Dự án của GIZ); iv) tại đợt khảo sát thu thập số liệu
năm 2014 để xây dựng báo cáo đánh giá 3 năm
thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Nghệ
An (tư vấn cho Dự án VFD/Winrock International).

15


PHẦN 02
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM

© VNFF

1. Giai đoạn thí điểm
Chính sách chi trả DVMTR bắt đầu được thực hiện
ở Việt Nam từ năm 2008 theo Quyết định số 380/
QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ.
Khởi đầu là gần 3 năm thí điểm ở tỉnh Sơn La, đầu

Ví dụ: Với sự tài trợ của USAID, Dự án Winrock có: Nhà máy thủy điện Hòa Bình; Nhà máy thủy
đã trang bị cho tỉnh Lâm Đồng thiết bị thu thập điện Suối Sập; và một số công ty cấp nước. Tiền chi
mẫu và số liệu về xói mòn đất và chất lượng nước trả DVMTR được chuyển đến Quỹ Bảo vệ và phát
ở đầu nguồn hồ thủy điện Đa Nhim để giám sát triển rừng của hai tỉnh và trong hai năm đầu thí
chất lượng cung ứng DVMTR cho hồ thủy điện và điểm tỉnh Lâm Đồng đã thu được gần 5 triệu USD,
hướng dẫn sử dụng mô hình SWAT để phân tích tỉnh Sơn La đã thu được gần 3 triệu USD.
mô hình. Chuyên gia của Dự án Winrock đã làm

16

17


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Đến tháng 3/2010, Thủ tướng Chính phủ tổ chức
hội nghị quốc gia để tổng kết giai đoạn thí điểm
chính sách chi trả DVMTR và đánh giá việc thực
hiện thí điểm chính sách đã góp phần quan trọng
vào công tác bảo vệ rừng, xóa đói giảm nghèo cho
đồng bào vùng núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc
sống trong vùng rừng, tạo ra một cơ chế tài chính
mới cho ngành Lâm nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì
xây dựng một Nghị định của Chính phủ về chính
sách chi trả DVMTR để áp dụng trên toàn quốc.
2. Ban hành Nghị định của Chính phủ về chính
sách chi trả DVMTR
Với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Tổ chức
Winrock International, Bộ NN&PTNT đã hoàn


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

3.2. Quy định các nguyên tắc chi trả

3.3. Quy định các đối tượng phải chi trả và mức chi trả

a) Các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR
phải chi trả tiền DVMTR.

a) Các đối tượng đã được quy định mức chi trả:

Tiền chi trả DVMTR là tiền của các tổ chức, cá nhân
trong xã hội có sử dụng và được hưởng lợi từ DVMTR.
b) Thực hiện chi trả DVMTR bằng tiền thông qua
hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp.

d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng
sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho
dịch vụ du lịch;

c) Tiền chi trả DVMTR thông qua Quỹ BV&PTR là
tiền của bên sử dụng DVMTR ủy thác cho Quỹ để
trả cho các chủ rừng cung ứng DVMTR.

e) Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống
tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi
trồng thủy sản.

Tiền chi trả DVMTR không phải là tiền ngân sách Nhà

Các cơ sở sản xuất thủy điện: 20 đồng/ 1kwh
điện thương phẩm.
Các cơ sở sản xuất nước sạch: 40 đồng/ 1m3
nước thương phẩm.
Các cơ sở kinh doanh du lịch: 1-2% doanh thu
trong kỳ.
b) Các đối tượng chưa quy định mức chi trả:
Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn
nước từ rừng.
c) Các loại DVMTR chưa xác định được đối tượng
chi trả và mức chi trả:
Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng,
giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng
các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm
diện tích rừng và phát triển rừng bền vững.
Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con
giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng
cho nuôi trồng thủy sản.

