Đánh giá cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn tỉnh quảng nam (tt) - Pdf 45

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cấp cơ sở (hay còn gọi là chính quyền cấp xã) có
một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền
Nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước trên
các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
được triển khai thực hiện trong cuộc sống. Đội ngũ cán bộ, công chức
(CBCC) cơ sở (hay còn gọi CBCC cấp xã) có vai trò hết sức quan
trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở,
trong hoạt động thi hành công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính
quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng
được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội
ngũ CBCC cơ sở. Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai
trò của cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng đối với sự
nghiệp cách mạng. CBCC cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân
nhất. Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy
nhưng sẽ khó có được hiệu lực, hiệu quả cao nếu như không được triển
khai thực hiện bởi một đội ngũ CBCC cấp xã có năng lực pháp luật
tốt. Chính vì đội ngũ CBCC cấp xã có vai trò quan trọng như vậy nên
việc xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, văn hóa,
có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng
lực để thực thi chức năng, nhiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân... là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính
trị.
Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của công
1




nghiên cứu, tìm hiểu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài đánh giá CBCC cấp xã, đã có nhiều công
trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác
nhau về chất lượng đội ngũ CBCC và có những đóng góp nhất định
trong việc hoạch định chủ trương, chính sách và tìm ra một số giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC ở nước ta. Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu trên tập trung chủ yếu về mặt phương pháp
luận, hoặc nghiên cứu ở phạm vi rộng (toàn bộ đội ngũ CBCC Nhà
nước) chưa chuyên sâu về đội ngũ CBCC cấp xã, mặt khác do nghiên
cứu đã lâu nên có nhiều nội dung không còn phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi như hiện nay.
Dưới góc độ khoa học, các công trình nghiên cứu nói trên rất
có giá trị đối với những người quan tâm đến vấn đề đánh giá CBCC
cấp xã nói chung và đối với tác giả nói riêng. Vận dụng kinh nghiệm
đánh giá CBCC của các nước vào Việt Nam như: Hoàn thiện hệ thống
quan điểm, tiêu chí, căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ, ban hành
các quy chế, quy định tiêu chuẩn năng lực của cá nhân người lãnh đạo,
quản lý trong việc đánh giá cán bộ.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và pháp luật về đánh giá
CBCC cấp xã, qua khảo sát, đánh giá thực trạng CBCC cấp xã trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp
hoàn thiện đánh giá CBCC cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói
riêng, trên phạm vi cả nước nói chung.

3

4


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp
so sánh, xử lý thông tin, phương pháp tổng hợp. Ngoài ra luận văn còn
sử dụng, kế thừa thành quả của một số công trình nghiên cứu, bài viết,
báo cáo, tài liệu liên quan.
- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua 200 phiếu khảo
sát.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa quy
định pháp luật về CBCCvà đánh giá CBCC, xác định những nhân tố
tác động đến việc đánh giá CBCCvà chất lượng CBCC; làm rõ ý nghĩa
quan trọng của công tác đánh giá CBCC đối với việc nâng cao chất
lượng CBCC.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ
sung những vấn đề lý luận góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về “Đánh giá cán bộ CBCC cấp xã từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam”. Luận văn là tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho việc
nghiên cứu, giảng dạy và nâng cao chất lượng của CBCC cấp xã, đáp
ứng yêu cầu của công cuộc CCHC. Kết quả của luận văn còn sử dụng,
tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ở Trường chính trị tỉnh
và những người làm công tác cán bộ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đánh giá cán bộ, công
chức cấp xã.

chế độ khác đối với CBCC cấp xã.
6


1.2. Nội dung, mục đích và ý nghĩa của đánh giá đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã
1.2.1. Nội dung của đánh giá cán bộ, công chức cấp xã
1.2.1.1. Đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác
phong, lề lối làm việc.
1.2.1.2. Đánh giá thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao
1.2.1.3. Đánh giá tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực
hiện nhiệm vụ
1.2.1.4. Đánh giá thái độ phục vụ nhân dân
1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của đánh giá cán bộ, công chức cấp

