BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐINH QUỐC TRIỀU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐINH QUỐC TRIỀU
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã ngành: 60.31.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN VĂN TÂM
Đà Nẵng - Năm 2014
1.2. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC NGÀNH CNTT................................................................. 21
1.2.1. Phát triển về số lượng nhân lực CNTT ......................................... 21
1.2.2. Nâng cao chất lượng NNL CNTT................................................. 22
1.2.3. Nâng cao động lực thúc đẩy người lao động ................................ 23
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá nhân lực công nghệ thông tin..................... 26
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC NGÀNH CNTT................................................................. 38
1.3.1. Sự phát triển kinh tế - xã hội......................................................... 38
1.3.2. Sự phát triển của ngành CNTT ..................................................... 40
1.3.3. Chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc........................................ 41
1.3.4. Chính sách phát triển nguồn nhân lực của chính quyền địa phương.... 42
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH CNTT THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH.. 43
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN
CNTT ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NNL CNTT CỦA TP.
QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH.......................................................... 43
2.1.1. Điều kiện tự nhiên......................................................................... 43
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình
Định......................................................................................................... 45
2.1.3. Phát triển của ngành CNTT thành phố Quy Nhơn ....................... 50
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NNL NGÀNH CNTT TẠI THÀNH
PHỐ QUY NHƠN, BÌNH ĐỊNH ........................................................... 56
2.2.1. Hiện trạng phát triển NNL CNTT................................................ 57
3.3.3. Đối với thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ........................... 110
KẾT LUẬN .......................................................................................... 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TT-TT
Bộ Thông tin – Truyền thông
BĐ
Bình Định
CNH – HĐH
Công nghiệp hoá – hiện đại hoá
CNTT
Công nghệ thông tin
CNTT - TT
Công nghệ thông tin – Truyền thông
CPĐT
Tên bảng
bảng
1.1
So sánh năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam và
Trang
31
một số nước trên thế giới 2010
1.2
Chiều cao và cân nặng trung bình của người thanh niên
33
Việt Nam so với tiêu chuẩn chung của WHO
2.1
Chỉ tiêu tăng trưởng cơ cấu GDP toàn tỉnh
47
2.2
Cơ cấu GDP theo khu vực
48
2.8
Trang thông tin tại các doanh nghiệp
61
2.9
Số liệu cán bộ chuyên trách CNTT từ 2007 – 2012
63
2.10
Thống kê các NNL CNTT hiện có tại Bình Định năm
65
2012
2.11
NNL toàn ngành CNTT-TT trên địa bàn thành phố năm
66
2012
3.1
Khoảng cách số của Bình Định so với cả nước
63
2.3
Số lượng NNL CNTT qua các năm
64
2.4
NNL CNTT hiện có tại Bình Định năm 2012
65
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
Tên hình vẽ
hình vẽ
Trang
2.1
Mô hình Trung tâm CNTT
52
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, Công nghệ thông tin là một lĩnh vực quan
trọng được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh
doanh… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Phát triển công nghệ
thông tin là chiến lược được ưu tiên trong chiến lược phát triển khoa học
công nghệ ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: Phát triển mạnh các
ngành công nghệ cao, nhất là CNTT, viễn thông, điện tử, tự động hoá. Chú
trọng phát triển công nghiệp phần mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc
độ tăng trưởng vượt trội. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính
trị về đầy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp phát triển
công nghiệp hoá – hiện đại hoá cũng đã chỉ rõ: “Công nghiệp CNTT phải trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn; việc ứng dụng CNTT rộng rãi trong mọi lĩnh
vực an ninh – quốc phòng; là một trong những cách đi tắt, đón đầu để thực
hiện CNH – HĐH đất nước”.
Để phát triển công nghệ thông tin phải có một nguồn nhân lực có trình
độ cao , có khả năng tiếp nhận và sử dụng thành thạo những tiến bộ của
khoa học công nghệ. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao về
công nghệ thông tin là một nhu cầu hết sức cần thiết. Chính từ yêu cầu bức
thiết đó mà Chỉ thị 58-CT/TW đã nhấn mạnh: “Phát triển NNL CNTT trở
thành một khâu then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc sử dụng và phát
triển CNTT”.