Các doanh nghiệp có sử dụng DVMTR sẽ hạch toán
tiền chi trả DVMTR vào giá thành sản phẩm và đại
diện cho những người sử dụng sản phẩm của họ để
nộp tiền cho Quỹ BV&PTR hoặc thu trực tiếp từ người 3.4. Quy định 3 đối tượng được nhận tiền chi trả
sử dụng thông qua các chứng từ (hóa đơn, vé,…). DVMTR
Tiền chi trả DVMTR không phải là thuế, phí và lệ phí.
a) Các chủ rừng là tổ chức;
e) Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng.
b) Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng
Quá trình chi trả tiền DVMTR từ nơi nộp tiền đến Quỹ dân cư;
BV&PTR, cho đến các chủ rừng và các hộ dân nhận

1.2.2. Nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR theo Nghị định
99/2010/NĐ-CP
a) Nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR cấp tỉnh theo quy
định tại Điều 17 Nghị định 99

1.2. Hoạt động của các Quỹ BV&PTR
1.2.1. Nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR theo Nghị định
05/2008/NĐ-CP

Điều kiện quan trọng để thành lập Quỹ là có nhu
cầu cần thành lập và có khả năng huy động các
nguồn tài chính cho Quỹ hoạt động ổn định, lâu
Quỹ BV&PTR (sau đây gọi là Quỹ) được thành lập dài và hiệu quả.
theo quy định tại Nghị định số 05/2008/NĐ-CP
ngày 14/1/2008 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị Quỹ là tổ chức tài chính nhà nước, được mở tài
khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc. Một trong
định 05).
những nhiệm vụ của Quỹ là thực hiện sự ủy thác
Một trong những mục đích thành lập Quỹ là “Huy của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước.
động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát
triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội Về tổ chức của Quỹ, Nghị định 05 quy định có 2 cấp
Quỹ là cấp trung ương và cấp tỉnh theo sơ đồ sau:
hóa nghề rừng”.

Xác định số tiền phải chi trả của các đối tượng
sử dụng DVMTR
Ký hợp đồng chi trả DVMTR với bên phải nộp
tiền
Tiếp nhận tiền ủy thác chi trả DVMTR của VNFF
Chi trả ủy thác tiền DVMTR cho các chủ rừng

b) Tổ chức thẩm định, xét chọn chương trình, dự án
hoặc các hoạt động phi dự án mà Quỹ có thể hỗ
trợ kinh phí trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
c) Hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án, Quỹ
BV&PTR cấp tỉnh hoặc các hoạt động phi dự án.
d) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các đối
tượng trong việc quản lý và sử dụng nguồn kinh
phí do Quỹ hỗ trợ.
e) Thực hiện các quy định của pháp luật về
thống kê, kế toán, kiểm toán và báo cáo với Bộ
NN&PTNT.
f ) Bảo toàn, phát triển nguồn vốn của Quỹ và bù
đắp chi phí quản lý.
g) Hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về nghiệp vụ
quản lý Quỹ.
h) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ
NN&PTNT giao.
Quyền hạn của VNFF:
a) Phân bổ kinh phí cho từng chương trình, dự án
hoặc các hoạt động phi dự án theo kế hoạch
hàng năm được duyệt.
b) Kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu kết quả thực
hiện chương trình, dự án hoặc các hoạt động
phi dự án được Quỹ hỗ trợ.
c) Đình chỉ, thu hồi kinh phí đã hỗ trợ khi phát hiện
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
vi phạm cam kết về sử dụng kinh phí hoặc vi phạm
các quy định khác của pháp luật có liên quan.
d) Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền ban hành, bổ sung, sửa đổi các quy định

Điều 22 của Nghị định 99 quy định UBND các tỉnh
phải thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách
chi trả DVMTR (sau đây gọi là Ban chỉ đạo) do Chủ
tịch UBND cấp tỉnh là trưởng ban.

Hiện tại, ban điều hành của các Quỹ tỉnh rất khác
nhau về cơ cấu tổ chức và nhân lực. Cụ thể như sau:

Tổ chức bộ máy của Quỹ tỉnh
Cũng giống như VNFF, Quỹ BV&PTR của tỉnh
cũng bao gồm: Hội đồng quản lý Quỹ; Ban kiểm
soát Quỹ; và Ban điều hành Quỹ.
Nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức này
cũng tương tự như của VNFF.