1.2.2.1. Mục đích của đánh giá
Thứ nhất, đối với cá nhân CBCC cấp xã: Việc đánh giá giúp
người CBCC có nhận thức rõ về bản thân trong thực thi nhiệm vụ.
Thứ hai, đối với chính quyền cấp xã: Giúp người lãnh đạo chỉ
ra điểm mạnh, điểm yếu của CBCC. Thông qua đánh giá CBCC, sẽ
nhận thấy những khuyết điểm, hạn chế trong công tác tổ chức bộ máy,
phân công công việc, trong kế hoạch hoạt động của cơ quan.
1.2.2.2. Ý nghĩa của đánh giá
Việc đánh giá là hoạt động thường xuyên, một trong chức
năng của Nhà nước. Qua đánh giá sẽ góp phần nhìn nhận đúng thực
trạng đội ngũ CBCC để từ đó có những giải pháp, biện pháp khắc phục
yếu kém trong công tác tổ chức cán bộ, góp phần nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCC.
1.3. Phương pháp, tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cấp xã
1.3.1. Phương pháp đánh giá

mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được
nhân dân”;
CBCC chính quyền cấp xã là người trực tiếp làm việc và sinh
8


hoạt cùng với người dân. Cho nên đạo đức của người CBCCsẽ có tác
động rất lớn đối với người dân, có ảnh hướng rất lớn đối với hiệu quả
quản lý Nhà nước của chính quyền cấp xã
1.3.2.3. Tiêu chí về trình độ năng lực
Năng lực cũng là yếu tố rất quan trọng đối với người CBCC.
Chính năng lực quyết định hiệu quả công việc của người CBCC.
Năng lực của chủ thể bao gồm nhiều yếu tố nhưng trong đó có
2 yếu tố quan trọng cơ bản tạo thành hai điều kiện cần và đủ cho chủ
thể: đó là năng lực pháp luật và năng lực hành vi
1.3.2.4. Tiêu chí về hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao
Thứ nhất là trình độ (trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ,
kiến thức quản lý nhà nước, lý luận chính trị).
Trình độ văn hóa: Nó là nền tảng cho nhận thức, tiếp thu
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng chủ trương, chính sách
trong thực tiễn.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Được hiểu là trình độ được
đào tạo ở các lĩnh vực khác nhau theo cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, cao
đẳng, đại học.
Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định
lập trường quan điểm của CBCCNhà nước nói chung và CBCCchính
quyền cấp xã nói riêng. Có trình độ lý luận chính trị giúp xây dựng được
lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của
tổ chức, của nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

2.1.1.1. Vị trí và đặc điểm tự nhiên
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Nam
2.1.2. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Quảng Nam
2.1.2.1. Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
10


* Về số lượng (thống kê đến thời điểm tháng 12/2016)
- Tổng số CBCC của UBND cấp xã tỉnh Quảng Nam: 5287
người. Cụ thể: (Xem bảng 2.2)
+ Tổng số cán bộ: 2521 người.
+ Tổng số công chức: 2766 người.
Bảng 2.2. Số lượng CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam phân theo chức danh
Thời điểm 31/12/2016
2521
2766
5287

Các chức danh
Cán bộ cấp xã
Công chức chuyên môn
Tổng số

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính
đến tháng 12/2016 - Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)
* Về cơ cấu
Bảng 2.3. Số lượng CBCC cấp xã tỉnh Quảng Nam phân theo cơ cấu,
độ tuổi và thành phần dân tộc
Tổng số


Độ tuổi
Từ 31
Từ
Dưới
Từ 51
đến
41đến
30
đến 60
dưới 40
50
1103 2332
1227
625
20.8
44.1
23.2
11.9