Muốn phát triển NNL phải nghiên cứu một cách toàn diện, từ việc phát
hiện, tạo nguồn, đào tạo nhân lực đến tuyển dụng, đãi ngộ, quản lý NNL, bồi
dưỡng và đào tạo lại… trong một hệ thống nhất đối với các giải pháp đồng bộ
và phù hợp.
2
Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW tỉnh Bình Định đã có những kết
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực
ngành công nghệ thông tin.
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành CNTT tại thành
phố Quy Nhơn, tỉnh Bình
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển NNL ngành
CNTT trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đến năm 2020.
6. Tổng quan tài liệu nguyên cứu
Phát triển NNL là một trong những đề tài được sự quan tâm của nhiều
người và đã được nghiên cứu ở nhiều nơi. Vấn đề thu hút nguồn nhân lực
CNTT ở Việt Nam là đề tài nghiên cứu khá mới mẻ. Trong các nghiên cứu
liên quan đến NNL CNTT, nổi bật có một số công trình nghiên cứu sau:
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước” của Nguyễn Thanh do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 2005
cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển nguồn nhân lực và
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đặc biệt, tạp chí lý luận chính trị của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh đã giành một chuyên mục: “Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá” cho những bài viết về chủ đề này.
Trong ngành Bưu chính Viễn thông có tác phẩm: “Quản trị nguồn nhân
lực trong doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông” của Th.s Hà Văn Hội, NXB
Văn hoá Thông tin 2002. cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về quản trị nguồn
nhân lực trong ngành Bưu chính Viễn thông và các giải pháp để đào tạo
nguồn nhân lực trong ngành kinh doanh đặc thù này.
4
Ở thể loại báo và tạp chí, có rất nhiều bài viết về đề tài Đào tạo và phát
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”của Phạm thành Nghị (chủ biên),
Trần Xuân Cầu, Trần Hữu Hân do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 2006.
Tác phẩm này đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng tính hiệu quả trong
việc quản lý nguồn nhân lực ở nước ta.
- Đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm phát triển kinh tế
xã hội ở TP.Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Lan, Đà Nẵng, 2007.
- PGS.TS. Ngô Doãn Vịnh (2011), “Bàn về các chỉ tiêu phân tích, đánh
giá chất lượng nhân lực Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 7. Tác giả
cho rằng chất lượng nhân lực là yếu tố quan trọng nhất đối với phát triển. Đặc
biệt tác giả gợi mở những điểm cần nghiên cứu khi chỉ ra các tiêu chí định
lượng để phân tích, đánh giá chất lượng nhân lực bao gồm: nhóm các chỉ tiêu
phản ánh trực tiếp (thể lực, trí lực, khả năng thông minh, khả năng ứng xử,
khả năng giao tiếp, khả năng thuyết trình); nhóm các chỉ tiêu chủ yếu phản
ánh gián tiếp chất lượng NNL (năng suất lao động, hiệu suất sử dụng đầu tư,
điện năng và đất đai, số năm đi học, chất lượng hệ thống giáo dục, số người
có học vấn)
- Đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho khu vực
hành chính công tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ, Trần Quang Triết, Đà
Nẵng, 2011.
- Đề tài “Phát triển công nghiệp tỉnh Bình Định trong tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Luận văn thạc sĩ, Lê Thị Thanh Trà, Hà
Nội, 2007.
- Đề tài “Giải pháp phát triển nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh
Bình Định trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Luận văn thạc sĩ, Trương
Quang Phong, Hà Nội 2001.
Nhìn chung từ những đề tài và các công trình nghiên cứu nêu trên đã
6
nghiên cứu về NNL ở các khía cạnh, phạm vi khác nhau. Các công trình đó
lực của quá trình phát triển, thì NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng
tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ở số lượng và
chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát
triển từ những năm giữa thế kỷ XX với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể
hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển.