24

Có Quỹ tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp quản lý
(Quảng Nam), có Quỹ do Sở NN&PTNT trực tiếp
quản lý (Điện Biên, Nghệ An, Lâm Đồng), có Quỹ
lại trực thuộc Chi cục Lâm nghiệp (Thừa Thiên Huế).
Có nơi toàn bộ Ban điều hành (BĐH) Quỹ là
người kiêm nhiệm kể cả kế toán (là các cán bộ
của Chi cục Lâm nghiệp được giao thêm nhiệm
vụ điều hành Quỹ).
Có nơi một bộ phận của BĐH Quỹ là người kiêm
nhiệm, một bộ phận là người chuyên trách.
Có Quỹ thì toàn bộ nhân viên được hưởng lương
từ nguồn ngân sách tỉnh; có Quỹ chỉ một bộ
phận được hưởng lương từ nguồn ngân sách

tỷ đồng (30 người/144,7 tỷ đồng). Trong khi
tỷ lệ này ở một số tỉnh có số lượng tiền chi trả
DVMTR thu được thấp là 01 người quản lý 583
triệu đồng (6 người/3,5 tỷ đồng).
Cần có văn bản hướng dẫn và quy định về định
mức số lượng nhân viên theo số lượng nguồn
thu và trách nhiệm quản lý tiền chi trả DVMTR.
Cần có văn bản hướng dẫn và quy định về cấp
cơ quan thẩm quyền quản lý Quỹ tỉnh theo mức
số lượng tiền chi trả DVMTR thu được và phải
quản lý. Cụ thể: mức số lượng tiền chi trả DVMTR
bao nhiêu thì Quỹ trực thuộc quản lý của UBND
tỉnh, mức bao nhiêu thì trực thuộc quản lý của
Sở NN&PTNT v.v.

(2) Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của các Quỹ tỉnh nộp cho VNFF

26

© VNFF

27


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

1.3. Chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn thực hiện chi
trả DVMTR
Các cơ quan từ Bộ NN&PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp,
VNFF, UBND các tỉnh, các Sở NN&PTNT, các Quỹ tỉnh

điều hành triển khai thực hiện Nghị định 99.
99, có 3 loại DVMTR đã thực hiện chi trả, gồm:
1.4. Nhận xét chung về công tác tổ chức thực hiện
Có hai yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự
thành công của việc thực hiện chính sách chi trả
DVMTR trong ba năm qua, đó là:
1) Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT, Tổng cục
Lâm nghiệp và UBND các tỉnh đã rất khẩn trương
khởi động và vận hành các công việc chi trả DVMTR.
Không có sự khởi động của cơ quan nhà nước có
quyền lực thì việc triển khai thực hiện chính sách
này sẽ chậm hơn nhiều.
2) Hệ thống Quỹ BV&PTR từ trung ương đến các
tỉnh được thành lập khá sớm, đặc biệt là vai trò

Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng
lòng hồ, lòng sông, lòng suối.
Dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản
xuất và đời sống xã hội.
Dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn
đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục
vụ cho dịch vụ du lịch.
Trong 3 loại DVMTR này, chỉ có DVMTR cung ứng
cho thủy điện đã xác định được phạm vi lưu vực
và diện tích rừng để thực hiện chi trả. Còn việc xác
định phạm vi lưu vực và diện tích rừng để thực
hiện chi trả DVMTR đối với nước sạch và du lịch vẫn
chưa hoàn thiện, cần phải có hướng dẫn kỹ thuật.

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

này, sau đó tổng kết, báo cáo Thủ tướng xem xét
phục vụ cho dịch vụ du lịch.
quyết định. Bộ NN&PTNT đang xây dựng đề án thí
điểm và chuẩn bị tổ chức thí điểm.
Theo số liệu của VNFF, tính đến tháng 8/2014 các
Tỉnh Lào Cai vừa mới bắt đầu xây dựng thí điểm cơ Quỹ BV&PTR đã ký được 351 hợp đồng ủy thác chi
chế chi trả DVMTR từ nuôi trồng thủy sản tại nước trả tiền DVMTR với các cơ sở sản xuất thủy điện,
mặt và hồ chứa. Cơ chế thí điểm dự kiến thu từ nước sạch và kinh doanh du lịch. Trong tổng số
hoạt động nuôi cá hoặc lượng nước sử dụng trong 351 hợp đồng:
nuôi trồng (chẳng hạn 30 đồng/m3) và ước tính sẽ
thu được khoảng 2 tỷ đồng cho các vùng rừng đầu
Có 235 hợp đồng ký với các cơ sở sản xuất thủy
điện (66,9%)
nguồn cung cấp nước và từ các công ty tư nhân
72 hợp đồng ký với các cơ sở sản xuất nước sạch
nuôi trồng thủy sản trong tỉnh. Tuy nhiên, cũng
(20,5%)
cần lưu ý rằng hầu hết các cơ sở nuôi trồng thủy
44 hợp đồng ký với các cơ sở kinh doanh du lịch
sản là các hộ gia đình nhỏ lẻ và các công ty thực
hiện giao dịch tiền mặt là chính hoặc các công ty
(12,6%)
có hệ thống kế toán tài chính không rõ ràng, do đó
việc thu tiền chi trả DVMTR sẽ có khó khăn (phỏng Quỹ trung ương ký 41 hợp đồng (11,7%). Các Quỹ
tỉnh ký 310 hợp đồng (88,3%).
vấn tỉnh ngày 8/8/2014).
Xem Biểu đồ 1 dưới đây.