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC cấp xã, tính
đến tháng 12/2016 - Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)
Qua số liệu thống kê cho thấy, đội ngũ CBCC cấp xã tỉnh
Quảng Nam có số lượng cơ bản đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý của địa phương.
2.1.2.2. Về trình độ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Tính đến tháng 12/2016, tổng hợp trình độ đội ngũ CBCC cấp
xã tỉnh Quảng Nam như sau:

11


đến tháng 12/2016 - Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)
Trình độ lý luận chính trị (Xem bảng 2.5)
Bảng 2.5. Tổng hợp trình độ lý luận chính trị của CBCC cấp xã tỉnh
Quảng Nam
Bậc đào tạo

Tổng số
5287

Cử nhân

Cao cấp

Trung cấp

Sơ cấp

Số lượng

10

300

4295

682

Tỷ lệ

0.19

60

Tỷ lệ

77.1

74.5

1.13

(Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng,chất lượng CBCC cấp xã, tính đến
tháng 12/2016 - Sở Nội vụ tỉnh Quảng Nam)

12


Nhìn chung, đội ngũ CBCC cấp xã đạt chuẩn về văn hóa,
chuyên môn, lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có năng
lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ chính trị, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, tiếng dân tộc thiểu số của CBCC cấp xã hiện nay chưa đảm
bảo tiêu chuẩn theo quy định. Tuy vậy, đa số CBCC cấp xã có tuổi đời
khá trẻ, sẽ là điều kiện thuận lợi để họ tham gia các khóa học tiếng dân
tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác.
2.2. Thực tiễn công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã ở
tỉnh Quảng Nam
2.2.1. Cơ sở pháp lý về đánh giá cán bộ, công chức
2.2.1.1. Các văn bản của Đảng, Nhà nước
- Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08-02-2010 của Bộ Chính

chức Tỉnh ủy Quảng Nam về việc kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh
giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên.
- Công văn số 4865/UBND-NC ngày 27-10-2015 của UBND
tỉnh Quảng Nam về việc tổ chức, triển khai thực hiện việc đánh giá,
phân loại CBCC, viên chức hằng năm theo quy định tại Nghị định số
56/2015/NĐ-CP ngày 09-6-2015 của Chính phủ.
- Hướng dẫn số 1024/HD-SNV ngày 06-11-2012 của Sở Nội
vụ tỉnh Quảng Nam về việc đánh giá và xếp loại cán bộ, công chức,
viên chức.
- Công văn số 1484/SNV-CCVC ngày 14-10-2016 về việc
đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.
2.2.2. Thực tiễn công tác đánh giá cán bộ, công chức cấp xã
tỉnh Quảng Nam
2.2.2.1. Quy trình đánh giá CBCC cấp xã hàng năm
Triển khai thực hiện quy định của cấp trên về đánh giá CBCC,
quy trình đánh giá CBCC cấp xã hàng năm bao gồm các bước:
Bước 1: CBCC tự đánh giá
14


Bước 2: Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức Hội nghị toàn thể
CBCC để đánh giá CBCC, cụ thể như sau:
Bước 3: Thông báo kết quả đánh giá, phân loại CBCC
2.2.2.2. Nội dung đánh giá CBCC cấp xã hàng năm
Từ năm 2012 đến năm 2014, nội dung đánh giá CBCC nói
chung và CBCC cấp xã nói riêng thực hiện theo Hướng dẫn số
1024/HD-SNV ngày 06-11-2012 của Sở Nội vụ Quảng Nam, gồm 3
nội dung sau:
- Phẩm chất chính trị.
- Đạo đức lối sống.