Nội dung của nó không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa
đựng hàm ý rộng hơn. [9]
Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, NNL là tất cả kiến thức, kỹ năng và
năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
NNL là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tổng thể tiềm năng lao
động của con người. Theo Begg, Ficher và Dornbush, khác với nguồn lực vật
chất khác, NNL được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích
8
luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
NNL là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và
hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các
tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích luỹ kinh nghiệm nghề nghiệp
và vốn sống.
Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ những năm bắt đầu
công cuộc đổi mới. Điều này thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về NNL.
Có ý kiến cho rằng: NNL cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực,
phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể NNL hiện có thực tế
và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sang để tham gia phát triển kinh tế - xã hội
của một quốc gia hay một địa phương nào đó.
NNL là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái niệm nhân lực, NNL
là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần ( phẩm chất đạo đức, trình độ tri
nghiệp CNTT: Nhân lực cho ứng dụng CNTT; nhân lực cho đào tạo CNTT,
điện tử, viễn thông và người dân sử dụng cho các ứng dụng CNTT [5].
Nhân lực CNTT bao gồm những người đáp ứng được các điều kiện
sau đây:
+ Tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một chuyên ngành CNTT.
+ Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh
vực CNTT đòi hỏi phải có trình độ tương đương.
Và bao gồm 5 thành phần thuộc về nhân lực CNTT:
+ Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong các viện nghiên cứu, các trường
Đại học, Cao đằng…
+ Cán bộ kỹ thuật, công nghệ (kỹ thuật viên, kỹ sư, …) làm việc trong
các doanh nghiệp CNTT.
+ Các cá nhân thuộc tầng lớp xã hội yêu thích khoa học kỹ thuật, có sang
kiến cải tiến, ứng dụng CNTT vào sản xuất và đời sống.
10
+ Cán bộ quản lý các cấp (kể cả quản lý doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ
đạo công việc nghiên cứu phục vụ hoạch định các quyết sách, quyết định
quan trọng trong thẩm quyền của mình về lĩnh vực CNTT.
+ Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài
tại Việt Nam [28]
Tóm lại nhân lực CNTT là tập hợp những nhóm người tham gia vào
hoạt động CNTT với các chức năng nghiên cứu, sang tạo, giảng dạy, quản lý,
khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của
CNTT, của sự phát triển sản xuất và xã hội.
Trên cơ sở tổng hợp những khái niệm về nhân lực CNTT nêu trên, có thể
đưa ra khái niệm về nhân lực trong ngành CNTT trong phạm vi đề tài như
sau: Nhân lực trong ngành CNTT là toàn bộ tiềm năng lao động có thể tham
gia làm việc trong ngành CNTT mà trực tiếp nhất là những người tham gia
diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây.
* Vòng đời sản phẩm ngắn
Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có
vòng đời rất ngắn. Vòng đời của các sản phẩm CNTT rất ngắn, chỉ từ 3-4 năm
thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu [1].
* Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao
Phát minh và cải tiến thường xuyên là một trong những đặc điểm quan
trọng của ngành. Tuy nhiên chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của
ngành lại rất cao. Theo số liệu báo cáo của Sở TT-TT BĐ, chi phí nghiên cứu
và phát triển có thể chiếm đến 10% - 15% doanh thu hàng năm [24].
* Tính tích hợp cao
Ngày nay CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành
khác như cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử
làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển. Mạng viễn thông, mạng
12
truyền hình và mạng máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẻ thông tin, tài
nguyên của nhau và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn.
* Sự phát triển của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Thế giới CNTT trong những năm gần đây ghi nhận sự phát triển của
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, CNTT thế giới chia làm bốn
khu vực là Mỹ, Nhật, Châu Á – Thái Bình Dương và Tây Âu.