28


bản là do hầu hết các tỉnh chưa xác định được

30

chính xác các sản phẩm/dịch vụ du lịch và các
công ty du lịch nào hiện đang sử dụng DVMTR
(xem thêm phần trao đổi về vấn đề này tại Phần 4).
Tỷ lệ giữa các hợp đồng đã phản ánh đúng thực
trạng về tiềm năng cung ứng dịch vụ môi trường
của rừng và khả năng chi trả của các đối tượng
sử dụng DVMTR.
Theo quy định tại Nghị định 99, các doanh
nghiệp nộp tiền chi trả DVMTR được hạch toán
số tiền nộp vào giá thành sản phẩm. Như vậy,
mọi người dân trong xã hội trả tiền theo hóa
đơn của bên bán điện, bán nước sạch, bán sản
phẩm du lịch có hạch toán tiền chi trả DVMTR
mới thực sự là những người sử dụng DVMTR,
còn các doanh nghiệp chỉ thay họ chi trả tiền ủy
thác cho những người cung ứng DVMTR.
Tuy nhiên, cho đến nay rất nhiều người vẫn cho
rằng các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch và du
lịch là các đối tượng sử dụng DVMTR nên phải trả
tiền DVMTR. Và rất nhiều người dân bảo vệ rừng
được nhận tiền DVMTR nhưng họ cũng không

Một trong những nguyên tắc chi trả DVMTR quy
định tại Nghị định 99 (khoản 1 điều 5) là mọi tổ
chức, cá nhân trong xã hội được hưởng lợi từ
DVMTR phải chi trả tiền DVMTR cho những người


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

3) Các chủ rừng là tổ chức (doanh nghiệp, thanh
niên xung phong,….)
4) Các hộ dân có hợp đồng nhận khoán bảo vệ
rừng ký với chủ rừng nhà nước
5) Các nhóm hộ dân có hợp đồng nhận khoán bảo
vệ rừng ký với chủ rừng nhà nước do trưởng nhóm
hộ làm đại diện được các hộ trong nhóm bầu
6) Các nhóm CBCNV của chủ rừng là tổ chức nhà
nước nhận bảo vệ rừng
7) UBND xã đang được giao quản lý một diện tích
rừng
8) Đồn biên phòng, tổ du kích xã có hợp đồng
nhận khoán bảo vệ rừng ký với chủ rừng nhà nước
Như vậy:
Các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR là
những hộ dân, công nhân, bộ đội, thanh niên
xung phong, du kích xã đang sống và làm việc
trong vùng rừng có cung ứng các DVMTR, họ là
những người trực tiếp bảo vệ rừng. Các đối tượng
này phù hợp với quy định của Nghị định 99.
Để được nhận tiền chi trả DVMTR, các đối tượng
này phải có quyết định giao rừng (nếu là chủ
rừng), hợp đồng khoán bảo vệ rừng với tổ chức
chủ rừng nhà nước (nếu là hộ dân, bộ đội biên
phòng, TNXP, du kích,…), phương án bảo vệ
rừng (đối với UBND xã hay các tổ chức được giao
quản lý rừng).