- Công tác đánh giá CBCC cấp xã hàng năm được thực hiện ở
244 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, qua khảo sát, tỉnh
Quảng Nam chưa ban hành hướng dẫn cụ thể về đánh giá CBCC cấp xã;
- Đối với các nội dung đánh giá CBCC cấp xã như hiện nay,
có 170/200 (85%) ý kiến được khảo sát cho rằng khi tiến hành đánh
giá CBCC thì nên chú trọng đến kết quả công tác trong năm là tiêu chí
hàng đầu và quan trọng nhất, làm nền tảng để đánh giá các nội dung
khác có liên quan.
- Khảo sát về các tiêu chí khó đánh giá CBCC thì có 90/200
(45%) ý kiến nêu về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ;
110/200 (55%) ý kiến nêu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
- Riêng đối với tiêu chí về thái độ phục vụ nhân dân thì đa số
các ý kiến của lãnh đạo xã cho rằng trong thực tế công tác, chỉ có công
chức tại Bộ phận một cửa là thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người
dân đến liên hệ công việc, vì vậy, nếu áp dụng để đánh giá cho tất cả
CBCC khác là không phù hợp.
2.2.3.2. Về phương pháp đánh giá
Có 85/200 (42.5%) ý kiến cho rằng phương pháp đánh giá
CBCC cấp xã như hiện nay là phù hợp, 110/200 (55%) ý kiến đề nghị
nên thay đổi phương pháp đánh một cách khoa học, cụ thể, sát với
16


thực tế như:
- Xây dựng thang điểm đánh giá theo từng vị trí công việc.
- Xây dựng bảng mô tả công việc đối với từng chức danh.
- Đánh giá CBCC trên cơ sở kết quả thực thi công việc.
- Lấy ý kiến của nhân dân, khách hàng về mức độ hài lòng đối
với quá trình giải quyết công việc của CBCC.
2.2.3.3. Về chủ thể đánh giá

Việc đánh giá CBCC cấp xã đã đạt được kết quả tích cực như:
Đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc trong đánh giá CBCC. Hệ
thống văn bản pháp luật về CBCC cấp xã và đánh giá CBCC ngày
càng được hoàn thiện…
Đánh giá CBCC cấp xã đã trở thành một công việc thường
xuyên, được tiến hành khách quan, dân chủ và tương đối toàn diện, thể
hiện tính tự phê bình và phê bình của tập thể đối với cá nhân một cách
thẳng thắn, chân thành, có trách nhiệm xây dựng.
2.3.4.2. Những hạn chế, tồn tại
Nội dung đánh giá còn dàn trải, chung chung, không tạo ra
động lực để khuyến khích CBCC làm việc.
Một số ít tập thể lãnh đạo chưa nghiêm túc tiến hành thảo luận
dân chủ, thẳng thắn phân tích những ý kiến, thông tin khác nhau để
đánh giá chính xác CBCC.
Phương pháp đánh giá vẫn chú trọng đến tư tưởng, lập
trường,… nên kết quả cuối năm CBCC nào cũng “hoàn thành hoặc
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” trong khi thực tế thì không đạt yêu cầu.
Mặt khác, về sử dụng kết quả đánh giá CBCC cho hoạt động
quản lý, kết quả đánh giá hàng năm hầu như không được sử dụng trực
tiếp và là căn cứ cho các đánh giá khác mà chỉ được lưu hồ sơ lý lịch
của CBCC và làm căn cứ để xác định các danh hiệu thi đua.
2.3.4.3. Nguyên nhân
Hiện nay, việc đánh giá CBCC cấp xã vẫn thực hiện theo quy
định pháp luật và văn bản hướng dẫn của cấp trên; chưa có văn bản
18


quy định riêng, chưa có bộ khung tiêu chí đánh giá CBCC;
Bên cạnh đó, cấp xã chưa chủ động xác định phương pháp
đánh giá riêng cho phù hợp với đặc thù công việc.