Đặc điểm của NNL CNTT
Ngành CNTT là ngành công nghệ cao, có một số đặc điểm sử dụng lao
động như sau:
- Nhân lực trình độ cao chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nhân lực sử dụng của
ngành CNTT, trong đó cao đẳng và đại học trở lên chiếm tỷ lệ 54%, trung học
chuyên nghiệp 29%.
- Nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực phần mềm có sự phát triển nhanh.
* NNL trẻ
Do ngành CNTT là ngành mới so với các ngành khác như chế tạo ô tô,
cơ khí, dệt và cho đến thời điểm hiện tại, CNTT mới chỉ bắt đầu phát triển ở
một số nước đang phát triển vì vậy mà ngành CNTT được xem là ngành công
nghiệp còn non trẻ. Bên cạnh đó, CNTT là ngành công nghệ cao, phát triển
liên tục vì vậy NNL CNTT chủ yếu là nhân lực trẻ. Ở Việt Nam, trên 50% lao
động CNTT tuổi dưới 40 [3].
* NNL có trình độ cao
Đặc điểm của ngành CNTT là ngành thường xuyên cải tiến và thay đổi
công nghệ do đó đội ngũ lao động trong ngành này đòi hỏi phải có trình độ
cao và luôn luôn được đào tạo cập nhật theo kịp sự phát triển của ngành. Ở
Việt Nam, năm 2008 có trên 80% lao động trong ngành công nghiệp phần
mềm và nội dung số có trình độ CNTT từ cao đẳng trở lên [3].
* NNL có tư duy toán học tốt
Nền tảng của CNTT dựa trên tư duy toán học, vì vậy, lao động trong
ngành CNTT đòi hỏi phải có tư duy toán học giỏi. Tại Việt Nam, nhiều cơ sở
đào tạo CNTT hiện vẫn duy trì khoa toán tin hay bộ môn toán tin.
14
* NNL năng động, sáng tạo và lòng say mê nghiên cứu
CNTT là ngành có tính tích hợp cao, bản thân ngành CNTT đã thâm
nhập vào hầu hết các ngành khác vì vậy lao động CNTT cũng không có biên
giới. Các lao động CNTT hầu như có mặt ở hầu hết các lĩnh vực từ nông
nghiệp, du lịch, văn hoá, dịch vụ đến công nghiệp.
Ngoài ra, với sự thay đổi liên tục của công nghệ, đòi hỏi các lao động
trong ngành CNTT phải có sự say mê với nghề nghiệp, thích ứng nhanh với
những công nghệ mới để nghiên cứu và sáng tạo không ngừng.
* NNL có năng suất lao động cao
Lao động CNTT có năng suất cao, tuy nhiên năng suất này lại rất khác
được hướng dẫn bằng tiếng Anh.
d. Yêu cầu của nguồn nhân lực trong ngành CNTT
- Nâng cao được năng lực, tài năng, khả năng làm việc nhóm: Nhân
lực CNTT là những người lao động có năng lực tiếp thu và vận dụng sáng tạo
các thành tựu trong lĩnh vực CNTT trong nước và thế giới; làm chủ công nghệ
hiện đại, tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh, thúc đẩy ứng dụng
nhanh các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Chính vì vậy họ rất cần được quan tâm, tạo điều kiện, được đào tạo, bồi
dưỡng, được tạo điều kiện tiếp thu những công nghệ, kiến thức mới một cách
kịp thời để bắt kịp những thay đổi về công nghệ trong lĩnh vực mình công tác
và phát huy được tài năng, sở trường. Muốn vậy họ phải không ngừng được
tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng rộng rãi các phương tiện kỹ thuật
CNTT hiện đại vào các quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc. Phần lớn
nhân lực CNTT xếp loại tốt nghiệp trung bình và khá, nhưng sau khi được
tuyển dụng vào các doanh nghiệp đều phải được đào tạo lại mới có thể theo
kịp các dự án đang triển khai.
- Trình độ ngoại ngữ: CNTT là ngành phát triển nhanh, kiến thức