điều tiết số tiền chi trả DVMTR họ nộp để bảo
vệ diện tích rừng phòng hộ cho lưu vực hồ chứa
của họ sang bảo vệ rừng đầu nguồn của lưu vực
khác. Hay nói cách khác, các nhà máy thủy điện
chỉ muốn trả tiền cho các vùng rừng ngay quanh
lòng hồ của họ.
Yêu cầu này là hoàn toàn chính đáng, vì theo số
liệu do chính các công ty thủy điện cung cấp trong
2 ví dụ sau đây sẽ thấy rõ mối quan hệ trực tiếp
giữa rừng phòng hộ đầu nguồn và lưu lượng nước
của hồ chứa:
Hồ thủy điện A Vương (tỉnh Quảng Nam) có
dung tích hồ chứa 266 triệu m3 nước. Sản lượng
điện của nhà máy là 1 tỷ kwh/năm. Muốn sản
xuất ra sản lượng điện này nhà máy cần 1,3 tỷ
m3 nước. Vậy hơn 1 tỷ m3 nước sẽ nằm trên
rừng đầu nguồn, nhờ sự điều tiết của rừng cho
hồ chứa.
Hồ thủy điện Đa Nhim (tỉnh Lâm Đồng) có dung
tích hồ chứa 165 triệu m3 nước. Sản lượng điện
của nhà máy là 1 tỷ kwh/năm. Muốn sản xuất ra
sản lượng điện này nhà máy cần 550 triệu m3
nước. Vậy gần 400 triệu m3 nước sẽ nằm trên

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

rừng đầu nguồn, nhờ sự điều tiết của rừng cho
hồ chứa.
Số liệu này cũng chứng tỏ rừng là một yếu tố có
tính quyết định trong sản xuất kinh doanh thủy

Chẳng hạn, tỉnh Lào Cai đã ước tính rằng họ cần
khoảng 100 tỷ đồng để xác định chủ rừng cho

toàn tỉnh nhưng họ chỉ có 1,9 tỷ đồng từ nguồn
kinh phí quản lý của Quỹ tỉnh, vì vậy họ không thể
sử dụng tiền chi trả DVMTR cho hoạt động lập bản
đồ. Phần lớn các tỉnh bắt đầu việc thực hiện chi
trả DVMTR từ Quý IV năm 2012. Trừ hai tỉnh Sơn
La và Lâm Đồng tiếp tục thực hiện sau giai đoạn
thí điểm, còn các tỉnh khác có thời gian thực hiện
chi trả DVMTR tính đến 31/12/2013 chỉ có hơn một
năm, khoảng 18 tháng.
Việc rà soát hiện trạng rừng ở các tỉnh cũng gặp
rất nhiều khó khăn do các trạng thái rừng trong
các tài liệu và bản đồ hiện có so với các trạng thái
rừng trên thực địa ở thời điểm hiện tại khác nhau
rất lớn, muốn có số liệu và bản đồ chính xác hơn
phải tốn nhiều thời gian và kinh phí.
Thí dụ:
Theo báo cáo đánh giá tình hình 3 năm thực
hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Nghệ An
do Dự án Rừng và Đồng bằng (VFD) khảo sát và
xây dựng, tính đến tháng 6/2014, tỉnh Nghệ An
có tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR trong
các lưu vực trên địa bàn tỉnh là 187.572,95 ha,
nhưng mới thực hiện chi trả ở lưu vực thủy điện
Bản Vẽ có diện tích 61.682,62 ha, đạt 32,8% do
chỉ mới hoàn thành việc rà soát rừng cho từng
đối tượng nhận tiền DVMTR cho lưu vực này.
Theo báo cáo sơ kết 3 năm chi trả DVMTR của

đồng bào dân tộc ở vùng rừng núi. Các hộ gia đình
là chủ rừng hoặc nhận khoán bảo vệ rừng đã thực
sự trở thành lực lượng quan trọng thực hiện Dự án
5 triệu hecta rừng.

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

đình phải biết rõ vị trí, ranh giới, hiện trạng khu
rừng có nghĩa vụ bảo vệ và số tiền chi trả DVMTR
mà họ được nhận.
Những tỉnh nào đã thực hiện tốt công tác giao
rừng, khoán rừng trong giai đoạn thực hiện Dự án
5 triệu hecta rừng, bộ hồ sơ giao rừng và khoán
rừng tương đối đầy đủ thì việc triển khai thực hiện
Nghị định 99 rất thuận lợi. Những tỉnh nào thực
hiện không tốt công tác giao rừng, khoán rừng
trong giai đoạn thực hiện Dự án 5 triệu hecta rừng,
bộ hồ sơ giao rừng và khoán rừng không đầy đủ
thì việc triển khai thực hiện Nghị định 99 gặp rất
nhiều khó khăn.