yêu cầu cải cách hành chính nhà nước
Đối với tỉnh Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 04NQ/TUđã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ từ các cấp ủy đến đội ngũ
cán bộ trong toàn tỉnh;
Các cấp ủy, các ngành, địa phương đã thể hiện quyết tâm cao
và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, thực hiện nghiêm túc;
Công tác cán bộ luôn đảm bảo nguyên tắc “Đảng thống nhất
lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ” đi đôi với phát
huy trách nhiệm của tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ
thống chính trị;
3.1.3. Việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã phải gắn với
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ cở đã tạo ra những
chuyển biến bước đầu trong lề lối làm việc của chính quyền cơ sở và
các CBCC nhà nước từ quan liêu, mệnh lệnh sang dân chủ hóa, sát
dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân;
Những mặc còn hạn chế như tỷ lệ cơ sở thực hiện tốt quy chế
dân chủ ở cơ sở còn thấp, nhiều cơ sở triển khai chưa tốt, làm hình
thức “đầu voi đuôi chuột”, bởi một số ít cơ sở tình hình phức tạp, cán
bộ có sai phạm, chưa triển khai quy chế.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng đánh giá
cán bộ, công chức cấp xã ở nước ta hiện nay
3.2.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đánh giá
cán bộ, công chức cấp xã
Tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng các phương pháp đánh giá
CBCC cấp xã
Để tạo tính công bằng, khoa học và tiêu chí đánh giá CBCC
20


được khách quan


chức danh, làm cơ sở cho việc sắp xếp bố trí và xây dựng quy hoạch,
kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ.
Thứ ba, cần trẻ hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, ưu tiên tuyển dụng
công chức xã là người ở địa phương,
Thứ tư, cần nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung,
phương pháp đào tạo, tập trung đào tạo đối tượng là cán bộ chủ chốt.
Thứ năm, tỉnh cần tăng cường kinh phí cho việc đào tạo, bồi
dưỡng CBCC cấp xã
Thứ sáu, bổ sung hoàn thiện quy chế, quy trình đánh giá, nhận
xét quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm,
giới thiệu ứng cử, thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ
Thứ bảy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý, điều hành và đánh giá chất lượng công việc của CB,CC.
3.2.4. Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác đánh giá cán
bộ, công chức cấp xã
Trước hết, cần nhận thức đúng và nhận thức một cách thống
nhất về tầm quan trọng của chính quyền cơ sở, vai trò và mối quan hệ
của nó trong hệ thống hành chính Nhà nước và trong mối quan hệ giữa
Nhà nước với nhân dân.
Cần nghiên cứu, tổng kết công tác quản lý, đánh giá cán bộ
công chức trong thời gian qua để đổi mới công tác quản lý, đánh giá cán
bộ tốt hơn tránh tình trạng xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của cấp xã.
Cần tổng kết đánh giá về cán bộ và công tác cán bộ một cách
thường xuyên. Thông qua đó phát hiện những nhân tố mới, những cách
làm mới trong công tác cán bộ.Đánh giá thực chất cán bộ và công tác
cán bộ, một mặt vừa tìm ra nguyên nhân, khâu quan trọng của vướng
mắc, khó khăn trong công tác cán bộ của từng cấp để có giải pháp tháo
gỡ, khắc phục khó khăn, phát huy những thành quả đạt được.
Mặt khác, có thể kiểm tra phẩm chất, năng lực của công chức

23


nông thôn…. Những hạn chế nêu trên khiến công tác đánh giá cán bộ,
công chức cấp xã trong những năm vừa qua chưa đạt được kết quả như
mong muốn.
Để xây dựng một nền hành chính thông suốt, minh bạch nhằm
từng bước chuyển từ một nền hành chính “cai trị” sang nền hành chính
“phục vụ”, lấy công dân và các tổ chức làm trung tâm, là đối tượng
phục vụ, là khác hàng mà các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải
cung cấp các dịch vụ hành chính một cách tốt nhất. Điều đó đồng
nghĩa với việc phải tiến hành đổi mới công tác cán bộ nói chung và đổi
mới phương pháp đánh giá CBCC nói riêng như kết luận Hội nghị
Chấp hành Trung ương lần thứ 9 khóa X: “Đánh giá cán bộ phải đảm
bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan,
trung thực, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả, chất lượng hoàn thành
nhiệm vụ làm thước đo để đánh giá cán bộ”.

24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status