Tại Quyết định số 2284/QĐ-TTg ngày 13/12/2010
về “Phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số
99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về
Từ năm 2011, Nhà nước đã kết thúc Dự án 5 triệu chính sách chi trả DVMTR”, Thủ tướng Chính phủ
hecta rừng và chuyển sang thực hiện “Kế hoạch đã giao cho UBND cấp tỉnh tiến hành xác định diện
bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020” tích rừng chi trả DVMTR và các đối tượng phải chi
theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 trả, được chi trả tiền DVMTR cho mỗi lưu vực sông.
của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, đối với những tỉnh có khối lượng công

trả DVMTR mới có thể được thực hiện trên toàn
bộ diện tích rừng cung ứng DVMTR và tiền chi
trả DVMTR mới có thể đến được các hộ dân bảo
vệ các diện tích rừng này.

(3) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các tỉnh

34

35


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

2.8. Xác định tiền chi trả DVMTR bình quân cho a) Có sự chênh lệch lớn giữa mức chi trả tiền
một hecta rừng
DVMTR cao nhất và thấp nhất cho một hecta rừng
giữa các lưu vực trong phạm vi một tỉnh.
Bảng 5 dưới đây sẽ trình bày số liệu về số tiền chi
trả bình quân cho một hecta rừng của một số tỉnh Có nơi sự chênh lệch không đáng kể như: tỉnh Lâm
đã thực hiện chi trả DVMTR.
Đồng (360.000 đồng/325.000 đồng), tỉnh Lai Châu
(382.620 đồng/302.837 đồng).
Số liệu của Bảng 5 cho thấy:

Có nơi chênh lệch rất lớn: tới 330 lần như tỉnh Bình mức tiền DVMTR mà tỉnh Lâm Đồng chi trả cho các
Định (604.690 đồng/1.828 đồng), tới 310 lần như hộ dân huyện Cát Tiên là 400.000 đồng/ha/năm.
tỉnh Điện Biên (256.000 đồng/826 đồng).

và họ thường không dùng từ “bảo vệ” mà dùng từ
Cho nên trong các chuyến khảo sát, tham vấn các “công sức” khi nói về hoạt động của họ. Với những
hộ dân từ Bắc đến Nam, họ đều kiến nghị mức tiền công việc sử dụng “công sức” như nhau thì phải
chi trả DVMTR đối với thủy điện phải tăng theo sự được trả công như nhau trong thị trường lao động
tăng giá chung.
mở cửa, các hộ gia đình thuộc dự án chi trả DVMTR
mong muốn nhận được tiền lương công bằng cho
Ở những nơi có mức tiền chi trả DVMTR cho một công sức lao động họ bỏ ra.
hecta quá thấp người dân không nhiệt tình với việc
bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
2.9. Xác định hệ số K
c) Sự chênh lệch về mức chi trả giữa 2 tỉnh cũng Nghị định 99 (Điều 16) quy định các hệ số K để làm
là một vấn đề cần được xem xét. Theo báo cáo cơ sở xác định mức chi trả tiền DVMTR với các điều
của Quỹ tỉnh Đồng Nai và Vườn quốc gia Cát Tiên, kiện rừng khác nhau. Các điều kiện gồm: Trạng thái

(4) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các Quỹ tỉnh nộp cho VNFF
(5) Không kể các nhà máy thủy điện nộp tiền chi trả DVMTR cho VNFF

36

37


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

rừng (là khả năng tạo DVMTR); Loại rừng (đặc dụng,
phòng hộ, sản xuất); Nguồn gốc hình thành rừng
(rừng tự nhiên, rừng trồng); Mức độ khó khăn, thuận
lợi đối với việc bảo vệ rừng (yếu tố xã hội và địa lý).
UBND tỉnh quy định hệ số K với đối tượng chi trả là


Qua số liệu của Bảng 6 cho thấy, trong số 14 tỉnh:
Có 8 tỉnh áp dụng hệ số K=1 (cả 4 hệ số K thành
phần đều là 1).
Có 2 tỉnh áp dụng cả 4 hệ số K thành phần (K1;
K2; K3; K4). Trong đó, tỉnh Đồng Nai chỉ xác định
4 hệ số K thành phần cho từng khoảnh, còn tỉnh
Bình Phước xác định 4 hệ số K thành phần cho
từng lô.
Có 1 tỉnh (Đắc Nông) áp dụng 2 hệ số K thành
phần (K2; K3). Họ không áp dụng hệ số K1 và
K4 vì cho rằng yếu tố về điều kiện khó khăn rất
trừu tượng, khó xác định, mỗi địa bàn có những
đặc điểm khó khăn, thuận lợi riêng, rất khó để
so sánh với nhau, còn yếu tố về trạng thái và trữ
lượng rừng rất phức tạp khi áp dụng.
Có 3 tỉnh (Sơn La, Điện Biên, Yên Bái) chỉ áp dụng
một hệ số K3 (rừng tự nhiên và rừng trồng), vì
cho rằng việc áp dụng các hệ số K thành phần
khác là khá phức tạp trong điều kiện cụ thể của
địa phương.
Nếu có sự tham vấn cộng đồng trước khi quyết
định hệ số K thì ở những địa bàn có đồng bào
dân tộc bà con đều chọn hệ số K=1.
Thí dụ:
Năm 2009, khi các chuyên gia dự án Winrock
cùng các đồng nghiệp ở tỉnh Lâm Đồng tham
vấn bà con dân tộc K’Ho ở xã Đa Nhim về hệ
số K, bà con đề nghị hệ số K=1. UBND tỉnh Lâm
Đồng đã thay đổi quyết định về hệ số K theo ý

VNFF đã quản lý và sử dụng số tiền 0.5% là
9.319.634.993đồng. Chi tiết việc sử dụng số tiền
này trong Bảng 7 dưới đây:

38

39


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Số liệu trên cho thấy:
Trong tổng số tiền đã chi (7,294,427,443 đồng)
VNFF chi cho các hạng mục của văn phòng VNFF
là 3.051.675.866 đồng, chiếm 41,8%. Số còn lại
58,2% là chi cho các hoạt động chung triển khai
thực hiện chính sách chi trả DVMTR (thông tin,
tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, hội nghị,…).
Trong 3 năm, các hoạt động chi chỉ thực hiện
trong 2 năm 2012 và 2013. Với tổng số tiền đã
chi 7,294,427,443 đồng thì bình quân số tiền chi
một năm là khoảng 3,6 tỷ đồng.

40

2.10.2. Quản lý và sử dụng tiền chi trả DVMTR của
các Quỹ tỉnh
Sau khi nhận được tiền DVMTR từ VNFF chuyển

Số tiền còn lại chưa chi để chờ hoàn thành công
việc kiểm tra, nghiệm thu kết quả chi trả DVMTR
của các cơ quan chức năng.
Không có báo cáo nào trình bày chi tiết về chi
tiêu các hạng mục quản lý (10%) của Ban điều
hành Quỹ tỉnh. Các số liệu trong bảng cho thấy
tại thời điểm 31/12/2013 không có Quỹ nào chi
vượt 10% quy định.
Về kinh phí dự phòng, theo quy định tại Điều 15
Nghị định 99 Quỹ tỉnh trích tối đa 5% của tổng
số tiền DVMTR để chi hỗ trợ cho các hộ dân bảo
vệ rừng trong hoàn cảnh thiên tai, khô hạn.
Trong số 12 tỉnh trên:
Có 4 tỉnh trích vượt 5%
Có 6 tỉnh trích dưới mức 5%
Có 11 tỉnh chưa sử dụng kinh phí dự phòng
Có 1 tỉnh đã sử dụng để bù cho những địa bàn
có mức chi trả tiền DVMTR thấp để đạt 200.000
đồng/ha/năm.

42

Nhiều Quỹ tỉnh có thắc mắc là kinh phí dự phòng
5% chỉ trích trong một năm rồi gửi ngân hàng để
khi có thiên tai, hạn hán, tiền chi trả DVMTR không
có hoặc có nhưng rất thấp thì sẽ sử dụng để hỗ trợ
chi trả cho các hộ dân tiếp tục bảo vệ rừng, hay cứ
mỗi năm đều trích 5%. Và những yếu tố nào để xác
định thời tiết là thiên tai, khô hạn ảnh hưởng đến
việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR.

sơ chi trả tiền DVMTR đòi hỏi phải rõ ràng, thống
nhất trên cả nước và có quy định pháp luật để
quản lý một cách chặt chẽ và lâu dài.
Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính đã ban hành Thông
tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày
16/11/2012 về “Hướng dẫn cơ chế quản lý sử
dụng tiền chi trả DVMTR” (sau đây gọi là Thông
tư 62). Thông tư này quy định tại Điều 14: Các
Quỹ BV&PTR, các chủ rừng là tổ chức, các tổ chức
không phải là chủ rừng nhưng được giao quản lý
rừng phải tổ chức công tác kế toán và bố trí nhân
sự làm kế toán để quản lý nguồn kinh phí chi trả
DVMTR theo quy định của pháp luật về kế toán.
Chứng từ kế toán tiền chi trả DVMTR được quản lý
theo quy định của pháp luật về kế toán và lưu giữ
tại đơn vị kế toán.
Theo quy định này, trong phạm vi tỉnh có chi trả
DVMTR phải thiết lập hệ thống kế toán từ Quỹ tỉnh
đến các đơn vị chủ rừng là tổ chức, các tổ chức
không phải là chủ rừng nhưng được giao quản lý
rừng để quản lý các hồ sơ chi trả tiền DVMTR trong
đó có các chứng từ.
Thông tư này được ban hành kịp thời với thời điểm
các tỉnh bắt đầu thực hiện việc chi trả tiền DVMTR
để hướng dẫn các địa phương thực hiện công tác
quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR và thực hiện
công việc kế toán, quản lý hồ sơ, chứng từ chi trả
tiền DVMTR theo quy định của pháp luật.

b) Hợp phần 2: Hồ sơ, chứng từ để quản lý, sử dụng

tiền chi trả DVMTR, trong trường hợp chi trả gián lưu vực và cùng một tỉnh.
tiếp, hồ sơ chi trả tiền DVMTR gồm các hợp phần
như sau:
Do đó, cần có quy định mẫu hồ sơ, chứng từ thống
nhất và chặt chẽ cho khoản tiền chi trả DVMTR
a) Hợp phần 1: Hồ sơ, chứng từ nộp ủy thác tiền chiếm tỷ lệ rất lớn này.
chi trả DVMTR của các doanh nghiệp sản xuất thủy
điện, nước sạch, du lịch cho Quỹ BV&PTR.

43


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

3. Kết quả về kinh tế

2.11. Nhận xét chung về cơ chế chi trả DVMTR
Một trong những điều thành công nhất trong ba
năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR vừa qua là
một cơ chế mới trong ngành lâm nghiệp đã được
hình thành, đã được triển khai và phát huy hiệu
quả một cách rõ rệt. Cơ chế này đã tạo ra một lộ
trình chuyển ủy thác tiền chi trả DVMTR từ doanh
nghiệp tới những người dân bảo vệ rừng không
qua hệ thống tài chính của Nhà nước để làm nền
tảng từng bước thiết lập mối quan hệ chi trả bền
vững hơn, chặt chẽ hơn giữa bên sử dụng và bên
cung ứng các DVMTR, nhằm xã hội hóa công tác
bảo vệ rừng. Đây là một cơ chế tài chính được các
hộ dân bảo vệ rừng và quốc tế đánh giá rất cao.

Tổng thu của các Quỹ tỉnh:
641.589,6 triệu đồng, chiếm 19,3%

Tổng thu của năm 2013:
1.096.398,4 triệu đồng, bằng 32,9%
8 tháng năm 2014:
765.785,8 triệu đồng, bằng 23,0%

Số lượng tiền chi trả DVMTR do VNFF thu gấp 4 lần
so với số thu của các Quỹ tỉnh do lưu vực sông của
các nhà máy thủy điện và nước sạch thường nằm
trên địa bàn nhiều tỉnh.

Như vậy, số lượng tiền chi trả DVMTR thu được năm
2012, 2013 và dự kiến năm 2014 là tương đối ổn định.

(6) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99 của Bộ NN&PTNT (9/2014)

4444 © VNFF

45


Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Báo cáo đánh giá Thực hiện 3 năm Chính sách Chi trả Dịch vụ Môi trường Rừng 2011-2014

Tỷ lệ nguồn thu giữa các đối tượng và loại DVMTR trình bày trong biểu đồ sau:

3.2. Số tiền chi trả DVMTR đã thu theo đối tượng nộp và loại DVMTR

Bảng 12 như sau:

49



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status